Luận văn
Đề tài:"Phương hướng và biện pháp
chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ
trên địa bàn quận Cầu Giấy trong giai
đoạn hiện nay"
Nghiên cứu triết học
chợ là chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ, cho phép các tổ chức, cá nhân
tham gia đầu tư, xây dựng, kinh doanh chợ. UBND quận Cầu Giấy đã lên kế
hoạch và đề án để thực hiện việc chuyển đổi này. Tuy nhiên, việc triển khai có
liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, mới chỉ dừng lại ở giai đoạn thí điểm
bước đầu. Vì thế đòi hỏi chúng ta cần nhanh chóng có những biện pháp để tạo
môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức,
cá nhân đầu tư, kinh doanh chợ, từ đó làm cho việc chuyển đổi được triển khai
nhanh chóng trong thực tế.
Xuất phát từ thực tiến đó, em xin chọn đề tài "Phương hướng và biện
pháp chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy
trong giai đoạn hiện nay" làm đề tài nghiên cứu cho mình.
Mục đích của đề tài: Hệ thống các cơ sở lý luận về chợ và các mô hình tổ
chức quản lý chợ ở nước ta. Trên cơ sở phân tích thực trạng về phát triển và
quản lý chợ trên địa bàn quận Cầu Giấy, đưa ra phương hướng, giải pháp và
kiến nghị nhằm nhanh chóng chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ trên địa
bàn quận trong giai đoạn hiện nay.
Bố cục của đề tài bao gồm 3 chương:
- Chương I: Một số vấn đề lý luận về chợ và mô hình tổ chức quản lý chợ.
- Chương II: Thực trạng phát triển và tổ chức quản lý chợ trên đại bàn
quận Cầu Giấy hiện nay.
- Chương III: Phương hướng và biện pháp nhằm chuyển đổi mô hình tổ
chức quản lý trên đại bàn quận Cầu Giấy trong giai đoạn hiện nay.
Với trình độ còn hạn chế, đề tài hoàn thành có thể còn nhiều thiếu sót nhất
định, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và toàn thể các
bạn để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Mai Văn Bưu cùng các cô,
chú trong phòng Kinh tế - Kế hoạch quận Cầu Giấy đã tận tình giúp đỡ em hoàn
thành đề tài nghiên cứu này.
(1)
Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Từ điển Bách Khoa - 2003 (tr.138)
(2) Theo Đại Từ điển tiếng Việt - NXB Văn hoá Thông tin - 2004 (tr.155)
(2) Chợ đầu mối: là chợ có vai trò chủ yếu thu hút, tập trung lượng hàng
hoá lớn từ các nguồn sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế hoặc của ngành
hàng để tiếp tục phân phối tới các chợ và các kênh lưu thông khác.
(2) Điểm kinh doanh tại chợ: bao gồm quầy hàng, sạp hàng, ki-ốt, cửa hàng
được bố trí cố định trong phạm vi chợ theo thiết kế xây dựng chợ, có diện tích
quy chuẩn tối thiểu là 3 m
2
/điểm.
Từ những điểm hội tụ chung của nhiều định nghĩa, ta có thể rút ra kết luận:
Chợ là loại hình kinh doanh thương mại được hình thành và phát triển mang
tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông
người mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu
cầu của sản xuất, lưu thông và đời sống tiêu dùng xã hội và hoạt động theo các
chu kỳ thời gian nhất định.
1.2. Đặc trưng của chợ:
Chợ có những đặc trưng sau:
- Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng để mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch
vụ của dân cư, ở đó bất cứ ai có nhu cầu đều có thể đến mua, bán và trao đổi
hàng hoá, dịch vụ với nhau.
- Chợ được hình thành do yêu cầu khách quan của sản xuất và trao đổi
hàng hoá, dịch vụ của dân cư, chợ có thể được hình thành một cách tự phát hoặc
do quá trình nhận thức tự giác của con người. Vì vậy trên thực tế có nhiều chợ
đã được hình thành từ việc quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ của
các cấp chính quyền và các ngành quản lý kinh tế kỹ thuật. Nhưng cũng có rất
nhiều chợ được hình thành một cách tự phát do nhu cầu sản xuất và trao đổi
hàng hoá của dân cư, chưa được quy hoạch, xây dựng, tổ chức, quản lý chặt chẽ.
- Các hoạt động mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ tại chợ thường được
thiểu số vẫn còn hoạt động trao đổi bằng hiện vật tại chợ), các quầy, sạp có quy
mô nhỏ lẻ, manh mún. Nhưng ở các chợ nông thôn thể hiện đậm đà bản sắc
truyền thống đặc trưng ở mỗi địa phương, của các vùng lãnh thổ khác nhau.
2.2. Theo tính chất mua bán:
Dựa theo tiêu thức này, ta có thể phân chia thành hai loại là chợ bán buôn
và bán lẻ.
2.2.1. Chợ bán buôn:
Là các chợ lớn, chợ trung tâm, chợ có vị trí là cửa ngõ của thành phố, thị
xã, thị trấn, có phạm vi hoạt động rộng, tập trung vói khối lượng hàng hoá lớn.
Hoạt động mua bán chủ yếu là thu gom và phân luồng hàng hoá đi các nơi. Các
chợ này thường là nơi cung cấp hàng hoá cho các trung tâm bán lẻ, các chợ bán
lẻ trong và ngoài khu vực, nhiều chợ còn là nơi thu gom hàng cho xuất khẩu.
Các chợ này có doanh số bán buôn chiếm tỷ trọng cao (trên 60%), đồng thời vẫn
có bản lẻ nhưng tỷ trọng nhỏ.
2.2.2. Chợ bán lẻ:
Là những chợ thuộc phạm vi xã, phường (liên xã, liên phường), cụm dân
cư, hàng hoá qua chợ chủ yếu để bán lẻ, phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng.
2.3. Theo đặc điểm mặt hàng kinh doanh:
Có chợ tổng hợp và chợ chuyên doanh.
2.3.1. Chợ tổng hợp:
Là chợ kinh doanh nhiều loại hàng hoá thuộc nhiều ngành hàng khác nhau.
Trong chợ tồn tại nhiều loại mặt hàng như: hàng tiêu dùng (quần áo, giày dép,
các mặt hàng lương thực thực phẩm, hàng gia dụng…), công cụ lao động nông
nghiệp (cuốc, xẻng, liềm búa…), cây trồng, vật nuôi…, chợ đáp ứng toàn bộ các
nhu cầu của khách hàng. Hình thức chợ tổng hợp này thể hiện khái quát những
đặc trưng của chợ truyền thống, và ở nước ta hiện nay loại hình này vẫn chiếm
ưu thế về số lượng cũng như về thời gian hình thành và phát triển.
2.3.2. Chợ chuyên doanh:
Là loại chợ chuyên kinh doanh một mặt hàng chính yếu, mặt hàng này
thường chiếm doanh số trên 60% đồng thời vẫn có bán một số mặt hàng khác,
2.5. Theo tính chất và quy mô xây dựng:
Theo tiêu chí này, chợ được chia thành chợ kiên cố, chợ bán kiên cố và chợ
tạm:
2.5.1. Chợ kiên cố:
Là chợ được xây dựng hoàn chỉnh với đủ các yếu tố của một công trình
kiến trúc, có độ bền sử dụng cao (thời gian sử dụng trên 10 năm). Chợ kiên cố
thường là chợ loại 1 có diện tích đất hơn 10.000 m
2
và chợ loại 2 có diện tích đất
từ 6000-9000 m
2
. Các chợ kiên cố lớn thường nằm ở các tỉnh, thành phố lớn, các
huyện lỵ, trị trấn và có thời gian tồn tại lâu đời, trong một thời kỳ dài và là trung
tâm mua bán của cả vùng rộng lớn.
2.5.2. Chợ bán kiên cố:
Là chợ chưa được xây dựng hoàn chỉnh. Bên cạnh những hạng mục xây
dựng kiên cố (tầng lầu, cửa hàng, sạp hàng) còn có những hạng mục xây dựng
tạm như lán, mái che, quầy bán hàng…, độ bền sử dụng không cao (dưới 10
năm) và thiếu tiện nghi. Chợ bán kiên cố thường là chợ loại 3, có điện tích đất
3000-50000 m
2
. Chợ này chủ yếu phân bổ ở các huyện nhỏ, khu vực thị trấn xa
xôi, chợ liên xã, liên làng, các khu vực ngoài thành phố lớn.
2.5.3. Chợ tạm:
Là chợ mà những quầy, sạp bán hàng là những lều quán được làm có tính
chất tạm thời, không ổn định, khi cần thiết có thể dỡ bỏ nhanh chóng và ít tốn
kém. Loại chợ này thường hay tồn tại ở các vùng quê, các xã, các thôn, có chợ
được dựng lên để phục vụ trong một thời gian nhất định (như tết, lễ hội…).
3. Vai trò của chợ trong nền kinh tế - xã hội nước ta hiện nay
Trong những năm qua, mạng lưới chợ ở nước ta đóng vai trò rất quan trọng
Sự hình thành chợ kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề sản
xuất. Đây chính là tiền đề hội tụ các dòng người từ mọi miền đất nước tập trung
để làm ăn, buôn bán. Chính quá trình này làm xuất hiện các trung tâm thương
mại và không ít số đó trở thành những đô thị sầm uất.
3.2. Về giải quyết việc làm
Chợ ở nước ta đã giải quyết được một số lượng lớn việc làm cho người lao
động. Hiện nay trên toàn quốc có hơn 2,3 triệu người lao động buôn bán trong
các chợ và số người tăng thêm có thể tới 10%/năm.
Nếu mỗi người trực tiếp buôn bán có thêm 1 đến 2 người giúp việc (phụ
việc bán hàng, tổ chức nguồn hàng để đưa về chợ, đưa hàng tới các mối tiêu thụ
theo yêu cầu của khách…) thì số người lao động có việc tại chợ sẽ gấp đôi, gấp
ba lần số lượng người chỉ buôn bán ở chợ, và như thế chợ giải quyết được một
số lượng lớn công việc cho người lao động khi hoạt động.
3.3. Về việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Có thể nói, chợ là một bộ mặt kinh tế - xã hội của một địa phương và là nơi
phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của một vùng
dân cư. Tính văn hoá ở chợ được thể hiện rõ nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng
sâu, vùng xa.
- Đối với người dân: Đồng bào đến chợ ngoài mục tiêu mua bán còn lấy
chợ làm nơi giao tiếp, gặp gỡ, thăm hỏi người thân, trao đổi công việc, kể cả
việc dựng vợ gả chồng cho con cái. Chợ còn là nơi hò hẹn của lứa đôi, vì vậy
người dân miền núi thường gọi là đi "chơi chợ" thay cho từ đi chợ mua sắm như
là người dưới xuôi thường gọi. Các phiên chợ này thường tồn tại từ rất lâu đời,
và nó là những bản sắc văn hoá vô cùng đặc trưng của các dân tộc ở nước ta.
- Đối với chính quyền: ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa chợ là địa
điểm duy nhất hội tụ đông người. Tại chợ có đại diện của các lứa tuổi, tất cả các
thôn bản và các dân tộc. Vì thế, đã từ lâu, Chính quyền địa phương đã biết lấy
chợ là nơi phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước, là nơi tuyên truyền cảnh giác và đấu tranh với những phần tử xuyên
tạc đường lối của Đảng. Từ phong trào kế hoạch hoá gia đình đến kỹ thuật chăm
tổ chức bảo đảm công tác phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi trường, an ninh
trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ; xây dựng Nội quy của chợ trình
Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phân cấp quản lý chợ; tổ
chức thực hiện Nội quy chợ và xử lý các vi phạm về Nội quy chợ; điều hành chợ
hoạt động và tổ chức phát triển các hoạt động tại chợ; tổng hợp tình hình hoạt
động kinh doanh của chợ và báo cáo định kỳ cho các cơ quan quản lý Nhà nước
theo hướng dẫn của Bộ Thương mại.
1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban quản lý chợ:
Theo thông tư số 06/2003/TT-BTM ngày 15 tháng 8 năm 2003 hướng dẫn
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Ban quản lý chợ, Ban quản lý
chợ có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
quản lý
ngành
hàng
Tổ kiểm
định số
lượng
chất
lượng
Tổ cung
cấp
thông
tin thị
trường
Tổ
y tế
Tổ trông
giữ bảo
quản tài
sản
- Trình Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo phân cấp quản lý chợ
quyết định:
Phê duyệt Phương án sử dụng địa điểm kinh doanh và bố trí, sắp xếp các
ngành nghề kinh doanh tại chợ.
Quy định cụ thể việc sử dụng, thuê, thời hạn với các biện pháp quản lý
điểm kinh doanh tại chợ.
Phê duyệt Nội quy chợ.
Phê duyệt Phương án bảo đảm Phòng cháy chữa cháy, vệ sinh môi
trường, an ninh trật tự và an toàn thực phẩm trong phạm vi chợ.
Phê duyệt Kế hoạch sửa chữa lớn, nâng cấp cơ sở vật chất và phát triển
Ban quản lý chợ có Trưởng ban và có một đến hai Phó trưởng ban. Trưởng
ban, Phó trưởng ban do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định
việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng và kỷ luật.
Trưởng Ban quản lý chợ chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân cấp có
thẩm quyền về toàn bộ hoạt động của chợ và của Ban quản lý chợ. Phó trưởng
ban có trách nhiệm giúp trưởng ban và chịu trách nhiệm trước Trưởng ban thực
hiện một hoặc một số nhiệm vụ do Trưởng ban phân công.
Căn cứ tính chất, đặc điểm, khối lượng công việc và khả năng tài chính,
Trưởng ban quản lý chợ quyết định việc tổ chức các bộ phận chuyên môn
nghiệp vụ giúp việc quản lý, điều hành chợ hoạt động và tổ chức các dịch vụ tại
chợ; ký hợp đồng tuyển dụng lao động, các hợp đồng khác với các cơ quan,
doanh nghiệp về đảm bảo vệ sinh môi trường, phòng cháy chữa cháy, an ninh
trật tự… trong phạm vi chợ theo quy định của pháp luật.
1.4. Các khoản thu từ hoạt động của chợ
Ban quản lý chợ được thu các khoản sau:
1. Thu về cho thuê, sử dụng địa điểm kinh doanh tại chợ; cung cấp dịch vụ,
hàng hoá:
- Thu tiền thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ theo hợp đồng sử dụng,
thuê điểm kinh doanh;
- Thu từ việc cung cấp các dịch vụ bốc xếp hàng hoá, kho bãi để lưu giữ
hàng hoá, dịch vụ bảo vệ theo hợp đồng cụ thể và các dịch vụ khác;
- Thu khác: Thu được trích để lại theo hợp đồng uỷ nhiệm thu (thu phí, thu
tiền điện, nước và các khoản có liên quan đến hoạt động kinh doanh tại chợ); thu
tiền phạt, tiền bồi thường hợp đồng (nếu có) đối với các tổ chức, cá nhân tham
gia kinh doanh tại chợ do vi phạm các quy định trong hợp đồng kinh tế ký kết
với Ban quản lý chợ.
2. Các loại phí theo quy định của Pháp lệnh Phí và lệ phí ngày 28 tháng 8
năm 2001, bao gồm:
- Phí chợ;
- Phí trông giữ xe;
- Chi cho các hoạt động cung ứng dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, khấu hao tài
sản cố định).
- Chi khác.
Ban quản lý chợ được sử dụng số thu để chi các khoản theo quy định, số
thu còn lại nộp ngân sách Nhà nước theo quy định phân cấp quản lý ngân sách
hiện hành.
1.6. Quyết toán các khoản thu, chi hoạt động của Ban quản lý chợ
- Hàng năm, Ban quản lý chợ xây dựng dự toán, lập báo cáo quyết toán
thu, chi kinh phí hoạt động trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo sự phân
cấp quản lý chợ.
- Ban quản lý chợ thực hiện công tác kế toán, thống kê và báo cáo tài
chính theo quy định của Nhà nước về chế độ kế toán, thống kê áp dụng cho các
đơn vị hành chính sự nghiệp.
2. Tổ chức quản lý chợ theo mô hình doanh nghiệp (Doanh nghiệp kinh doanh
khai thác và quản lý chợ)
2.1. Khái niệm:
Để hiều được doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ là gì trước
hết cần phải định nghĩa khái niệm doanh nghiệp.
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là
thực hiện các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp là một danh từ chung để chỉ
các đơn vị kinh doanh thuộc các loại hình khác nhau như doanh nghiệp Nhà
nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp tác xã, công ty, doanh nghiệp
vừa và nhỏ…
Theo Luật doanh nghiệp được Quốc hội khoá X thông qua năm 1999 thì
doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn
định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực
hiện các hoạt động kinh doanh.
Vậy tổ chức quản lý chợ theo mô hình doanh nghiệp (doanh nghiệp kinh
doanh, khai thác và quản lý chợ) là gì?
Ta coi chợ như một tổ chức hoạt động kinh doanh bình thường, các công
2.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của doanh nghiệp kinh doanh, khai thác và quản lý
chợ
Doanh nghiệp kinh doanh, khai thác và quản lý chợ là đơn vị kinh tế hoạt
động theo Luật doanh nghiệp và các văn bản quy định của pháp luật, có trách
nhiệm và quyền hạn tổ chức thực hiện các quy định dưới sau:
- Được tổ chức kinh doanh các dịch vụ tại chợ trong phạm vi doanh
nghiệp quản lý.
Giám đốc
Phó Giám đốc Phó Giám đốc
Phòng
Kinh doanh
Phòng
Kế toán
Phòng Hành
chính - tổ chức
Phòng
Quản lý chợ
Đội
bốc
xếp
Các
tổ
dịch
vụ
Tổ
kiểm
tra
Tổ
cho các cơ quan quản lý Nhà nước theo hướng dẫn của Bộ Thương mại.
2.3. Các khoản thu từ hoạt động chợ
Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ được thu các khoản
giống như Ban quản lý chợ, bao gồm:
1. Thu về cho thuê, sử dụng địa điểm kinh doanh tại chợ; cung cấp dịch vụ,
hàng hoá:
- Thu tiền thuê, sử dụng điểm kinh doanh tại chợ theo hợp đồng sử dụng,
thuê diểm kinh doanh.
- Thu từ việc cung cấp các dịch vụ bốc xếp hàng hoá, kho bãi để lưu giữ
hàng hoá, dịch vụ bảo vệ theo hợp đồng cụ thể và các dịch vụ khác.
- Thu khác: Thu được trích để lại theo hợp đồng uỷ nhiệm thu (thu phí, thu
tiền điện, nước và các khoản có liên quan đến hoạt động kinh doanh tại chợ); thu
tiền phạt, tiền bồi thường hợp đồng (nếu có) đối với các tổ chức, cá nhân tham
gia kinh doanh tại chợ do vi phạm các quy định trong hợp đồng kinh tế ký kết
với Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ.
2. Các loại phí theo quy định của Pháp lệnh Phí và lệ phí ngày 28 tháng 8
năm 2001, bao gồm:
- Phí chợ.
- Phí trông giữ xe.
- Phí vệ sinh.
Mức thu các loại phí nêu trên thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng dẫn chung của Bộ
Tài chính.
2.4. Quản lý, sử dụng các khoản thu, chi ở chợ:
- Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ được thu các khoản
thu nêu trên.
- Doanh nghiệp kinh doanh khai thác và quản lý chợ phải xây dựng kế
hoạch kinh doanh và phương án tài chính cho hoạt động của mình. Việc xây
dựng phương án tài chính dựa trên cơ sở các khoản thu để sử dụng chi cho các
mục đích như hoàn trả vốn đầu tư xây dựng chợ, các chi phí cần thiết cho hoạt
Khi công tác quản lý chợ được thực hiện một cách chuyên nghiệp, mọi hoạt
động của chợ đều được lên kế hoạch một cách hợp lý, hệ thống hạch toán kinh
doanh có thể cho biết kết quả của quá trình hoạt động của chợ, từ đó có thể đưa
ra những phương án hiệu quả để xử lý và khắc phục. Các hoạt động của chợ sẽ
chủ động hơn khi chúng ta nắm bắt được quy trình quản lý chợ một cách hợp lý
(như các khâu: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo, kiểm tra và đánh giá
tổng kết…)
Nói tóm lại, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được một hệ thống quản lý ở
các chợ trong nước, mỗi chợ phải có một hình thức quản lý phù hợp thì nói mới
có thể hoạt động hiệu quả và có thể phát triển được trong tương lai.
III. Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở một số nơi ở nước ta
Trong bối cảnh chợ phải đối đầu cạnh tranh gay gắt với các kênh bán lẻ
khác như siêu thị, cửa hàng và các đội quân bán hàng di động, nếu không theo
kịp nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng, mô hình chợ sẽ bị thu hẹp dần. Để vực
dậy hoạt động chợ, chuyển đổi mô hình tổ chức quản lý chợ là biện pháp khả thi
mà một số nơi đang tiến hành.
1. Kinh nghiệm tổ chức quản lý chợ ở Thành phố Hồ Chí Minh: tư nhân quản lý
chợ.
Mặc dù chợ là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng thiết
yếu phục vụ cho đời sống hàng ngày của người người dân, nhưng nhắc đến chợ
nhiều người tỏ ra rất ngán ngẩm, đó là do chuyện mất vệ sinh môi trường, lối đi
thì nhỏ hẹp và lầy lội, thêm nữa là vấn nạn tiểu thương nói thách, cân thiếu và
vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Tình trạng chợ dơ bẩn, nhếch nhác có thể nói
là rất nhiều, nhất là các loại chợ tạm, chợ cóc. Do vậy, người dân thường chọn
cách đi siêu thị, dù giá có nhỉnh hơn chút ít nhưng mua sắm thoải mái và sạch
sẽ.
Theo Báo cáo của Sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh, hiện thành phố
có khoảng 120 chợ chưa phù hợp với quy hoạch (chưa kể các chợ tự phát) nằm
rải rác ở các Quận như quận Gò Vấp, quận Bình Thạnh, quận 8… Nhiều chợ
không có bãi giữ xe hoặc họp chợ gần ngay lòng lề đường, gây kẹt xe, mất trật
trang chợ, thuê nhân viên đều do chợ tự lo, không phải ngân sách cấp.
Còn đối với chọ Tân Hương (quận Tân Bình) đơn vị trúng thầu là Hợp tác
xã Tân Tiến. Khi chợ còn thuộc sự quản lý của phường, việc thu chi cũng không
cân đối đủ, huống gì chuyện sửa chữa chợ, dẫn đến tình trạng chợ xuống cấp,
tiểu thương và dân cư kêu ca. Đến nay, ngoài việc nộp ngân sách Nhà nước mỗi
năm chợ bỏ ra từ 50-60 triệu đồng để duy tu, sửa chữa quầy sạp.
Tư nhân trực tiếp đứng ra quản lý được chủ động hoàn toàn vấn đề tài
chính nhưng vẫn theo chủ trương của Nhà nước, được Nhà nước theo dõi và hỗ
trợ nên hiệu quả sẽ cao hơn quản lý theo kiểu bao cấp. Một khi tư nhân tự bỏ
vốn và đứng ra quản lý thì họ sẽ tìm ra phương án kinh doanh tốt nhất để thu
được lợi nhuận cho mình, nếu không họ sẽ bị phá sản.