Nghiên cứu triết học
Đ
ề tài: " CÔNG BẰNG XÃ HỘI, TRÁCH NHIỆM XÃ
HỘI VÀ
Đ
OÀN KẾT XÃ HỘI TRONG SỰ NGHIỆP
Đ
ỔI MỚI Ở VIỆT NAM " CÔNG BẰNG XÃ HỘI, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ ĐOÀN KẾT XÃ HỘI
phát triển chung của xã hội, thì xã hội đó sớm muộn cũng sẽ dẫn đến
tình trạng mâu thuẫn, mất đoàn kết giữa các giai cấp, tầng lớp và
nhóm dân cư. Vì lẽ đó, công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn
kết xã hội là những vấn đề rất quan trọng và có mối quan hệ mật
thiết với nhau.
Nhờ sự tiến bộ vượt bậc của khoa học và công nghệ mà thế giới của
chúng ta ngày càng văn minh hơn về vật chất, ngày càng “phẳng
hơn” (theo cách nói của Thomas L.Friedman trong cuốn sách Thế
giới phẳng). Tuy nhiên, thế giới của chúng ta vẫn chưa phải là một
thế giới hoàn toàn nhân văn, vì bạo lực và chiến tranh còn đang
hoành hành ở nhiều nơi. Hầu như ngày nào trên các phương tiện
thông tin đại chúng, chúng ta cũng nghe thấy người ta nói đến tình
trạng bạo lực và chiến tranh ở nơi này hay nơi khác trên thế giới.
Tình trạng đau lòng đó đòi hỏi nhân loại phải chung sức tìm ra các
giải pháp thúc đẩy sự tiến bộ về công bằng xã hội, trách nhiệm xã
hội và đoàn kết xã hội.
Đối với Việt Nam, công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết
xã hội luôn được coi là mục tiêu và động lực của sự phát triển xã
hội. Việt Nam tuy đã đạt được nhiều tiến bộ trong phát triển, song
cũng đang đối mặt với nhiều vấn đề trong việc thực hiện công bằng
xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội.
2. Công bằng xã hội
Công bằng xã hội là khát vọng từ ngàn đời nay của nhân dân thế giới
nói chung và của nhân dân Việt Nam nói riêng. Đó cũng là một
trong những mục tiêu phấn đấu xuyên suốt của Đảng, Nhà nước và
nhân dân Việt Nam. Trong thời kỳ phong kiến và thuộc địa, Việt
Nam chưa bao giờ có sự công bằng, vì chế độ phong kiến và thuộc
địa, về bản chất, là chế độ người bóc lột người. Tình trạng bất công
bằng xã hội ở Việt Nam có lúc nghiêm trọng đến mức làm cho hàng
triệu người bị chết đói vào năm 1945. Nhờ giương cao ngọn cờ công
Tiếp tục tinh thần đó, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển:
tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, y tế, giáo dục…, giải
quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực
hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh
tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và
thông qua phúc lợi xã hội”(2).
Do thực hiện nguyên tắc phân phối “theo kết quả lao động và hiệu
quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các
nguồn lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã
hội”, cho nên Việt Nam đã xoá bỏ đáng kể sự bất công do phân phối
bình quân. Việc xoá bỏ sự bất công này là một nguyên nhân cơ bản
đưa đến những thành công của Việt Nam về kinh tế và xã hội, được
cộng đồng thế giới thừa nhận. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục
với tốc độ cao. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được nhiều tiến bộ
về văn hoá và xã hội: đời sống của đa số nhân dân được cải thiện, tỷ
lệ đói nghèo giảm nhanh chóng. Trong thời kỳ từ năm 1991 đến năm
2005, tỷ lệ hộ nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc tế giảm từ 58% xuống
25%, xã hội không có sự phân cực gay gắt, giáo dục và đào tạo tiếp
tục phát triển và được đầu tư nhiều hơn, trình độ dân trí được nâng
lên, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân đạt nhiều kết
quả, tuổi thọ trung bình của dân số tăng từ 67,8 (năm 2000) lên 71,5
(năm 2005), chính trị và xã hội ổn định(3). So với thời kỳ trước đổi
mới, Việt Nam đã tiến được một quãng đường dài để đến mục tiêu
công bằng xã hội.
Bên cạnh những thành công đó, Việt Nam cũng đang đối mặt với
nhiều vấn đề xã hội. Tình trạng bất công bằng xã hội vẫn tồn tại do
tham nhũng. Điều đó là mầm mống gây ra sự bất ổn định xã hội.
Ngoài tham nhũng, tình trạng bất công bằng xã hội còn có nguyên
tiêu của sự phát triển xã hội mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đang
phấn đấu.
XEM TIẾP>>>
CÔNG BẰNG XÃ HỘI, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ ĐOÀN KẾT XÃ
HỘI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM (tiếp theo)
TRẦN ĐỨC CƯỜNG (*)
3. Trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm, đó là năng lực của con người ý thức được những hậu quả do
hành động của mình đưa lại. Cụ thể hơn, đó là năng lực xác định được lợi
ích hoặc tác hại đối với người khác, đối với xã hội của hành động. Trong
trường hợp như vậy, chủ thể của hành động hoạt động có trách nhiệm làm
cho hành động hoặc hoạt động của mình có ích đối với xã hội. Trách nhiệm
cũng thể hiện trong trường hợp những hoạt động không phù hợp với lợi ích
xã hội, chẳng hạn, với trật tự xã hội, với pháp chế hoặc đạo đức xã hội.
Trong trường hợp này, chủ thể phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đối
với lợi ích xã hội do hoạt động của mình gây ra. Như thế, trách nhiệm bao
hàm cả quyền của xã hội đòi hỏi hoặc trừng phạt các thành viên của mình
tuỳ theo hành vi của họ. Trách nhiệm không chỉ bao hàm đòi hỏi của xã hội
đối với cá nhân, mà còn bao hàm đòi hỏi của cá nhân, tức là quyền của cá
nhân, đối với xã hội. Cụ thể hơn, nếu cá nhân có nghĩa vụ, có trách nhiệm đối
với xã hội thì xã hội cũng có nghĩa vụ, có trách nhiệm đối với cá nhân. Nội
dung cụ thể của các nghĩa vụ, các trách nhiệm này bị quy định bởi trình độ phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trong những thời đại lịch sử
nhất định.
Như vậy, về thực chất, trách nhiệm được sinh ra từ quyền và nghĩa vụ của cá
nhân đối với xã hội và của xã hội đối với cá nhân. Nói đến quyền và nghĩa
người khác, đối với xã hội. Như vậy, việc giải quyết một cách hợp lý quan
hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội, đặc biệt là lợi ích kinh tế, sẽ không chỉ làm
tăng thêm sự quan tâm của con người tới hoạt động thực hiện lợi ích cá
nhân, mà còn làm tăng thêm sự quan tâm của họ tới lợi ích xã hội, nghĩa là
gia tăng trách nhiệm xã hội của con người.
Với việc Việt Nam chuyển sang thực hiện kinh tế thị trường, những điều
kiện thuận lợi mới đã được tạo ra cho việc giải quyết hợp lý quan hệ lợi ích
giữa cá nhân và xã hội. Hơn thế, điều đó còn làm cho việc giải quyết quan hệ
lợi ích giữa cá nhân và xã hội được nâng lên một trình độ mới. Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay với “nhiều hình
thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước cùng với
kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc
dân”. Và, việc “thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động,
hiệu quả kinh tế đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác
và thông qua phúc lợi xã hội”(5) đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự
thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; bởi nó thúc đẩy sự phát
triển kinh tế, làm gia tăng của cải xã hội cũng như thu nhập của người lao
động trong điều kiện mới. Sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã
hội với nội dung cụ thể và thích ứng với điều kiện mới như vậy đã và đang
kích thích sự quan tâm tự giác, tự nguyện của con người đối với việc thực
hiện lợi ích chung của xã hội, nghĩa là làm gia tăng và phong phú trách
nhiệm xã hội của con người.
Trách nhiệm xã hội của con người được thể hiện ở chỗ ý thức được và thực
hiện được những đòi hỏi của xã hội, những đòi hỏi này mang tính tất yếu
lịch sử. Việc ý thức sâu sắc tính tất yếu lịch sử thông qua sự lĩnh hội các yêu
cầu xây dựng xã hội sẽ cho phép con người quyết định và lựa chọn các hành
động một cách tự do hơn và do đó, có trách nhiệm hơn. Chính vì vậy, trong
quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn đề cao và tăng cường
công tác giáo dục tư tưởng và chính trị cho quần chúng nhân dân. Sự nghiệp
đổi mới đất nước, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của
đa số nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham
gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước”(6).
Như đã nêu, trách nhiệm phản ánh mối quan hệ qua lại giữa cá nhân với xã
hội, giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội. Bởi
thế, vấn đề không chỉ là ở chỗ đẩy mạnh dân chủ và đề cao trách nhiệm của
quần chúng nhân dân. Để có thể xây dựng một xã hội dân chủ còn phải “đề
cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước đối với nhân dân”(7). Nếu
không thấy được sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện đó của
trách nhiệm thì có thể làm cho một số cá nhân chỉ biết đến quyền hạn của
mình và chỉ muốn dùng quyền hạn đó phục vụ lợi ích riêng. Tình trạng “dân
chủ ở nhiều nơi bị vi phạm, kỷ cương phép nước chưa nghiêm. Quan liêu,
tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng”(8) trong thời gian qua cho thấy, sự
cần thiết phải nâng cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các
cán bộ, viên chức nhà nước đối với đất nước, nhân dân. Hiến pháp nước
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi rõ: “Nhà nước đảm bảo và
không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân”(9), “các cơ
quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ
phục vụ nhân dân”(10). Cũng như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam “chủ
trương xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công
chức phải thực sự là công bộc của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân
dân”(11). Đó chính là sự khẳng định và nhấn mạnh trách nhiệm của các tổ
chức Đảng, Nhà nước, cán bộ, công chức đối với nhân dân. Điều đó cũng đặt
ra vấn đề nâng cao trách nhiệm cho cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh
đạo kinh tế, khoa học, công nghệ,… trong điều kiện hiện nay. Việc đổi mới
đất nước, phát triển kinh tế, xã hội phụ thuộc nhiều vào hoạt động, tài năng
và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Nếu một người lao động bình
thường thiếu trách nhiệm trong cương vị của mình thì sẽ gây ra hậu quả
trong một phạm vi nhất định. Nhưng nếu điều đó xảy ra với cán bộ lãnh đạo
thì tác hại sẽ lớn hơn rất nhiều. Vì vậy, Đảng và Nhà nước đòi hỏi một cách
tình trạng khủng hoảng, một bộ phận nhân dân giảm sút lòng tin đối với
Đảng và Nhà nước, nhiều người đã rời bỏ đất nước ra đi.
Trong tình hình đó, Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới
toàn diện đất nước. Đại hội VI thực sự là một mốc quan trọng, tạo ra một
bước chuyển biến căn bản trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước,
trong việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Bốn bài học lịch
sử mà Đại hội VI của Đảng chỉ ra đã thấm đượm sâu sắc tinh thần đại đoàn
kết dân tộc, trong đó nổi bật lên là bài học “lấy dân làm gốc” (với ý nghĩa
rằng nền tảng của xã hội, của chế độ là lực lượng đoàn kết của nhân dân, động
lực phát triển của đất nước là sức mạnh đoàn kết toàn dân, mục tiêu phấn đấu
của Đảng và Nhà nước là phục vụ nhân dân) .
Đường lối đổi mới đã khởi đầu cho một thời kỳ mới xây dựng và củng cố
khối đại đoàn kết dân tộc. Đó là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần; coi
trọng lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động; liên kết và khai thác
mọi tiềm năng của mọi tầng lớp nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc; quan tâm nhiều hơn đến “chính sách giai cấp (bao gồm chính
sách đối với mỗi giai cấp và chính sách xử lý mối quan hệ giữa các lợi ích
của giai cấp) và chính sách của dân tộc”; nhấn mạnh việc đặt con người vào
vị trí trung tâm của chính sách kinh tế - xã hội; “có kế hoạch chủ động xây
dựng cơ cấu giai cấp xã hội mới, cụ thể hoá và thực hiện đúng chính sách
dân tộc và chính sách tự do tín ngưỡng”; đẩy mạnh phát huy dân chủ trong
xã hội; củng cố liên minh công nông và khối đại đoàn kết dân tộc.
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc đã được nâng lên một tầm cao mới tại Đại hội
Đảng lần thứ VII (6 - 1991). Đảng đã mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc bao
gồm công nhân, nông dân, trí thức; phát huy cao độ sức mạnh của dân tộc;
đặt lợi ích dân tộc và lợi ích của con người lên hàng đầu. Đường lối đại đoàn
kết dân tộc của Đại hội VII của Đảng đã được thể hiện cụ thể trong Nghị
quyết 07 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đây là một
Nghị quyết phản ánh tập trung nhất sự kế thừa và phát triển tư tưởng đại
đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tiếp theo là Nghị quyết 8B của
kết quốc tế. Chính sách ngoại giao đa phương, đa dạng thể hiện tinh thần
đoàn kết rộng mở, Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả bạn bè
quốc tế, nhờ đó tạo nên động lực đoàn kết từ bên ngoài để thúc đẩy công
cuộc đổi mới đất nước. Đặc biệt, Đảng khẳng định kiều bào Việt Nam ở
nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt
Nam. Đảng và Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của kiều bào, giúp đỡ
kiều bào trong cuộc sống và tạo điều kiện cho kiều bào gắn bó, đóng góp xây
dựng quê hương.
Những chủ trương về đại đoàn kết dân tộc đã thúc đẩy công cuộc đổi mới,
trở thành động lực chủ yếu để phát triển đất nước. Chủ trương đại đoàn kết
toàn dân tiếp tục đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng và
đạt nhiều kết quả. Khối đại đoàn kết toàn dân không ngừng được mở rộng;
quy tụ ngày càng đông đảo các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào ra
ở nước ngoài; sự liên minh, liên kết giữa công nhân, nông dân, trí thức, giữa
công nghiệp với nông nghiệp và khoa học, công nghệ, giữa lao động trí óc và
lao động chân tay có những bước tiến và nội dung mới; những sự ngăn cách
do chiến tranh để lại đã dần dần được khắc phục; các tầng lớp trong xã hội
(bao gồm cả những người trước đây đã sống và làm việc trong chế độ Sài Gòn
từ trước ngày 30 - 4 - 1975, những nhân sĩ, trí thức, các nhà doanh nghiệp tư
nhân, đồng bào có đạo, kiều bào ở ngoài nước) xích lại gần nhau hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh đó đang có những yếu tố tác động tiêu cực đến việc
củng cố khối đoàn kết toàn dân, như năng lực quản lý của bộ máy nhà nước
còn hạn chế; nhiều vấn đề xã hội bức xúc chưa được giải quyết tốt; tình
trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng gay gắt; cuộc đấu tranh phòng chống
tham nhũng kém hiệu quả; lòng tin của một bộ phận nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa chưa thật vững chắc; chủ trương đại
đoàn kết của Đảng đề ra chưa được thể hiện đầy đủ trong các chính sách, cơ
chế quản lý trên các lĩnh vực hoạt động của xã hội; việc tổ chức thực hiện
chính sách có nhiều lúc chưa chu đáo; khối liên minh công, nông, trí thức
đang đứng trước nhiều vấn đề mới cần được nghiên cứu giải quyết; đời sống,
Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.13; 14.
(10) Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Sđd., tr. 14 - 15.
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Sđd., tr. 44 - 45.
(12) Xem: Ban Dân vận Trung ương. Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường
Mặt trận Dân tộc Thống nhất. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1994, tr. 5,
6, 7.