Đề tài:" TRIẾT HỌC MÁC TRONG NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI " - Pdf 21

Nghiên cứu triết học

Đề tài:" TRIẾT HỌC MÁC TRONG NHỮNG
THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI "
TRIẾT HỌC MÁC TRONG NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI

LƯƠNG ĐÌNH HẢI (*)
Vấn đề số phận của chủ nghĩa Mác trong bối cảnh đã xuất hiện các
xu hướng phát triển mới của nền văn minh thế giới ở những năm đầu
thế kỷ XXI đang trở thành một vấn đề phức tạp và là chủ đề của
nhiều hội thảo khoa học quốc tế, khu vực và quốc gia. Nhu cầu tổng
hợp lý luận toàn bộ tiến trình phát triển của khoa học, công nghệ,
thực tiễn lịch sử trong cả thế kỷ XX – thập niên đầu thế kỷ XXI và
những đòi hỏi về nguyên tắc, về định hướng mới cho hoạt động của
cả cộng đồng nhân loại trong bối cảnh toàn cầu hoá sẽ không thể
giải quyết được một cách trọn vẹn, đầy đủ, chính xác nếu không dựa

trong nhiều công trình đã công bố, người ta nói nhiều không chỉ đến
số phận của chủ nghĩa xã hội, mà cả số phận của chủ nghĩa Mác. Khi
bàn về diện mạo triết học thế giới thế kỷ XXI, người ta cũng khẳng
định sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác. Có nhiều ý kiến khác nhau về
vấn đề này. Nhưng, tình hình chung trên diễn đàn lý luận thế giới,
đặc biệt là ở châu Âu, là sau một quãng thời gian không dài, khoảng
xấp xỉ một thập kỷ, sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đổ, nhiều
người không sáng suốt, đánh mất thái độ khách quan, khoa học, đã
phủ nhận chủ nghĩa xã hội hiện thực với những thành tựu của nó và
từ đó, phủ nhận toàn bộ chủ nghĩa Mác. Một bộ phận khác có thái độ
hoài nghi, không thấy được những nội dung lý luận, khoa học sâu
sắc trong chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng và do
vậy, đã đồng nhất chủ nghĩa Mác với chủ nghĩa xã hội hiện thực của
hệ thống xã hội chủ nghĩa để từ đó, đi đến phủ nhận toàn bộ chủ
nghĩa Mác(1).
Sang những năm đầu thế kỷ XXI, ở các nước phương Tây, tình hình
đã có những thay đổi rõ nét. Thái độ bình tĩnh, khách quan, lý tính,
khoa học và công minh đã dần nổi trội hơn trước đó. Đã xuất hiện
hàng loạt các công trình, báo cáo khoa học, bài báo phân tích với
thái độ khách quan hơn, toàn diện hơn và khoa học hơn, đánh giá
đúng đắn hơn về chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng.
Điều này đặc biệt thể hiện rõ trên diễn đàn lý luận của các nước mà
trước đây, thuộc khối xã hội chủ nghĩa châu Âu. Người ta đã thoát ra
khỏi sai lầm lớn trước đây khi quy không chỉ tất cả những gì xấu xa
trong chủ nghĩa xã hội, mà cả nguyên nhân sụp đổ của chủ nghĩa xã
hội hiện thực cho chủ nghĩa Mác. Quan điểm đó xuất phát từ cách
nghĩ giáo điều rằng, mọi vấn đề của xã hội hiện đại đều có trong triết
học Mác và trong chủ nghĩa Mác, do đó mọi khuyết tật của hiện thực
là xuất phát từ những sai lầm nhất định trong lý luận.
Một học giả mácxít nổi tiếng người Nga - V.X.Stepin đã nói: Lịch sử

suy nghĩ, tư duy của nhiều người là dường như, mọi điều tệ hại trong
xã hội hôm nay đều có nguyên nhân từ lý luận hoặc từ việc thực hiện
trên thực tiễn lý luận ấy. Vì vậy, điều quan trọng là phải phân tích
một cách thực sự khoa học thực chất của lý luận và với mỗi lý luận,
cần phải làm rõ cái gì còn giá trị đối với thời đại và cái gì đã bị thời
đại vượt qua. Với chủ nghĩa Mác cũng có tình hình tương tự. Đã như
một thói quen, trong cả thời gian dài, người ta cho rằng, mọi cái
trong xã hội đều đã được ghi sẵn trong lý luận của Mác; rằng hoạt
động của đảng và nhà nước dựa trên cơ sở học thuyết Mác nên luôn
có căn cứ khoa học và đúng đắn. Hơn nữa, loại tư duy, thói quen ấy
còn cho rằng, lý luận xã hội được tiếp nhận trong ý thức quần chúng
cũng tương tự như các lý luận khoa học tự nhiên chặt chẽ, nó cho
phép chúng ta tính toán, nghĩ đến và nhìn thấy trước mọi thứ.
Thứ tư duy, thói quen ấy có xuất phát điểm là cái có thể tạm gọi là tư
duy kỹ nghệ hay tư duy kỹ trị. Tư duy này đi liền với lối giảng dạy
và tuyên truyền quái đản về tính khoa học trong chính sách của đảng
và nhà nước đã tạo ra sự ngộ nhận quái dị nói trên. Trong khi đó thì
lý luận xã hội nói chung, học thuyết Mác nói riêng lại bao hàm trong
nó nhiều mức độ và phương diện khác nhau. Không thể áp đặt một
cách máy móc cho các lý luận xã hội này những tiêu chuẩn về tính
khoa học lấy từ lĩnh vực khoa học tự nhiên.
Triết học không thể xây dựng theo sơ đồ lôgíc toán, mặc dù không
loại trừ việc sử dụng các thủ thuật lập luận có trong lôgíc học. Triết
học không chỉ dựa trên các thành tựu khoa học, mặc dù nó bao hàm
việc khái quát các thành tựu khoa học như là một trong những
phương diện quan trọng. Nếu như triết học được tạo ra như là khoa
học theo kiểu phương pháp khoa học tự nhiên thì có lẽ, nó đã không
còn là triết học nữa.
Điều này thể hiện đặc biệt rõ khi nói về các dự báo dài hạn có liên
quan đến những xu thế chung của tiến bộ xã hội. Những dự báo như

bị quy định một cách nghiêm ngặt.
Hệ tư tưởng luôn là mắt xích trung gian giữa lý luận xã hội và thực
tiễn. Nó có thể được khẳng định là khoa học, đặt mục đích thực hiện
lý luận nào đó trong thực tiễn. Nhưng, mục tiêu của hệ tư tưởng
không phải chỉ là động viên được cộng đồng các học giả nhỏ hẹp,
mà chính là ý thức quần chúng. Ý thức quần chúng thì không thể
thẩm thấu hết các tư tưởng khoa học, mà thường tạo dựng nên xung
quanh những tư tưởng ấy một loạt niềm tin và huyền thoại. Ngay cả
quan niệm của C.Mác về vai trò của lý luận khi trở thành lực lượng
vật chất cũng không nên hiểu một cách máy móc, bởi quần chúng
chưa bao giờ là những người hiểu biết học thuyết Mác một cách đầy
đủ, trọn vẹn, sâu sắc và chính xác. Nói chung, cách diễn giải chủ
nghĩa Mác một cách đơn giản và rập khuôn là cách diễn giải đặc biệt
riêng có của ý thức quần chúng.
Việc hệ tư tưởng hoá chủ nghĩa Mác trong lịch sử, đặc biệt là ở các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây, đã càng làm cho quần chúng nhận
thức chủ nghĩa Mác một cách giáo điều hơn. Học thuyết Mác gồm
nhiều phức hệ, có nhiều tầng bậc, thể hiện tâm thức của nhiều thời
đại. Hàng loạt định đề tạo nên nền tảng của chủ nghĩa Mác là sự khái
quát thực tiễn các giai đoạn công nghiệp và tiền công nghiệp của sự
phát triển tư bản chủ nghĩa, song việc hệ tư tưởng hoá đã biến các
định đề này thành giáo điều và làm cho chúng vượt ra khỏi mọi sự
phê phán, mặc dù phương pháp mà C.Mác sử dụng không chỉ cho
phép, mà còn đòi hỏi một thái độ phê phán đối với những tư tưởng
và nguyên tắc của C.Mác.
Học thuyết Mác có thể được xem như một hiện tượng của ý thức xã
hội, trong đó có in dấu của hoàn cảnh xã hội, của văn hoá thế kỷ
XIX. Mâu thuẫn giữa phương pháp khoa học của C.Mác và việc giáo
điều hoá sau đó các nguyên lý của học thuyết Mác gắn liền với việc
hệ tư tưởng hoá các kết luận và định đề của học thuyết ấy. Người ta

(Tiếp theo)
LƯƠNG ĐÌNH HẢI (*)
Vào những năm 30-50 của thế kỷ XX, ở Liên Xô, với khẩu hiệu biến chủ
nghĩa Mác thành hệ tư tưởng của quần chúng nhân dân, triết học Mác đã bị
tầm thường hoá với mức độ và quy mô khá lớn. Việc hệ tư tưởng hoá chủ
nghĩa Mác để chống chủ nghĩa duy tâm Mensêvích (những năm 30), cuộc
đấu tranh vì tính đảng chiến đấu (những năm 40), sự kiểm soát nhà nước -
đảng phái một cách chặt chẽ đối với khoa học xã hội, việc tuyên truyền
chính thống các tác phẩm của I.V.Xtalin như một đỉnh cao của tư tưởng
triết học và đòi hỏi các nghiên cứu triết học phải minh hoạ cho chúng đã
từng bước thủ tiêu tiềm năng sáng tạo của triết học Mác, loại bỏ tính
chuyên nghiệp của tư tưởng triết học, cắt đứt mối liên hệ của triết học
mácxít với các thành tựu khoa học, văn hoá và lịch sử tư tưởng triết học thế
giới. Triết học bị biến thành con dấu tư tưởng hệ phục vụ chính trị. Tất cả
những cái đó đã dẫn đến việc vứt bỏ những tư tưởng có giá trị và mang tính
gợi mở nhất của chủ nghĩa Mác cổ điển.
Vấn đề số phận chủ nghĩa Mác trong bối cảnh đã xuất hiện các xu hướng
phát triển mới của nền văn minh thế giới hiện nay đang trở nên phức tạp
hơn. Chủ nghĩa Mác xuất hiện trong nền văn hoá của văn minh công nghệ.
Đặc trưng của văn minh công nghệ là sự thay đổi thường xuyên các mối
liên hệ xã hội và lối sống. Điều đó được tạo nên do những sáng tạo kỹ thuật
- công nghệ và đến lượt mình, những sáng tạo này làm thay đổi định hướng
của sự phát triển là hướng vào tương lai. Đặc trưng văn hoá cho xã hội kỹ
trị là quan niệm về tính không thể đảo ngược của thời gian, đi từ quá khứ
đến tưong lai: cái tốt đẹp hơn đang ở phía trước, trong tương lai. Tư tưởng
tiến bộ giữ vị trí cao nhất trong bảng giá trị của văn minh kỹ trị. Tư tưởng
ấy và tư tưởng về các cải biến cách mạng với tính cách sự vận động tiến
đến xã hội tương lai phồn vinh chỉ có thể phát triển một cách có hệ thống
trong thời đại văn minh công nghệ. Học thuyết Mác về tiến bộ xã hội và về
chủ nghĩa cộng sản được hình thành trong thời đại đó. Mỗi một bộ phận

này thì cần phải phân tích bước ngoặt vĩ đại trong văn hoá, bắt đầu từ thời
đại Phục hưng và tiếp tục ở thời đại Khai sáng, bước ngoặt để tạo nên
những quan niệm mang tính thế giới quan mới về con người và giới tự
nhiên, về hoạt động của con người và quan hệ của nó với thần thánh, về lý
tính, tình cảm, v.v Cách tiếp cận có tính đến các khía cạnh khác nhau của
văn hoá không phá vỡ quan niệm cho rằng, xã hội như một khách thể có hệ
thống phức tạp và sự phát triển của nó là quá trình lịch sử - tự nhiên.
Con đường hiện thực của lịch sử - sự quá độ lên chủ nghĩa tư bản là con
đường đánh dấu sự xuất hiện và phát triển của văn minh kỹ trị, gắn liền với
con đường tiến hoá đặc biệt của xã hội truyền thống. C.Mác đã phân tích
con đường này và diễn đạt nó bằng thuật ngữ sự thay thế lẫn nhau của các
hình thái. C.Mác cũng đã tập trung nghiên cứu tính quy luật của các bước
quá độ từ hình thức lịch sử này sang hình thức lịch sử khác, mà mỗi hình
thức trước đó như là một nấc thang để bước lên bậc cao hơn. Quá trình lịch
sử - cụ thể không chỉ có hướng phát triển tiến bộ, mà còn có cả hướng vận
động đi vào ngõ cụt. Lịch sử luôn bao chứa nhiều phương án vận động.
Khái quát các hướng vận động ấy thành một hướng chính và xem đó như là
hướng của tiến bộ nhân loại, C.Mác đặt ra vấn đề là, hướng vận động này
và các hướng khác cùng tồn tại có quan hệ với nhau như thế nào.
Lịch sử xã hội loài người có những hướng tiến hoá khác nhau. C.Mác đã
nêu lên 2 hướng: một ở các xã hội châu Âu và một ở các xã hội truyền
thống phương Đông (“phương thức sản xuất châu Á”)(2). Hướng thứ nhất
đã đi đến văn minh kỹ trị, thông qua các bước quá độ từ xã hội nô lệ, qua
phong kiến, đến tư bản. Có lẽ, ở phương Đông, khả năng quá độ của xã hội
truyền thống phát triển lên xã hội tư bản chủ nghĩa bằng động năng bên
trong là có vấn đề. Thực tế cho thấy, khi các xã hội truyền thống phương
Đông chưa tiếp xúc với chủ nghĩa tư bản, với các thành tựu phát triển kỹ
nghệ của nó, mà mới chỉ tiếp xúc với các xã hội truyền thống khác thì các
xã hội ấy vẫn không thoát ra khỏi xã hội truyền thống. Bước quá độ của các
xã hội truyền thống phương Đông chỉ có trong bối cảnh có tác động từ bên

khoa học và công nghệ đang làm thay đổi cực kỳ nhanh chóng toàn bộ lực
lượng sản xuất của loài người. Toàn cầu hoá đang diễn ra ngày một mạnh
mẽ cả về quy mô lẫn tốc độ. Các công ty siêu quốc gia đang ngày một nắm
giữ nhiều hơn sức mạnh kinh tế và chi phối các hệ thống quyền lực khác
nhau,… Những cái đó đang làm thay đổi định hướng thế giới quan của
con người(3).
Nhưng, có lẽ, việc giải quyết những vấn đề toàn cầu hiện đại chỉ có thể có
khi con người bước sang một giai đoạn phát triển mới dựa trên một hệ
thống giá trị khác với văn minh kỹ nghệ?!.
Như vậy, có thể thấy, trong quan niệm của C.Mác có nhiều nội dung gắn
liền với triển vọng tiếp theo của học thuyết Mác. Thứ nhất, đó là những tư
tưởng thể hiện giá trị sâu sắc của văn minh kỹ trị và thứ hai, đó là những
dự báo vượt ra ngoài tâm thức văn hoá công nghệ. Nội dung này có ý nghĩa
quan trọng đối với việc tìm kiếm các định hướng lý luận mới mà trong giai
đoạn hiện nay, nhân loại đang tìm kiếm. Chúng là những tư tưởng, như
tương lai là sự liên hiệp nhân loại có quan hệ lẫn nhau trên cơ sở nhân văn,
trên nền tảng của sự ưu trội các giá trị toàn nhân loại; sự gia tăng giá trị cá
nhân, khả năng sáng tạo, phát triển tinh thần, trí tuệ; nhân đạo hoá tiến bộ
khoa học - kỹ thuật; tổng hợp các khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
thành một khoa học duy nhất về con người. Thời kỳ hệ tư tưởng hoá chủ
nghĩa Mác theo kiểu cũ đã kết thúc và bắt đầu một thời kỳ mới - thời kỳ
nhận thức nó với tính cách một lý luận và quan điểm thế giới quan có tác
động lẫn nhau với các học thuyết và lý luận xã hội khác trong nền văn hoá
thế giới đang phát triển. Ngày nay, do điều kiện thời đại, khó có một học
thuyết hoặc hệ thống quan điểm nào đó hình thành trong quá khứ lại có thể
là chân lý vượt trội duy nhất về tương lai. Nhu cầu tổng hợp lý luận toàn bộ
tiến trình phát triển khoa học, công nghệ, thực tiễn lịch sử trong cả thế kỷ
XX - thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI và những đòi hỏi về nguyên tắc, về
định hướng mới cho hoạt động trong thời đại cách mạng khoa học, công
nghệ và toàn cầu hoá đang trở nên cấp thiết trong những thập kỷ đầu thế kỷ

nhất thì một phụ nữ cầm micrô bước lên nói rất to rằng: ông không được
mỉa mai chúng tôi, không được nói đến chủ nghĩa Mác và triết học Mác
nữa; chủ nghĩa Mác đã đem lại cho chúng tôi nhiều khổ đau; chủ nghĩa
Mác là một tai hoạ đối với loài người,… J.Đêrriđa rất bình tĩnh trả lời, đại
ý như sau: chủ nghĩa Mác là một thành tựu vĩ đại của tư tưởng loài người;
C.Mác là một nhà triết học vĩ đại; không phải chỉ có tôi mà có rất nhiều
người đã, đang và sẽ tiếp tục nói về chủ nghĩa Mác, không chỉ ở Mátxcơva,
mà cả ở NiuYork, Pari, Luân Đôn và ở bất cứ nơi đâu trên trái đất này;
quan điểm của tôi là cần phải tiếp thu chủ nghĩa Mác một cách khoa học,
khách quan; có thể phê phán chủ nghĩa Mác ở điểm này hay điểm khác, vì
cũng giống như mọi học thuyết khác trong lịch sử loài người, không có học
thuyết nào là hoàn mỹ hoặc chính xác tuyết đối, nhưng không thể phê phán
theo kiểu giáo điều, vứt bỏ tất cả, phủ nhận tất cả; vứt bỏ toàn bộ chủ nghĩa
Mác như bà thì tai hoạ còn lớn hơn nhiều;…
(2) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.13. Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1993, tr.16.
(3) Ở thế kỷ XIX, sau thất bại của Công xã Pari, tổng kết sự phát triển chủ
nghĩa tư bản và phong trào công nhân, C.Mác đã đi đến kết luận: Cách
mạng vô sản chỉ có thể thắng lợi trên toàn bộ châu Âu, hoặc ít nhất thì cũng
ở tất cả các nước phát triển nhất của châu Âu. Sang đầu thế kỷ XX, tổng
kết sự phát triển của chủ nghĩa đế quốc và kinh nghiệm phong trào công
nhân Nga và châu Âu, V.I.Lênin lại đưa ra kết luận: Cách mạng vô sản có
thể thắng lợi ở một số nước, thậm chí ở một nước trong khâu yếu nhất của
dây chuyền chủ nghĩa đế quốc. Do toàn cầu hoá, do hệ thống các công ty
siêu quốc gia, cơ sở hạ tầng viễn thông toàn cầu,… liệu mai đây có thể kết
luận: Cách mạng vô sản chỉ có thể thắng lợi đồng thời trên phạm vi toàn
thế giới hoặc đồng loạt ở tất cả các nước phát triển nhất? Những vấn đề
kiểu như vậy đang đòi hỏi những “khái quát” triết học mới, những “tổng
kết” lý luận toàn bộ thực tiễn thế kỷ XX vừa qua. Nhưng, để làm được
những việc loại đó không thể không dựa vào triết học Mác, cũng tương tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status