i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong
luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Đỗ Tá Khánh
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của luận án
Công nghiệp đ ng vai tr
quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc
gia. Các nước công nghiệp đầu tên trên thế giới chủ yếu nằm tại châu Âu, n i khởi
nguồn của các cuộc cách mạng công nghiệp. Các quốc gia công nghiệp này đều c chính
sách công nghiệp từ rất sớm, trong khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Trải qua quá
trình phát triển, châu Âu ngày nay vẫn là n i tập trung nhiều nhất các quốc gia công
nghiệp trên thế giới và c đến 4 trong số 7 nước công nghiệp phát triển nhất trên toàn thế
giới.
Trong thập niên cuối thế kỷ XX, với tến trình liên kết châu Âu, Liên minh Châu Âu
(EU) đã hình thành một chính sách công nghiệp chung dù đã c nhiều chính sách chung
trong các lĩnh vực khác trước đ [46]. Chính sách công nghiệp chung của EU được đề cập
trong Hiệp ước Maastricht 1991 và Hiệp ước Amsterdam 1998 đã mở đầu cho sự d ch
chuyển từ chính sách theo chiều dọc (vertcal) dựa nhiều vào sự can thiệp của nhà
vực ch t chẽ h n.
Với bối cảnh thế giới mới và nhu cầu kinh nghiệm quốc tế phục vụ phát triển
công nghiệp ở Việt Nam hiện nay, tôi quyết đ nh chọn đề tài: “Chính sách công nghiệp ở
một số nước thành viên Liên minh Châu Âu trong những thập niên đầu thế kỷ XXI” làm
luận án của mình.
2. Mục đích nghi n c u và nhiệm vụ nghi n c u
Nghiên cứu này nhằm mục đích phân tích và đánh giá nội dung và kết quả đạt
được của chính sách công nghiệp của Cộng h a Italia, Cộng h a Pháp và Vư ng quốc
Anh trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, từ đ r t ra bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam.
Để đạt được mục đích trên, luận án c các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
+ Làm rõ c sở lý luận và thực tễn của chính sách công nghiệp ở ba quốc gia được
nghiên cứu;
+ Làm rõ những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hoạch đ nh chính sách công
nghiệp cũng như đánh giá kết quả thực hiện chính sách công nghiệp;
+ R t ra một số kinh nghiệm g p phần vào việc xây dựng và hoàn thiện chính
sách công nghiệp tại Việt Nam.
3. Đối tƣợng nghi n c u và phạm vi nghi n c u
- Đối tượng nghiên cứu của luận án:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách công nghiệp của ba quốc gia công
nghiệp chủ chốt, thành viên của EU, gồm Vư ng quốc Anh, Pháp và Italia. Sự lựa chọn
chính sách công nghiệp của ba quốc gia trên làm nghiên cứu trường hợp được dựa trên
các lý do sau:
+ Vư ng quốc Anh đại diện cho mô hình th trường tự do (Anglo-Saxon) ở châu Âu. Đây là
quốc gia đi tên phong trong cách mạng công nghiệp từ thế kỷ XVII và được xem là quốc
gia theo đuổi các chính sách tự do, trái ngược với chính sách bảo hộ của nhiều nước
châu Âu lục đ a. M c dù không c n ở v trí dẫn đầu thế giới về công nghiệp như trong
các thế kỷ trước, Vư ng quốc Anh ngày nay là một trong bảy nước công nghiệp phát triển
liên quan đến chính sách công nghiệp
chung của EU nhằm luận giải rõ h n chính sách công nghiệp của các quốc gia thành
viên. Luận án c thể lấy một số ngành công nghiệp làm các nghiên cứu trường hợp để
phân tích sâu h n tác động của chính sách công nghiệp, tuy nhiên, sự đánh giá chi tết
tác động của chính sách công
nghiệp đối với từng ngành công nghiệp cụ thể sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của
luận án.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghi n c u
- Phư ng pháp luận của luận án:
Với tính cấp thiết của luận án, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu,
nghiên cứu sinh sẽ đi thu thập các số liệu s
cấp, các công trình nghiên cứu khoa học
trong cùng lĩnh vực nghiên cứu đã được công bố, cùng với các đánh giá của riêng
nghiên cứu sinh để trả lời câu hỏi nghiên cứu sau:
Ch nh s h
ng nghi p qu
gi
m ts n
th nh vi n h
Yếu tố
bên
ngoài
LI N KẾT KHU V
C VÀ FTAs (EU,
EMU, FTAs với các
nước và khu vực
trên thế giới…)
TOÀN CẦU HÓA
(Sự d ch chuyển
d ng vốn đầu
tư,
tự do đi lại…)
CHÍNH SÁCH
CÔNG NGHIỆP
Yếu tố
bên
trong
CH NH SÁCH HỘI
NH P KINH TẾ
QU C TẾ (Chính
sách thư ng mại,
các cam kết quốc
tế…)
ng Đông‟, Đại học Ferrara, Đại học Milano Biccoca (Italia); Đại học Oslo (Na Uy); Đại
học Paris 1 Sorbonne (Pháp); Đại học Hamburg (Đức); và Đại học Cambridge (Anh).
+ Ph ơng ph p xử lý t i li u:
Trên c sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật l ch sử, luận án
sử dụng các phư ng pháp nghiên cứu khoa học xã hội: tổng hợp, phân tích, và so sánh
nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu và làm rõ các giả thuyết nghiên cứu, thông qua việc
thu thập và xử lý các tài liệu từ các công trình nghiên cứu trước và các số liệu s cấp do
các c quan thống kê công bố.
Bên cạnh cách tếp cận hệ thống và liên ngành, do chính sách công nghiệp ở châu Âu
c một l ch sử phát triển dài nên để hiểu được nền tảng của chính sách công nghiệp ở
châu Âu cũng như diễn giải được những điều chỉnh chính sách công nghiệp thời gian gần
đây, luận án cũng sử dụng cách tếp cận l ch sử cùng phư ng pháp phân tích l ch đại.
5. Những đóng góp mới của Luận án
- Luận án đã hệ thống h a được sự hình thành và phát triển của chính sách công nghiệp
ở ba quốc gia công nghiệp chủ chốt của EU, với trọng tâm là các chính sách công nghiệp
của các nước này trong những thập niên đầu thế kỷ XXI.
- Luận án đã phân tích những ưu tên hiện nay trong chính sách công nghiệp ở các
nước thành viên EU được nghiên cứu và đánh giá một số kết quả thực hiện.
- Luận án đã làm rõ vai tr của nhà nước trong bối cảnh toàn cầu h a, tự do h a
thư ng mại và liên kết khu vực.
- Từ thực tễn về hoạch đ nh chính sách công nghiệp ở ba quốc gia công nghiệp chủ chốt
ở EU, Luận án đã r t ra được một số kinh nghiệm, đ ng g p cho quá trình hoạch đ nh
chính sách công nghiệp ở Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về ý nghĩa lý luận: luận án đã bổ sung thêm những hiểu biết về cách tếp cận đối
với chính sách công nghiệp ở châu Âu thông qua những khái niệm và cách phân loại
chính sách công nghiệp ở khu vực này. Luận án cũng cho thấy c sở của sự điều chỉnh
chính sách công nghiệp của EU n i chung và các nước thành viên n i riêng qua các
các đ c điểm chính của chính sách công nghiệp hiện nay ở Italia, Pháp và Vư ng quốc
Anh và một số kết quả đã đạt được.
Chư ng IV: Một số vấn đề rút ra và khuyến ngh chính sách cho Việt Nam. Chư ng
này tập trung vào một số vấn đề rút ra trên c sở phân tích lý thuyết và thực tễn ở một
số quốc gia công nghiệp ở Liên minh Châu Âu và một số khuyến ngh chính sách cho Việt
Nam.
CHƢƠNG I T
NG QUAN
1.1. Nghi n c u ngoài nƣớc
Ng h i n
ứu
h nh s
h
ng ngh i p d
i gó
đ
lị h sử : khi nghiên
cứu về phát triển công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển, Ha-Joon Chang
(2002) trong cuốn sách Kicking Away the Ladder: Development Strategy in Historical
Cùng trong cách tếp cận l ch sử về chính sách công nghiệp ở châu Âu, James
Foreman – Peck và Giovanni Ferderico cùng nhiều tác giả (1999) trong cuốn European
Industrial Policy: the Twentieth-Century Experience (Chính s h
ng nghi p Châu Âu:
Kinh nghi m trong thế kỷ 20) đã đưa ra một cách nhìn rộng về chính sách công nghiệp
ở nhiều nước châu Âu trong suốt thế kỷ XX. Các tác giả phân tích khái niệm về chính
sách công nghiệp của nhiều tác giả khác và họ cho rằng chính sách công nghiệp là “một
khái niệm kh nắm bắt, c thể bao trùm tất cả mọi thứ liên quan đến công nghiệp” và
được xác đ nh là “tất cả các dạng can thiệp của nhà nước c ảnh hưởng đến công nghiệp
như một khu vực riêng biệt của nền kinh tế” [91, tr.3]. Các tác giả cũng đề cập đến các
cuộc tranh luận về chính sách công nghiệp ở châu Âu trong thế kỷ XX, với sự d ch
chuyển quan điểm của các học giả theo trường phái tự do Ăng-lô-Xắc-xông (ủng hộ th
trường tự do) khi họ chấp nhận rằng th trường c sự khiếm khuyết và cần thiết c sự
can thiệp của nhà nước trong những năm 1930. Tuy nhiên từ những năm 1980, Chủ
nghĩa Tân tự do (Neo-liberalism) đã chiếm dần ưu thế với việc chuyển sự can thiệp của
nhà nước vào từng ngành cụ thể sang tập trung vào c chế cho sự phát triển. Trả lời cho
câu hỏi tại sao các quốc gia lại đưa ra chính sách công nghiệp, các tác giả cho rằng đ
là do sự tác động qua lại giữa các chính tr gia và các nh m lợi ích trong xã hội. Để
làm rõ h n chính sách công nghiệp ở châu Âu, các tác giả đã đi mô tả chính sách công
nghiệp của một số nước châu Âu làm nghiên cứu trường hợp, gồm Anh, Pháp Đức,
Italia, Thụy Điển, Hà Lan, Bỉ, Ai len, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, và Nga. M c dù
mô tả và phân tích khá sâu về chính sách công nghiệp của các nước trên nhưng nh m
tác giả chưa đề cập đến những biến chuyển chính sách trong thời gian gần đây, đ c biệt
trong giai đoạn 1992 đến nay.
Ng h i n
yếu tố đ a lý như qua phát triển vùng, trao quyền tự chủ h n cho các đ a phư ng trong
việc đưa ra chính sách th c đẩy đổi mới và phát triển công nghệ. Vốn xã hội c thể phát
huy trong trường hợp này qua việc thiết lập các hiệp hội kinh doanh để trao đổi kinh
nghiệm, trợ gi p lẫn nhau và liên kết kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cuốn
sách cho thấy một cách tếp cận rất tốt, tuy nhiên n chỉ tập trung vào một khu vực của
nền kinh tế và chỉ phản ánh sự phát triển và cạnh tranh của SMEs trong khu vực châu
Âu. Cuốn sách chưa đề cập đến sự tác động của th trường thế giới hay sự cạnh tranh
quốc tế đến SMEs của châu Âu.
Ng h i n ứu h nh s
và
l
m t n hân t
Europe n
h
ng ngh i p nh m t h nh s
h h ung
EU
trong tến trìn h li n kết khu vự : trong cuốn Industry and the
nion: An lysing Poli ies for Business
Mi he l D rmer v
chung diễn ra gần đây.
Patrizio Bianchi trong cuốn Industrial Policies and Economic Integraton: Learning
from European Experiences (Ch nh s h
kinh nghi m
ng nghi p v th ng nhất kinh tế: họ hỏi từ
hâu Âu) (1998) đi xem xét chính sách công nghiệp là gì và vai tr của ch
ng trong bối cảnh thống nhất châu Âu. Cuốn sách đi phân tích quá trình thống nhất từ
Hiệp ước Rome tới Hiệp ước Maastricht, thời điểm cuốn sách được viết. Tác giả đi sâu
vào phân tích các chính sách công nghiệp ở cấp Cộng đồng Châu Âu với việc tập trung
vào cách tếp cận mới đối với chính sách công nghiệp trong bối cảnh liên kết khu vực.
Quan điểm chính
của tác giả là quá trình thống nhất châu Âu đã trải qua một quá trình dài phát triển và
n là một quá trình thay đổi c cấu trong mỗi nước thành viên và cả khu vực. Từ một khu
vực mậu d ch tự do tới liên minh thuế quan và cuối cùng là liên minh kinh tế và tền tệ,
sự liên kết khu vực được hình thành qua sự đấu tranh giữa các liên minh lợi ích, gồm
liên minh „thoái lui‟ chống lại sự thống nhất do lo ngại thống nhất sẽ gây tổn hại lợi ích
của n và liên minh „tến bộ‟ ủng hộ cho quá trình thống nhất, được kỳ vọng sẽ mang lại
lợi ích nhiều h n cho n . Quá trình thống nhất châu Âu là quá trình dung h a lợi ích cho
các liên minh lợi ích đ , trong đ c các chính sách nhằm bù đắp cho các nh m c thể trở
thành nh m thua thiệt trong quá trình thống nhất.
Cách tếp cận trong hoạch đ nh chính sách ở EU trong thời kỳ mới không chỉ gồm
các quyết đ nh từ hội đồng các lãnh đạo cấp cao mà c n từ c chế cho phép các đ a phư
ng được đưa ra các yêu cầu nhằm làm tham khảo cho các hành động chung. Tác giả cho
rằng “mạng lưới” c thể được xem là cách tếp cận tốt của EU trong quá trình liên kết. N
cho phép không cần phải sử dụng nhiều quy tắc chung của cộng đồng mà cung cấp các c
nghiệp kiểu cũ được nữa bởi các quốc gia hiện đang tham gia mạnh mẽ vào quá trình tự
do h a và toàn cầu h a kinh tế. Các quốc gia thiết lập và gắn kết ngày càng nhiều vào
các khu vực mậu d ch tự do, ở các cấp độ khu vực và toàn cầu. Các mạng lưới khu vực
mậu d ch tự do này cũng chồng chéo, đan xen nhau khiến các quốc gia không thể tến
hành bảo hộ hay ưu đãi cho các doanh nghiệp của nước mình ho c ngăn ch n sự
cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ngoài. Bất cứ sự đối xử thiên v nào cũng c thể
dẫn đến sự khiếu nại của các nước c liên quan ho c cao h n nữa là sự kiện tụng lên các
thể chế thư ng mại quốc tế. Do vậy, trong hoàn cảnh này các quốc gia chỉ c thể tập trung
vào hai công cụ chính: i) tạo ra các quy tắc để dựa vào đ
các doanh nghiệp hoạt
động và ii) hỗ trợ năng lực cho doanh nghiệp bằng cách phát triển tri thức và phổ biến tri
thức cho các doanh nghiệp để từ đ các doanh nghiệp tăng cường được khả năng cạnh
tranh, ví dụ như th c đẩy nghiên cứu và phát triển hay xây dựng các c sở nghiên cứu
khoa học.
Cuốn sách là một tài liệu tham khảo tốt cho việc hiểu biết và xây dựng chính sách
công nghiệp trong bối cảnh mới, đ c biệt là đối với các nước đang phát triển hiện đang
hướng đến phát triển kinh tế và trở thành quốc gia công nghiệp. Các tác giả đã lấy một số
dẫn chứng EU như một khối thống nhất và một số nước thành viên EU cũng như một số
ngành để minh họa cho các lập luận của mình. Tuy nhiên, cuốn sách mới chỉ dừng ở việc
phân tích các nước đang phát triển trong một bối cảnh chung mà chưa đi vào phân
tích một (ho c một vài) quốc gia cụ thể để thấy được tác động của bối cảnh hiện nay đối
với quá trình hoạch đ nh chính sách, cụ thể là chính sách công nghiệp.
Ng h i n
ợng
n gh i n ứu
nhỏ và vừa qua các hiệp hội để tạo nên sức mạnh trong cạnh tranh trên th trường toàn
cầu. Về những điều chỉnh chính sách công nghiệp trong thời gian gần đây ở Italia,
Patrizio Bianchi và Sandrine Labory (2010) c bài viết „Industrial Policy afer the Crisis:
the Case of the Emilia-Romagna Region in Italia‟ (Chính sách công nghiệp thời kỳ hậu
khủng hoảng: nghiên cứu trường hợp vùng Emilia-Romagna ở Italia).
Về Cộng h a Pháp, Jean-Pierre Dormois (1999) c
một chư ng: „France: The
Idiosyncrasies of Volontarisme‟ trong cuốn European Industrial Policy: The TwentethCentury Experience của James Foreman – Peck và Giovanni Federico,
1999 [91]. Tác giả đã điểm lại l ch sử phát triển của chính sách công nghiệp Pháp từ
khi thiết lập đến những năm 80 của thế kỷ XX. Cùng chung cách tếp cận theo d ng l ch
sử của chính sách công nghiệp ở Cộng h a Pháp, Elie Cohen (2007) qua bài viết
„Industrial Policies in France: the Old and the New‟ (Chính
sách công nghiệp ở Pháp: chính sách mới và cũ) đã tập trung so sánh chính sách công
nghiệp của Pháp ở thời kỳ trước năm 2000 và chính sách giai đoạn 2000 2006. Qua bài viết „Industrial Policy in Europe since the second world war: what has
been learnt?‟ (Chính sách công nghiệp ở châu Âu từ sau chiến tranh thế giới II: ch ng
ta đã học hỏi được gì?) Geoffrey Owen (2012), đã tổng hợp lại chính sách công nghiệp của
một số nước châu Âu, trong đ c Pháp.
Về Vư
ng Quốc Anh, trong chư
ng „Britain: From Economic Liberalism to
Socialism – And Back?‟ (Nước Anh: từ Chủ nghĩa kinh tế tự do đến Chủ nghĩa xã hội
– và ngược lại?) của cuốn sách European Industrial Policy: The Twenteth-Century
Experience [91], James Foreman-Peck và Leslie Hannah đã phân tích chính sách công
Cho đến nay, c
rất ít công trình nghiên cứu tại Việt Nam về chính sách công
nghiệp của các quốc gia châu Âu cũng như của EU. Một số công trình xuất bản bằng tếng
Việt mới dừng ở việc đề cập s
lược chính sách công nghiệp của EU ho c của một số
nước châu Âu như những bài học kinh nghiệm trong một tổng thể nghiên cứu rộng h n
ho c chỉ là các ấn phẩm d ch lại các bài viết của các học giả nước ngoài. Ví dụ như, cuốn
“Ch nh s h
ng nghi p trong
nền kinh tế thị tr ờng ph t triển: những
h tếp ận
m i” (1994) của Viện Kinh tế Thế giới là một cuốn sách tập trung các bài về chính sách
công nghiệp của Mỹ, Canada, Nhật Bản và châu Âu của các tác giả Mỹ và châu Âu, được d
ch ra tếng Việt. Về phần châu Âu, do quy mô c hạn, tác giả chỉ tập trung vào sự chuyển
biến của chính sách công nghiệp ở phạm vi EU trong bối cảnh liên kết khu vực và sự
tăng cường các chính sách chung của Liên minh trong những năm 1990. Tác giả phân
tích những thách thức của châu Âu trong thập niên 90 với sự phát triển mạnh mẽ của
quá trình quốc tế h a và toàn cầu h a th trường, sự cạnh tranh phát triển công nghệ
cao từ khu vực Đông Á, sự d ch chuyển d ng vốn về các nước Trung và Đông Âu chuyển
đổi. Từ những thách thức đ , các tác giả đi sâu phân tích chính sách công nghiệp của châu
Âu thông qua văn kiện về chính sách công nghiệp được EU đưa ra l c bấy giờ: “Chính
sách công nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh tranh mở”, trong đ nhấn mạnh chính
Tập trung cụ thể vào chiến lược phát triển công nghiệp, Kenichi Ohno và Nguyễn
Văn Thường (chủ biên) (2005), trong cuốn Ho n thi n hiến l ợ ph t triển
ng nghi p
Vi t N m, đã tập hợp các bài viết tập trung vào vấn đề thiết kế chính sách và đổi mới
công tác nghiên cứu chính sách, cụ thể là về phát triển công nghiệp. Bên cạnh đ , các
tác giả cũng tập trung vào các vấn đề cụ thể trong
phát triển công nghiệp như tếp cận marketng trong thu h t đầu tư trực tiếp nước ngoài,
xây dựng và tăng cường công nghiệp phụ trợ, chiến lược mua sắm tối ưu, một số bài học
từ các nước trong khu vực về phát triển ngành điện, điện tử; phát triển công nghiệp ô tô…
Các quan điểm về phát triển công nghiệp và các bài học r t ra cho Việt Nam trong phát
triển một số ngành cụ thể nêu trên chủ yếu từ Nhật Bản và một số nước trong khu vực
như Indonesia, Malaysia, Thái Lan….. Tuy nhiên, những bài học này dường như kh
c
thể áp dụng cho Việt Nam vì các ngành này đã rất phát triển ở các nước đ và Việt Nam
nếu muốn phát triển các ngành này thì phải cạnh tranh trực tiếp với họ.
Pietro Masina (2006) trong cuốn Vietn m‟s Development Str tegy (tạm d ch:
Các chiến lược phát triển của Việt Nam), dựa trên các nghiên cứu của tác giả thực hiện
tại Việt Nam, đã nêu bật tầm quan trọng của việc đ nh hình chính sách phát triển của
Việt Nam trong giai đoạn từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX vì đây là giai đoạn nền tảng
sau khi tến hành mở cửa hội nhập sâu h n vào khu vực và chứng kiến sự khủng hoảng
của các nước trong khu vực. Tác giả đã nêu bật các lĩnh vực kinh tế cần cải cách như khu
vực nhà nước, ngoại thư ng, lĩnh vực tài chính, vai tr của nhà nước… cũng như đ t
vấn đề cần cân bằng giữa tăng trưởng, giảm nghèo và bất bình đẳng. Tác giả cho
rằng các đ nh hướng chính sách của các đ nh chế quốc tế cho các nước đang phát
của một số quốc gia khác ở khu vực Đông Á và Đông Nam Á. Bài viết đề cập đến một số
vấn đề nổi cộm trong phát triển công nghiệp ở Việt Nam và từ đ đưa ra một số khuyến
ngh chính sách nhằm th c đẩy phát triển công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn
2010-2020. Bài viết đã c những phân tích rất sâu sắc và nêu bật được những đ c điểm
của chính sách công nghiệp ở Việt Nam đến trước năm 2010, do vậy một nghiên cứu tiếp
nối cho giai đoạn từ 2010 đến nay và đưa ra các khuyến ngh chính sách trong giai đoạn
10 năm tiếp theo và xa h n nữa là hết sức cần thiết.
Một công trình thực hiện gần đây nhất tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
là đề tài cấp bộ: “Ch nh s
h
ng nghi p trong m hình tăng tr ởng m i, gi i đoạn
2011-2020”, do Lê Anh Vũ làm chủ nhiệm đề tài (2011). Đề tài
đã tổng quan lại các khái niệm về chính sách công nghiệp và đưa ra khái niệm riêng về
chính sách công nghiệp, cho rằng: chính sách công nghiệp là “các chính sách, biện pháp
được nhà nước sử dụng để tác động đế sự phân bổ nguồn lực giữa các ngành cũng
như giữa các doanh nghiệp trong các ngành đ nhằm th c đẩy tăng trưởng kinh tế”.
Các tác giả sau đ đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm về chính sách công nghiệp
của một số nước châu Á, không c các nước châu Âu. Đề tài tập trung chủ yếu vào thực
trạng chính sách công nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 và các một số
khuyến ngh chính sách công nghiệp trong giai đoạn 2011 – 2020. Đề tài cho rằng trong
mô hình tăng trưởng mới, chính sách công nghiệp của Việt Nam cần đ nh hướng phân
bổ nguồn lực c mục têu, đ nh hướng lựa chọn ngành đầu tư cho doanh nghiệp, th
c đẩy doanh nghiệp gia nhập chuỗi sản phẩm toàn cầu, đ nh hướng phát triển công
nghiệp phụ trợ….. Đây là một đề tài tập trung sâu vào các đ nh hướng cho chính sách
công nghiệp của Việt Nam, tuy nhiên c sở cho các khuyến ngh , đ c biệt là kinh nghiệm
Quốc Anh cho Việt Nam trong việc ứng ph với khủng hoảng và suy thoái kinh tế.
1.3. Một số vấn đề đ t ra cho luận án
Với các nghiên cứu ngoài nước và trong nước nêu trên, ch ng ta c
thể thấy
rằng các đề tài đã c những phân tích về chính sách công nghiệp của các nước châu Âu
nói riêng cũng như EU nói chung. Nhiều công trình đã phân tích chính sách công nghiệp
bằng phư ng pháp tếp cận l ch sử, với các phân tích chính sách công nghiệp của các
nước trong từng giai đoạn. Một số công trình đã tập trung vào các vấn đề liên quan đến
chính sách công nghiệp trong thời kỳ hiện nay, với sự điều chỉnh chính sách n i chung
nhằm thích ứng tình hình mới cũng như nghiên cứu trường hợp ở một số ngành. Nhiều
đề tài cũng nghiên cứu một số tác động của quá trình hội nhập khu vực đối với quá
trình hoạch đ nh chính sách n i chung và chính sách công nghiệp n i riêng. Bên cạnh đ ,
một số đề tài cũng đã phân tích chính sách công nghiệp chung của EU và mối quan hệ với
chính sách công nghiệp của các nước thành viên.
Tuy nhiên, các đề tài nêu trên vẫn c n c một số hạn chế như chưa phân tích
chính sách công nghiệp đ t trong bối cảnh mới của quá trình toàn cầu h a ngày càng
sâu rộng, với tến trình tự do h a thư ng mại và thiết lập các khu vực mậu d ch tự do
chồng chéo. Các đề tài này chưa làm rõ các động lực điều chỉnh chính sách công nghiệp
với một sự kết nối theo d ng l ch sử, đ c biệt là cập nhật những điều chỉnh chính sách
trong giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính 2008. Bên cạnh đ , các đề tài chưa c
những nghiên cứu so sánh về chính sách công nghiệp ở các nước theo các mô hình phát
triển khác nhau ở châu Âu: th trường tự do và th trường xã hội, chủ nghĩa tự do và chủ
nghĩa bảo hộ. Các đề tài cũng
chưa c những phân tích về vai tr của nhà nước, những thách thức của công tác hoạch đ
nh chính sách trong giai đoạn hiện nay.
Với những điểm c n khuyết nêu trên, luận án này, với trọng tâm nghiên cứu