ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NÔNG PHAN ĐĂNG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HÌNH THÀNH
KHU VỰC THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐÔNG BẮC Á
TRONG NHỮNG THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
2.1.1. Thuận lợi…………………………………………………….…39
2.1.2. Khó khăn…………………………………………… ……… 44
2
2.2. Nỗ lực ba bên trong việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông Bắc
Á…………………………………………………………………………51
2.3.1. Nỗ lực của Trung Quốc……………………………………… 51
2.3.2. Nỗ lực của Nhật Bản………………………………………… 53
2.3.3. Nỗ lực của Hàn Quốc……………………………………….….55
2.3. Hướng tới khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á…………………… 59
Chƣơng 3
TRIỂN VỌNG KHU VỰC THƢƠNG MẠI TỰ DO ĐÔNG BẮC Á
3.1. Dự đoán cơ hội và thách thức của việc thiết lập khu vực thương mại tự
do Đông Bắc Á………………………………………………………………66
3.1.1. Cơ hội……………………………………… …………… 66
3.1.2. Thách thức……………………………………………………69
3.2. Dự đoán tác động của việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông Bắc
Á………………………………………………………………………… …72
3.3. Đánh giá triển vọng của khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á…….76
KẾT LUẬN 81
PHỤ LỤC……………………………………………………………………89
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………… 91
14
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
AFTA ASEAN Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Nước công nghiệp mới
RTA Regional Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do khu vực
TNC Transnational Corporations
Tập đoàn xuyên quốc gia
WTO World Trade Organisation
Tổ chức kinh tế thế giới
15
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Các hiệp định thương mại tự do trên thế giới (1995 – 2011) 21
Bảng 1.2: Sự gia tăng số lượng FTA có hiệu lực ở khu vực Đông Á 27
(tính đến 2011)
Bảng 2.1: Kim ngạch thương mại giữa ba nước Đông Bắc Á năm 2011 63
(tỷ USD)
Bảng 2.2: Quá trình hợp tác 3 bên Trung-Nhật-Hàn tiến tới thiết lập 64
FTA Đông Bắc Á
1.2. Những nỗ lực hướng tới thành lập khu vực thương mại tự do Đông
Bắc Á của Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã được các nhà nghiên cứu theo
dõi, phân tích nhưng vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một đầy đủ và hệ
thống về quá trình này. Hầu hết mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các xu hướng
liên kết kinh tế và các phương thức hình thành các hiệp định thương mại tự do.
Bởi thế, những vấn đề về đặc điểm hình thành và phát triển, thuận lợi, khó khăn,
cũng như các yếu tố tác động đến việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông
Bắc Á cần có sự quan tâm xem xét, nghiên cứu.
Nhằm góp phần tìm hiểu, mở rộng, giải quyết và dự đoán một trong những
xu thế đã và đang phát triển, mở rộng trong khu vực Đông Bắc Á cũng như trên
thế giới, đó là lý do chúng tôi chọn và thực hiện đề tài Đánh giá khả năng hình
thành khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á trong những thập niên đầu thế kỷ
XXI.
2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
2.1. Ngày nay, việc liên kết, hội nhập kinh tế trong khu vực cũng như trên
toàn thế giới không còn là vấn đề quá xa lạ. Xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa
phát triển đã thúc đẩy các quốc gia liên kết chặt chẽ với nhau hơn trên nhiều lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội… Từ bối cảnh thế giới, khu vực Đông Á
nói chung và Đông Bắc Á nói riêng, xu hướng ký kết các Hiệp định thương mại
tự do (FTA) song phương và đa phương đã và đang ngày càng nở rộ. Đây là tiến
trình phát triển chung khi các quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với nhau hơn về
kinh tế. Để tiếp tục bổ sung những hiểu biết về xu hướng ký kết các hiệp định
thương mại tự do, khám phá quá trình hình thành và nỗ lực của các quốc gia
5
Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hướng tới việc thiết lập khu vực thương mại
tự do Đông Bắc Á cũng như các thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức và tác
động của nó là mục đích mà luận văn chúng tôi mong muốn đạt được.
2.2. Từ những nỗ lực và kết quả của việc tìm hiểu, nghiên cứu, luận văn
chúng tôi mong muốn góp phần bổ sung ý kiến, nhận định đồng thời dự đoán
hướng tới việc hình thành hiệp định thương mại tự do (Thuận lợi, khó khăn, nỗ
lực của từng quốc gia). Đồng thời, đề tài đưa ra nhận định về triển vọng hình
thành FTA Đông Bắc Á và kiến nghị đối với Việt Nam thông qua việc chủ động
xây dựng các cơ chế hợp tác, kế hoạch chiến lược, cải thiện môi trường cũng như
tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
thích nghi với mọi biến đổi của nền kinh tế khu vực và thế giới.
4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á đã thúc đẩy các nước Đông Á quan
tâm hơn đến chủ nghĩa khu vực kinh tế. Mối liên kết ngày càng bền chặt giữa các
nền kinh tế buộc các nước trong khu vực phải tăng cường hợp tác. Bắt đầu bằng
Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 đầu tiên tại Kuala Lumpur tháng 02/1997 và
sau đó là cuộc gặp lịch sử của các nhà lãnh đạo ba nước Trung Quốc, Nhật Bản,
Hàn Quốc tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 ở Manila tháng 11/1999. Ý tưởng
về việc thành lập Khu vực thương mại tự do (FTA) Đông Bắc Á được thủ tướng
Trung Quốc - Chu Dung Cơ đưa ra tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 ở
Singapore vào năm 2000, từ đó đến nay 3 nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn
Quốc đều đã nỗ lực hướng tới FTA ba bên nhưng chưa thể trở thành hiện thực.
7
Đối với việc nghiên cứu khả năng hình thành của một FTA ba bên giữa
Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã bước
đầu tìm hiểu với các công trình như:
Báo cáo nghiên cứu chung về FTA ba bên giữa Trung Quốc, Nhật Bản và
Hàn Quốc của Bộ kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản năm 2011 nêu
rõ tầm quan trọng của ba nền kinh tế Đông Bắc Á đối với khu vực và thế giới.
Thương mại giữa ba nước đã gia tăng nhanh chóng trong thời gian gần đây. Theo
báo cáo, xuất khẩu của Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc từ 1992 - 2010
chiếm các tỷ lệ tương ứng 10.4 %, 5.1%, và 3.1 % và nhập khẩu là 9.1%, 4.5%,
2.8% so với thế giới. Tỷ trọng thương mại nội vùng giữa ba nước cũng tăng đều
đặn từ 12.3% năm 1990 lên 19% vào năm 1996 cho đến khi cuộc khủng hoảng
trong những thập niên đầu thế kỷ XXI.
Bài nghiên cứu Chủ nghĩa khu vực thương mại ở Đông Á: Dưới góc nhìn
quan hệ cạnh tranh và song phương đăng trên Tạp chí Asian Perspective của tác
giả Gregory P. Corning tập trung tìm hiểu cách thức mà thương mại song phương,
cạnh tranh Trung - Nhật, và chủ nghĩa khu vực có thể thúc đẩy Trung Quốc,
Nhật Bản, Hàn Quốc tiến đến gần hơn FTA ba bên. Bài viết chọn các hình mẫu
ASEAN+3, ASEAN+6 để phân tích các trở ngại kinh tế, chính trị có thể gặp phải
ứng với việc đàm phán FTA Trung - Nhật - Hàn. Tác giả lập luận rằng các hiệp
định thương mại tự do song phương sẽ đóng vai trò buộc các quốc gia Đông Bắc
Á hướng tới gần hơn FTA. Trong đó, việc thực hiện các FTA song phương giữa
Trung Quốc - Hàn Quốc và Nhật Bản - Hàn Quốc là tiền đề quan trọng của việc
hình thành FTA Trung - Nhật - Hàn.
Trong nước, bài nghiên cứu Kinh tế Đông Bắc Á: Đặc điểm và xu hướng
biến đổi, Tạp chí nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, Mai Văn Bảo đề cập đến
đặc điểm của ba nền kinh tế lớn thuộc khu vực Đông Bắc Á là Trung Quốc, Nhật
9
Bản, Hàn Quốc. Theo tác giả, ba quốc gia này đã có những bước phát triển và
thành tựu đáng khích lệ trong những năm gần đây, đưa Đông Bắc Á trở thành
khu vực năng động bậc nhất trên thế giới. Tác giả nhận định: “Việc đàm phán và
ký kết các hiệp định thương mại song phương (FTA) đã trở thành một trong
những hoạt động kinh tế nổi bật của các nước Đông Bắc Á trong những năm gần
đây” [2, tr. 5]; “ Điểm nổi bật trong tiến trình hợp tác kinh tế giữa các nước
Đông Bắc Á chủ yếu (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) là sự gia tăng mạnh
của quan hệ thương mại và đầu tư. Trong đó, Trung Quốc đã trở thành thị trường
đầy hấp hẫn đối với các nhà đầu tư Nhật Bản và Hàn Quốc. Ngoài các hiệp định
về FTA với các nước ngoài khu vực, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đã và
đang xúc tiến việc ký FTA ba bên giữa ba nước này” [2, tr. 7]
Năm 2006, Ngô Xuân Bình cho đăng bài Liên kết kinh tế Đông Bắc Á –
Liệu có một FTA Trung Quốc - Nhật Bản - Hàn Quốc trên Tạp chí Nghiên cứu
Đông Bắc Á, phương thức FTA ASEAN+3 và phương thức FTA ASEAN+6.
Trong đó, phương thức AFTA kết hợp FTA Đông Bắc Á được tác giả xem như
cách thức tối ưu.
Bản tin Thông tấn xã Việt Nam với tựa đề FTA Trung - Nhật - Hàn:
Đường dài không bằng phẳng (2012) nêu ra được nhiều vấn đề liên quan đến
FTA Đông Bắc Á. Theo đó, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã theo đuổi tiến
trình đàm phán FTA ba bên suốt gần 10 năm qua, kể từ khi sáng kiến này được
đề xuất vào cuối năm 2002. FTA Trung - Nhật - Hàn có thể sẽ có tầm quan trọng
vô cùng lớn về mặt kinh tế không chỉ đối với các nước này mà còn đối với cả
11
toàn cầu. Tác giả nhận định: “Chỉ cần ba nước đồng tâm hiệp lực, xác định rõ
các lĩnh vực hợp tác cụ thể để củng cố lòng tin cũng như phân chia lợi ích một
cách thỏa đáng, một FTA trong tương lai là điều hoàn toàn có thể hy vọng” [76].
Tuy nhiên, FTA ba bên như vậy sẽ đòi hỏi một quá trình đàm phán kéo dài do va
chạm các lợi ích kinh tế, chính trị giữa các nước.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Trong quá trình thực hiện đề tài, từ những tài liệu, sách, báo, bài
nghiên cứu, thu thập được, chúng tôi áp dụng các phương pháp của quan hệ quốc
tế gồm phương pháp nghiên cứu về lý thuyết (định tính) và phương pháp lịch sử
để thực hiện luận văn. Phương pháp định tính nhằm thu thập các thông tin khoa
học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có về sự hình thành các hiệp
định thương mại tự do trên thế giới, tại khu vực Đông Á và rút ra kết luận khoa
học, kết hợp chặt chẽ các phương pháp đọc và phân tích tài liệu, phân loại hệ
thống, phương pháp mô hình hóa. Đồng thời, phương pháp lịch sử được sử dụng
để sắp xếp, phân loại trình tự xuất hiện, hình thành và phát triển của sự vật, hiện
tượng (xu hướng ký kết và đàm phán các hiệp định thương mại tự do) theo đúng
trật tự thời gian và không gian qua đó rút ra tính chất, đặc điểm xu hướng và quy
luật vận động. Mặt khác, đề tài sử dụng phương pháp giả thuyết để dự đoán bản
chất của sự vật hiện tượng, những thuận lợi, khó khăn, cơ hội thách thức, tác
gia Đông Bắc Á đều nhận thức được lợi ích của mình khi tham gia vào quá trình
liên kết, hợp tác khu vực. Ngoài ra, đề tài cũng tiếp cận quan điểm của chủ nghĩa
hiện thực, đó là cuộc đấu tranh quyền lực về chính trị hay kinh tế là một quy luật
13
“vĩnh cửu”, “bất biến” và do đó, trong môi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay
thì mục đích tối thượng của mỗi quốc gia là đảm bảo mục đích “sống còn” cho
dân tộc mình. Đồng thời đề tài áp dụng quan điểm của chủ nghĩa tự do, tập trung
vào các giá trị của một nền kinh tế toàn cầu (toàn cầu hóa) thị trường tự do,
thương mại tự do và sự lưu thông không hạn chế của đồng vốn để phân tích nỗ
lực của Trung Quốc Nhật Bản, Hàn Quốc hướng tới khu vực thương mại tự do
Đông Bắc Á.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở hình thành khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á.
Nghiên cứu sự hình thành các hiệp định thương mại tự do trên thế giới và
khu vực Đông Á. Các yếu tố tác động đến việc hình thành khu vực thương mại
Đông Bắc Á gồm: yếu tố về địa lý, an ninh - chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội.
Chương 2: Nỗ lực hướng tới khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á
Nghiên cứu thuận lợi và khó khăn trong việc thiết lập khu vực thương mại
tự do Đông Bắc Á, những nỗ lực riêng và chung trong việc thiết lập khu vực
thương mại tự do Đông Bắc Á.
Chương 3: Triển vọng khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á
Nghiên cứu cơ hội và thách thức, dự đoán tác động và đánh giá triển vọng
của việc thiết lập khu vực thương mại tự do Đông Bắc Á.
16
17
phổ biến các cơ chế hợp tác; hợp tác đa phương toàn khu vực, hợp tác đa phương
tiểu khu vực, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và khu vực
(RTA/BFTA) tiếp tục được hình thành, phát triển đa dạng hơn. Xu thế liên kết
kinh tế khu vực xuất hiện như một tất yếu của quá trình toàn cầu hóa. Các quốc
gia trong cùng vị trí địa lý nhận thức tầm quan trọng của hợp tác song phương
lẫn đa phương. “Khu vực hóa kinh tế là biểu hiện của toàn cầu hóa kinh tế trong
phạm vi khu vực, hai quá trình này có tác động bổ sung, thúc đẩy lẫn nhau” [61,
tr. 202].
Sự nổi lên của hợp tác kinh tế trong khu vực và song phương phản ánh kết
quả của toàn cầu hóa. Hợp tác đa phương gặp khó khăn được thay thế bởi xu thế
song phương và khu vực nhằm tạo ra con đường dễ dàng hơn, tiền đề cho các
hình thái hợp tác cao hơn. Theo nhận định của Lê Văn Sang đặc điểm của hợp
tác khu vực được thể hiện như sau: “Một là, phát triển với tốc độ rất nhanh, có
thể thấy qua sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu của 3 tổ chức kinh tế
khu vực lớn nhất toàn cầu là EU, NAFTA và APEC; hai là lan rộng khắp toàn
cầu, biểu hiện ở số lượng các tổ chức hợp tác kinh tế mang tính khu vực hoặc
tiểu khu vực tăng nhanh ở mọi châu lục; ba là, Nam-Bắc cùng liên kết hợp tác
với nhau, NAFTA, APEC đến EU mở rộng đều có nhiều nước đang phát triển
tham gia; bốn là các tiểu khu vực đi trước một bước, điều này thể hiện đậm nét
trong tiến trình liên kết kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương” [61, tr. 201].
Liên kết kinh tế - thương mại khu vực được hình thành bởi các hiệp định
hợp tác có tính khu vực nhằm hỗ trợ lẫn nhau về mọi mặt, nhất là trong hoạt
động kinh tế - thương mại và được tổ chức thực hiện theo các hình thức và mức
độ cao dần như sau:
18
Khu vực mậu dịch tự do (FTA) là liên kết kinh tế có tính thống nhất, các
nước trong liên kết cùng thỏa thuận thuận lợi hóa trong hoạt động đầu tư và
xây dựng cơ chế chung điều tiết thị trường của các nước thành viên. Tiến tới xây
dựng chính sách kinh tế đối ngoại chung trong quan hệ với các nước ngoài khối.
Khối thị trường chung có các hình mẫu tiêu biểu như: Thị trường chung Nam
Mỹ (MERCOSUR), thị trường chung Trung Mỹ (CACM), thị trường chung các
nước vùng Caribe (CARICOM).
Liên minh kinh tế (Economic Union) là hình thức liên kết kinh tế có tính tổ
chức thống nhất cao hơn so với thị trường chung. Trong đó, các nước trong liên
minh xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại và chính sách phát triển kinh tế nội
địa chung như chính sách phát triển kinh tế ngành, phát triển kinh tế vùng mà
không bị chia cắt bởi biên giới lãnh thổ giữa các nước thành viên. Các nước cùng
nhau lập ra bộ máy điều hành có tác dụng điều khiển, phối hợp các hoạt động
của liên minh kinh tế.
Liên minh tiền tệ (Monetary Union) là hình thức liên kết kinh tế cao nhất,
là tổng hòa của nhiều nền kinh tế, có thể xem như kết quả của hợp tác đa quốc
gia với những đặc điểm: có chính sách kinh tế, đối ngoại chung, ra đời đồng tiền
chung có hiệu lực trên tất cả các quốc gia, ngân hàng trung ương thay thế cho hệ
thống ngân hàng khu vực, xây dựng quỹ tiền tệ chung… hướng tới cái đích cao
hơn là liên minh chính trị.
Theo Inkyo Cheong và Bùi Trường Giang: “Các hiệp định thương mại tự
do trước đây thường chú trọng việc đối xử ưu tiên trong trao đổi hàng hóa như
20
xóa bỏ thuế đánh vào các mặt hàng chế tạo và hàng nông sản, nhưng những hiệp
định gần đây lại phát triển theo hướng mở rộng hợp tác trong nhiều lĩnh vực như
đầu tư và dịch vụ, đồng thời bao hàm các quy định thương mại như chính sách
cạnh tranh, chống phá giá, quyền sở hữu trí tuệ, các thủ tục chính quyền… Ngoài
ra, các hiệp định mới ít chú trọng đến yếu tố gần kề về địa lý, do vậy các nước ở
xa nhau về khoảng cách địa lý cũng có thể tích cực thúc đẩy các hiệp định
thương mại tự do song phương với nhau” [50, tr. 102]. Các hiệp định thương mại
tự do hiện nay không có sự phân biệt về trình độ phát triển kinh tế, một khu vực
ký/ đang
đàm phán
Đang
đàm phán
Đã ký kết
nhưng chưa
có hiệu lực
Đã ký kết và
có hiệu lực
1995
1
0
0
15
14
30
2000
3
0
6
19
25
53
2005
44
18
28
27
51
168
1.1.2. Sự hình thành các hiệp định thương mại tự do ở Đông Á
Khu vực Đông Á nơi tập trung 65% GDP của thế giới, 55% giá trị thương
mại toàn cầu, 50% tổng giá trị các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài, được mệnh
danh là “khu vực của thế kỷ XXI”. Hiện tại, Đông Á không chỉ là nơi đang nổi
22
lên xu hướng liên kết khu vực mạnh mẽ (ASEAN, ASEAN+1, ASEAN+3…) mà
còn là điểm giao thoa, đan xen lợi ích chiến lược của các nước lớn như Mỹ,
Trung Quốc, Nhật Bản. Những năm gần đây, sự trỗi dậy và gia tăng nhanh
chóng ảnh hưởng của những nước này đã làm tăng tầm quan trọng của Đông Á
trong chiến lược khu vực và toàn cầu của các nước lớn.
Tự do hóa và liên kết trong khu vực Đông Á được tạo nên bởi sự chi phối
của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố về mặt lịch sử văn hóa làm cho quá trình
này được tiến hành chậm hơn về thời gian so với một số khu vực khác trên thế
giới. Song có thể thấy từ những thập niên cuối của thế kỷ XX, xu hướng tự do
hóa trong các hoạt động kinh tế ở khu vực Đông Á lại phát triển nhanh và mạnh,
đặc biệt trong lĩnh vực thương mại và đầu tư. Bên cạnh APEC, ASEAN là các
hiệp định và thỏa thuận tăng cường liên kết và tự do hóa như ASEAN - Trung
Quốc, ASEAN - Nhật Bản, Nhật Bản - Singapore, Nhật Bản - Thái Lan… Có thể
thấy quá trình liên kết và hội nhập trong khu vực diễn ra trên nhiều phương diện
(kinh tế, chính trị) và mang tính đa cấp, cả ở cấp độ song phương, đa phương lẫn
toàn cầu. Diễn biến của quá trình liên kết Đông Á bao gồm những điểm cơ bản
sau:
Thứ nhất, tự do hóa và hội nhập mạnh mẽ trong phạm vi ASEAN. Đối với
các nước ASEAN, xu hướng liên kết kinh tế được thể hiện rõ nét và đa đạng.
Đồng thời, mức độ liên kết mang tính thể chế chặt chẽ ngày càng được tăng
cường hơn trong những năm gần đây. Kể từ Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4
ở Singapore tháng 1/1992 với việc thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN
(AFTA), sự hợp tác kinh tế của ASEAN bắt đầu có mục tiêu rõ ràng trong tiến
trình hội nhập kinh tế giữa các nước trong khối. Các khuôn khổ hoạt động của
nước Đông Bắc Á nỗ lực nhằm xích lại gần nhau hơn. Trong bối cảnh của liên
kết khu vực xuất hiện khắp nơi từ châu Âu đến châu Mỹ, và sức ép của của cuộc
khủng hoảng tài chính khu vực 1997-1998, các quốc gia Đông Bắc Á đã thống
nhất tổ chức một cơ quan nghiên cứu chung 3 bên về vấn đề hợp tác kinh tế tại
Hội nghị Manila (11/1999). Xét về lợi ích, các quốc gia này có thể bổ sung cho
nhau một cách tuần hoàn nhờ vào đặc điểm riêng của từng nền kinh tế. Nhật Bản
là quốc gia có trình độ khoa học phát triển cao và nguồn vốn lớn. Hàn Quốc rất
mạnh về xuất khẩu và đặc biệt phát triển trong các ngành chế tạo máy móc, đóng
tàu. Trung Quốc lại là một đất nước rộng lớn, đồng nghĩa với một thị trường vô
cùng tiềm năng đang vươn mình phát triển, rất cần đầu tư từ bên ngoài cũng như
thiết bị khoa học kĩ thuật hiện đại.
Khu vực Đông Á, mãi tới những năm cuối của thế kỷ XX mới xuất hiện
xu hướng hội nhập kinh tế khu vực một cách rõ rệt, biểu hiện sinh động nhất là
làn sóng FTA trong khu vực. Khu vực Đông Á có thể đi sau hai trung tâm kinh
tế lớn của thế giới là EU và Bắc Mỹ trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực,
nhưng kể từ sau khi cuộc khủng hoảng tài chính 1997 - 1998, các quốc gia Đông
Á đã và đang điều chỉnh chính sách kinh tế của mình theo hướng cân bằng hơn
giữa hội nhập kinh tế đa phương cùng với hội nhập kinh tế khu vực, bắt kịp với
làn sóng FTA toàn cầu. Thực ra, các thỏa thuận mậu dịch tự do đã được tiến
hành từ những năm 1990 với khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) sau đó
phát triển mạnh mẽ trong toàn khu vực với nhiều hình hình thức như: Thỏa thuận
quan hệ kinh tế gần gũi hơn Australia - New Zealand (CER), khu vực thương
mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACAFTA), hiệp định thương mại tự do
ASEAN - Ấn Độ (AIFTA), hiệp định đối tác Kinh tế ASEAN - Nhật Bản
(AJEPA), hiệp định thương mại tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA), khu vực