Luận văn tốt nghiệp: "Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh thương mại dịch vụ mía đường I " - Pdf 21


Luận văn tốt nghiệp

Đề tài: “Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt
động tiêu thụ sản phẩm ở công ty
thực phẩm miền Bắc “



3

PHỤ LỤC
Lời mở đầu
Chương I: Cơ sở lí luận về hoạt động kinh doanh
I-Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị
trường .
1-Doanh nghiệp thương mại và chức năng của nó .
2- Các loại hình doanh nghiệp thương mại .
3-Các yêu cầu và mục đích của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế
thị trường .
II- Nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh thương mại :
1-Hoạt động nghiên cứu thị trường.
2- Huy động và sử dụng hợp lí các nguồn đưa vào kinh doanh .
3- Tổ chức các hoạt động nghiệp vụ .
4- Quản trị vốn, chi phí và nhân sự trong kinh doanh .
III-Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thương mại :
1-Các yếu tố khách quan .
2- Các yếu tố chủ quan .
3-Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương
mại
Chương II: Thực trạng hoạt động kinh doanh của trung tâm kinh doanh
thương mại dịch vụ mía đường :
I-Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm
1-Lịch sử hình thành và phát triển của trung tâm .
2-Chức năng hoạt động của trung tâm .
3-Nhiệm vụ và quyền hạn của trung tâm
4-Chế độ hoạt động tài chính 5
Chương I.
LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
THƯƠNG MẠI

I. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI TRONG
NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1. Doanh nghiệp thương mại và chức năng của nó.
Sự phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất đã làm tăng thêm
lực lượng sản xuất xã hội, nảy sinh nền sản xuất hàng hóa. Quá trình sản xuất bao
gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Chuyên môn hoá đã tạo sự cần
thiết phải trao đổi sản phẩm giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Sự trao đổi
này bắt đầu với tính chất ngẫu nhiên, hiên vật, dần dần phát triển mở rộng cùng
với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, khi tiền tệ ra đời làm cho quá trình trao
đổi sản phẩm mang hình thái mới là lưu thông hàng hoá với các hoạt động mua và
bán. Quá trình lưu thông hàng hoá tất yếu đòi hỏi một sự hao phí lao động xã hội
nhất định trong quan hệ trao đổi hàng hóa trực tiếp giữa người sản xuất và người
tiêu dùng, lao động đó là cần thiết và có ích cho xã hội, nhằm chuyển đổi hình thái
giá trị từ H-T và lĩnh vực lao động đó cũng đòi hỏi được chuyên môn hoá cao, lao
động trong lĩnh vực lưu thông nhằm giúp đỡ cho các nhà sản xuất khỏi việc phân
phối, trao đổi để tập trung chuyên môn hoá cao hơn, nâng coa năng suất và hiệu
quả lao động do yêu cầu khách quan của hoạt động sản xuất kinh doanh, ngành
lưu thông hàng hoá- ngành thương mại dịch vụ ra đời.

Thứ hai là thực hiện chức năng tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu
thông, thực hiện chức năng này doanh nghiệp thương mại phải tham gia hoàn
thiện sản phẩm như phân loại, đóng gói, chọn lọc, sơ chế, lắp ráp, ghép đồng bộ,
vận chuyển, tiếp nhận, bảo quản. Với chức năng này, hàng hoá qua doanh nghiệp
được duy trì và tăng thêm gía trị sử dụng tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu
dùng, đồng thời nâng cao khả năng thâm nhập thị trường của hàng hoá kinh
doanh.
Thứ ba là tham gia vào tổ chức sản xuất : doanh nghiệp thương mại là hậu
cần cho sản xuất, phục vụ tiêu dùng, đại diện cho các đơn vị tiêu dùng quan hệ với
các doanh nghiệp sản xuất để đặt hàng, ký kết hợp đồng do đó pahỉ là người am
hiểu nhu cầu thị trường, thị hiếu người tiêu dùng để hướng dẫn sản xuất phù hợp

7

với nhu cầu thị trường về số lượng, chất lượng, cơ cấu, giá cả, kịp thời gian.
Doanh nghiệp thương mại đại diện cho người sản xuất quan hệ với người tiêu
dùng, thực hiện chức năng này doanh nghiệp thương mại kkhông chỉ đơn thuần là
lưu thông hàng hoá mà phải nghiên cứu thị trường, tìm hiểu thị hiếu, nhu cầu
khách hàng giúp người sản xuất chiếm lĩnh thị trường đồng thưòi tham gia giới
thiệu quảng cáo sản phẩm giúp cho người sản xuất mở rộng thị trường.
Doanh nghiệp thương mại là trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng,
các doanh nghiệp đảm bảo sự cân đối cung cầu hàng hoá, tổ chức sự vận động hợp
lý của sản phẩm hàng hoá trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp thương mại là
trung tâm thông tin về thị trường, qua hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
thương mại góp phần phân bố lại sản xuất xã hội, hình thành các ngành nghề mới.
* Nhiệm vụ của doanh nghiệp thương mại : Hoạt động kinh doanh trong
nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đều có nhiệm vụ chung sau đây :
- Hoạt động kinh doanh phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường, thực
hiện đầy đủ các cam kết với khách hàng về sản phẩm, dịch vụ, giải quyết thoả
đáng quan hệ lợi ích với các chủ thể kinh doanh và chủ thể khác theo nguyên tắc

loại hình kinh doanh này có đặc điểm với cùng một mặt hàng có công dụng như
nhau nhưng có nhiều nhãn hiệu, kiểu dáng, mẫu mã, nhiều hãng sản xuất khác
nhau cho phép khách hàng so sánh, lựa chọn hàng phù hợp với yêu cầu của mình.
Với loại hình doanh nghiệp này, trình độ chuyên môn hoá ngày càng được nâng
cao, có thể tổ chức tốt các nghiệp vụ trong khâu mua, bán, bảo quản và tổ chức cá
hoạt động dịch vụ phục vụ theo yêu cầu, doanh nghiệp còn có thể nắm bắt được
thông tin về thị trường, giá cả tốt hơn. Tuy nhiên với hình thức kinh doanh này,
mức độ rủi ro cao đặc biệt khi nhu cầu đột ngột giảm hoặc có hàng hoá thay thế.
Để kinh doanh chuyên môn hoá đòi hỏi tổ chức kinh doanh ở nơi có nhu cầu lớn,
ổn định.
- Loại hình doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp : là các doanh nghiệp kinh
doanh nhiều mặt hàng có công dụng, trạng thái, tính chất khác nhau, với loại
doanh nghiệp này mức độ rủi ro ít hơn bởi vì khi có biến động trong nhu cầu của
mặt hàng này thì vẫn còn doanh thu từ mặt hàng khác, tốc độ lưu chuyển vốn kinh
doanh nhanh, tuy nhiên trình độ chuyên môn hoá không sâu, trong điều kiện cạnh
tranh khó thắng được đối thủ, kinh doanh nhỏ nên không kiếm được lợi nhuận siêu
ngạch, đòi hỏi nguồn vốn kinh doanh lớn, hệ thống mạng lưới kinh doanh phải bố
trí ở những nơi nhu cầu nhỏ lẻ.
- Loại hình kinh doanh đa dạng hoá : là loại hình doanh nghiệp kinh doanh

9

nhiều mặt hàng, nhiều lĩnh vực nhằm tận dụng lao động, cơ sở vật chất và phân
tán rủi ro. Tuy nhiên với hình thức này đòi hỏi vốn lớn, người quản lý phải là
người giỏi, nắm được bí quyết trong sản xuất, phân phối, bán hàng để có khả năng
cạnh tranh.
3. Yêu cầu và mục đích của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế thị
trường.
- Đặc trưng của nền kinh tế thị trường :
+ Trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động kinh doanh đều phải dựa vào thị

khăn cho các doanh nghiệp . Để duy trì, mở rỏọng kinh doanh phải xác định mục
tiêu của mình trên cơ sở có thể không phải là lợi nhuận mà chấp nhận lỗ để duy trì
kinh doanh khi thị trường có biến động bất lợi. Vì vậy việc lựa chọn mục tiêu
thường xếp theo hình tháp để xác định mục tiêu quan trọng nhất, mục tiêu phải
thực hiện trước tiên ở từng giai đoạn, nhìn chung mỗi doanh nhgiệp thường tập
trung vào 3 mục tiêu cơ bản đó là :
+ Lợi nhuận : Cơ chế thị trường cho phép các doanh nghiệp tự do kinh
doanh, tự do cạnh tranh và tự chủ trong kinh doanh tức là lấy thu bù chi đảm bảo
lợi nhuận, nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của họ. Khác với
nền kinh tế tập trung trước đây nhà nước can thiệp quá sâu vào kinh doanh từ khâu
kế hoạch cho đến kinh doanh cái gì, cho ai và như thế nào, lãi nộp nhà nước cho
nên các doanh nghiệp không quan tâm đến lợi nhuận, sang cơ chế thị trường lợi
nhuận đóng vai trò quan trọng, là nguồn động lực tích cực của kinh doanh, là mục
tiêu cơ bản, lâu dài, là đích mà mọi doanh nghiệp đều đang hướng tới.
+ Thế lực : đây chính là mục tiêu thứ hai mà các doanh nghiệp hướng tới,
sở dĩ mục tiêu này quan trọng bởi vì trong nền kinh tế thị trường số lượng doanh
nghiệp tham gia vào kinh doanh nhiều với mặt hàng phong phú, cạnh tranh gay gắt
không chỉ giữa người bán với nhau mà giữa người mua với người mua, giữa người
mua với người bán. Để đạt được lợi nhuận thì đòi hỏi phải thắng trong cạnh tranh,
phải thu hút được ngày càng nhiều khách hàng, không ngừng tăng doanh số bán và
các hoạt động dịch vụ phục vụ, không ngừng mở rộng quy mô và phát triển thị
trường, tăng thị phàn của doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo cho mình
được thế mạnh về khả năng thu hút khách, về vốn kinh doanh, về nhân lực…
+ An toàn : đây cũng là mục tiêu mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều
trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay bởi vì kinh doanh trong cơ chế thị
trường phải chấp nhận rủi ro, khả năng không bán được hàng thường xảy ra,
doanh nghiệp có thể gặp may trong thương vụ này nhưng có thể phải đối mặt với

11


cuả doanh nghiệp không thể lớn được, doanh nghiệp sẽ không có cơ hội phát triển

12

kinh doanh.
+ Thị trường phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp bởi vì thị
trường diẽn ra các hoạt động kinh doanh ở đó người bán, người mua, người trung
gian gặp nhau để trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Chính vì vậy mọi hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp đều thể hiện trên thị trường, qua thị trương nó sẽ phản
ánh được tốc độ phát triển, quy mô kinh doanh và mức độ chiếm lĩnh thị trường
của doanh nghiệp.
+ Thị trường còn đóng vai trò điều tiết hoạt động kinh doanh, qua yếu tố
cung, cầu và giá cả nó làm hàng hóa vận động hợp lý hơn đi từ nơi hàng hóa nhiều
đến nơi hàng hoá ít, từ nơi giá thấp đến nơi giá cao…
+ Thị trường là nơi kiểm tra, đánh giá các chương trình kế hoạch, quyết
định kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vì qua hoạt động trên thị trường mới thấy
được những điểm đúng đắn, hợp lý đồng thời cũng biểu hiện những điểm bất cập
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH THƯƠNG MẠI.

Nội dung chủ yếu của hoạt động kinh doanh thương mại bao gồm một loạt
các hoạt động phục vụ cho hoạt động kinh doanh như nghiên cứu nhu cầu thị
trường, tổ chức các hoạt động nghiệp vụ, huy động nguồn lực phục vụ cho kinh
doanh và quản lý các yếu tố về vốn, chi phí.
1. Nghiên cứu thị trường.
Nền kinh tế thị trường không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo của
doanh nghiệp mà còn tăng khả năng thích ứng trước sự thay đổi của thị trường,
nếu như trước kia các doanh nghiệp kinh doanh theo kế hoạch của nhà nước thì
bây giờ mọi hoạt động kinh doanh đều xuất phát từ thị trường, thị trường đầy bí ẩn

được những thông tin đó doanh nghiệp phải coi công tác nghiên cứu thị trường là
một hoạt động không kém phần quan trọng như hoạt động quản lý, nghiệp vụ bởi
vì công tác nghiên cứu thị trường không trực tiếp tham gia vào các hoạt động
trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như mua, bán… nhưng kết quả của
nó ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên
đây chưa phải là một giải pháp có thể giải quyết được mọi vấn đề của doanh

14

nghiệp nhưng nó vốn là một hoạt động không thể thiếu được đối với bất kỳ một
doanh nghiệp nào.
Công tác nghiên cứu thị trường được tiến hành một cách khoa học sẽ giúp cho
doanh nghiệp xác định được :
- Lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và lựa chọn sản phẩm kinh
doanh cũng như các chính sách duy trì, cải tiến hay phát triển sản phẩm.
- Nhu cầu hiện tại, tương lai và các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu thị trường,
xác định được mục tiêu của doanh nghiệp.
- Tìm được nguồn hàng, các đối tác và bạn hàng kinh doanh, lựa chọn kênh
phân phối và các biện pháp xúc tiến phù hợp.
Trên cơ sở nghiên cứu thị trường và đánh giá khả năng tiềm lực của mình,
doanh nghiệp lựa chọn hình thức kinh doanh, mặt hàng, thị trường và người cung
cấp.
2. Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn đưa vào kinh doanh.
Kinh doanh tức là đầu tư tiền của, sức lực vào một lĩnh vực nào đó nhằm kiếm
lời, yêu cầu đối với doanh nghiệp khi tham gia vào kinh doanh là phải có các
nguồn lực bao gồm nguồn lực về tài chính và con người.
Các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể huy động đưa vào kinh doanh bao gồm
vốn vô hình như sự nổi tiếng về nhãn hiệu, uy tín, kinh nghiệm và trình độ của cán
bộ công nhân viên. Đây là nguồn quan trọng nhưng việc tích luỹ đòi hỏi thời gian
lâu dài, nguồn này có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh và mở rộng

nguồn, dự trữ, phân phối, bán hàng và thực hiện các hoạt động dịch vụ.
*Doanh nghiệp thương mại thực hiện nhiệm vụ cung ứng cho sản xuất, tiêu
dùng những hàng hoá cần thiết, phù hợp nhu cầu. Để hoàn thành nhiệm vụ đó thì
doanh nghiệp phải tổ chức công tác tạo nguồn.
Công tác tạo nguồn là toàn bộ những hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồn
hàng có khối lượng và cơ cấu thích hợp với nhu cầu. Thông qua việc nghiên cứu
thị trường, doanh nghiệp xác định được nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ, xác định
được các nguồn hàng, khả năng cung ứng của họ, tổ chức ký kết hợp đồng, đặt
hàng, mua từ nguồn hàng trôi nổi trên thị trường, nguồn hàng do liên doanh liên

16

kết với đơn vị sản xuất để khai thác, chế biến, nguồn hàng tự tổ chức sản xuất,
nhận đại lý, ký gửi.
Để nắm vững thị trương nguồn hàng, hạn chế bị động trong lựa chọn đối tác
giao dịch, các doanh nghiệp phải nghiên cứu khả năng cung ứng của từng loại
hàng hoá. Đó là xác định số lượng, nhà cung ứng trong và ngoài nước, khả năng
cung ứng của các nhà cung cấp trong hiện tại và tương lai. Khi nghiên cứu về nhà
cung cấp doanh nghiệp phải tìm hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, lĩnh vực và
phạm vi kinh doanh để thấy được khả năng cung cấp lâu dài, thường xuyên, liên
kết kinh doanh và đặt mua, nghiên cứu về vốn, kỹ thuật, uy tín của nhà cung cấp.
Đồng thời doanh nghiệp cũng phải tìm xem nguồn nào thoả mãn được các yêu cầu
. Nguồn hàng đó phù hợp về mặt số lượng nghĩa là nó có thể đáp ứng đúng số
lượng hàng hoá mà công ty cần theo yêu cầu, đáp ứng theo yêu cầu về chất lượng,
kịp thời gian, đảm bảo hiệu quả cao. Ngoài ra nó còn phải thoả mãn các điều kiện
khác của doanh nghiệp như phù hợp với điều kiện vận chuyển, giao nhận, thanh
toán…
Mục đích của công tác tạo nguồn mua hàng là để bán hàng ,mua là tiền đề cơ
sở của hoạt động bán, để thực hiện mục tiêu kinh doanh đó là lợi nhuận vì vậy
mua hàng có ý nghĩa rất lớn khi mua hàng doanh nghiệp cấn phải chú ý :

Dự trữ đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, dự trữ không đủ mức cần thiết có nguy cơ làm gián đoạn hoạt động kinh
doanh, mặt khác dự trữ quá nhièu dẫn đén tình trạng ứ đọng hàng hoá, vốn chậm
lưu chuyển. Vì vậy việc xác định đúng đắn mức dự trữ có ý nghĩa lớn, cho phép
giảm các chi phí về bảo quản hàng hoá, giảm hao hụt, mất mát, bảo đảm cho
doanh nghiệp hoạt động thường xuyên, liên tục, thực hiện được các mục tiêu đã đề
ra, tránh dự trữ quá nhiều. Khi tiến hành xác định mức dự trữ doanh nghiệp cần
phải xác định được đại lượng tối đa, tối thiểu căn cứ trên cơ sở tính toán các nhân
tố ảnh hưởng đến hoạt động mua, bán trong kỳ.
Để đảm bảo đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách đều đặn , kịp thời ,
tránh tình trạng thiếu hàng ,không đáp ưngd được yêu cầu của khách hàng trong
kinh doanh dự trữ phait tuân theo nguyên tắc :

18

+Hàng hoá dự trữ cần phải kiểm tra dều đăn , định kỳ , kịp thời bổ sung hàng
hoá khi dựu trữ ở mức giới hạn thấp nhất
+Phải sắp xếp hàng hoá theo nguyên tắc dễ thấy dễ lấy dễ kiểm tra.
+Phải sứp xếp hàng hoá theo nhóm khác nhau .
+Quy định mức dự trữ thấp nhất và cao nhất
* Tổ chức phân phối và bán hàng : Bán hàng là khâu quan trọng mấu chốt,
là nghiệp vụ kinh doanh cơ bản, trực tiếp thực hiện chức năng lưu thông phục vụ
cho sản xuất và đời sống của nhân dân và thực hiện mục tieu kinh doanh củ doanh
nghiệp đó là lợi nhuận. Đồng thời bán hàng là hoạt động nghiệp vụ quan trọng chi
phối các hoạt động nghiệp vụ khác như tạo nguồn, dự trữ, dịch vụ…
Bán hàng là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá từ H- T nhằm thoả
mãn nhu cầu của khách hàng về một giá trị dụng nhất định. Đứng dưới giác độ
nghệ thuật, người ta xem bán hàng là một quá trình tại đó người bán tìm hiểu,
khám phá, gợi tạo nhu cầu và đáp ứng ước muốn của họ trê cơ sở thoả mãn quyền
và lợi ích của cả hai bên. Mở rộng hoạt động kinh doanh phụ thuộc lớn vào tốc độ

hoá, có khả năng tuyên truyền giới thiệu, phải biết sử dụng các phương tiện, dụng
cụ trong quá trình phục vụ khách tạo không khí vui vẻ thực sự có thể nắm bắt
được tâm lý khách hàng và đáp ứng thoả đáng nhu cầu.
+ Làm tốt công tác quảng cáo, kết hợp quảng cáo với bán hàng làm cho hoạt
động quảng cáo phát huy tác dụng thúc đẩy bán hàng.
Đối với doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh vực phân phối và
lưu thông phải đối mặt với cạnh tranh gay gắt vì vậy phải tuân thủ nguyên tắc:
+ Kinh doanh những hàng hoá dịch vụ có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu
của khách hàng.
+ Phải lôi cuốn khách hàng rồi mới nghĩ đến cạnh tranh.
+ Khi làm lợi cho mình phải chú ý đến lợi ích của khách hàng.
+ Tìm kiếm và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường.
+ Nhận thức và nắm bắt cho được nhu cầu của thị trường để đáp ứng đầy
đủ.

20

Tuỳ thuộc vào quy mô kinh doanh, đặc điểm, tính chất, đièu kiện vận
chuyển doanh nghiệp thương mại có thể tổ chức bán hàng thông qua các kênh
khác nhau như tổ chức bán trực tiếp cho người tiêu dùng thông qua mạng lưới bán
lẻ, bán qua trung gian hay môi giới.
Phân phối hàng hóa thực chất là quá trình chuyển hàng hoá vào các kênh
bán hàng một cách hợp lý, góp phần giảm chi phí lưu thông, đáp ứng tối đa yêu
cầu của thị trường đảm bảo lợi nhuận và uy tín với khách.
Đối với hoạt động phân phối hàng hoá để đem lại kết quả cao doanh nghiệp
cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc hiệu quả kinh tế thể hiện qua doanh thu và chi phí làm sao đạt
được lợi nhuận cao nhất.
+ Nguyên tắc đồng bộ liên tục: Khi phân phối hàng hoá phải tính đến nhiều
yếu tố như giá mua, chi phí vận chuyển, bảo quản

- Chi phí kinh doanh bao gồm chi mua hàng và chi phí lưu thông, chi phí
kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp , bởi vì:
lợi nhuận = doanh thu - chi phí.
Do đó chi phí cao làm lợi nhuận giảm. Đối với các doanh nghiệp, chi phí
giữ vai trò quan trọng vì vậy phải quản trị chi phí, quản trị chi phí là phải có kế
hoạch chi, phải theo dõi và tính toán đúng đắn các khoản chi, tiết kiệm chi phí, chi
phải đúng mục đích, đúng kế hoạch và đúng hướng, chi phải có thu, chi để tạo ra
các khoản thu, chi tiêu tiết kiệm tránh những khoản có tính chất phô trương, hình
thức và hạn chế những khoản thiệt hại làm tăng chi phí kinh doanh.
Doanh nghiệp phải thường xuyên đánh giá và giám sát chặt các khoản chi.
Để quản trị chi phí lưu thông được thuận lợi, doanh nghiệp phải lập kế hoạch chi
phí lưu thông và xác định được tổng số tiền chi phí lưu thông và tỷ lệ chi phí lưu
thông đúng đắn, chính xác, phù hợp với tình hình kinh doanh cũng như mặt hàng
kinh doanh, đề ra được các biện pháp tiết kiệm chị phí lưu thông, khắc phục tình
trạng chi tiêu lãng phí. Doanh nghiệp có thể sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá tình
hình chi tiêu:
Mức độ hoàn thành =  cplt thực tế x 100%

22

kế hoạch chi phí lưu thông  cplt kế hoạch
Mức tiết kiệm hay =  số tiền -  số tiền
vượt chi cplt cplt thực tế cplt kế hoạch

Phạm vi hạ thấp = tỉ lệ cplt thực tế - tỉ lệ cplt kế hoạch
hay tiết kiệm cplt
- Quản tri nhân lực : Nói đến sản xuất kih doanh trước hết phải nói đến vấn đề
con người vì con người ở đây quyết định toàn bộ những vấn đề kinh doanh. Có thể
nói mọi quyền lực vật chất cũng như cơ hội kinh doanh chỉ ở dạng tiềm năng và để
biến tiềm năng đó thành hiện thực thì phải có yếu tố con người. Vì vậy sử dụng

hình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực iện mục tieue của doanh nghiệp.
ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính
trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm sự phát
triển của doanh nghiệp khác. Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh
trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh
nghiệp, tránh tình trạng gian lận,buôn lậu
Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép
doanhnghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh và
ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, vì vậy nghiên cứu các yếu tố
chính trị và luật pháp là yeu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia
vào thị trường.
-Yếu tố kinh tế : Có thể tạo ra điều kiện thuận lợi cho việc xâm nhập mở rộng
thị trường, nghhành hàng này nhưng lại hạn chế sự phát triển cuả nghành hàng
khác. Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến sức mua, sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng
hay xu hướng phát triển của các ngành hàng , cac syếu tố kinh tế bao gồm :
+ Hoạt động ngoại thương : Xu hướng đóng mở của nền kinh tế cóảnh hưởng
các cơ hội phát triển của doanh nghiệp ,các điều kiện canh tranh ,khả năng sử
dụng ưu thê quốc gia về công nghệ, nguồn vốn .
+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ
, tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư

24

+Sự thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng dến vị trí vai trò và xu hướng phát
triển của các ngành kinh tế kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của doanh
nghiệp .
+ Tôc độ tăng trưởng kinh tế : Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền
kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp .
-Các yếu tố văn hoá xã hội : Có ảnh hưởng lớn tới khách hàng cũng như hoạt

của doanh nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm có khả năng thay thế. Đối thủ canh
tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì
mới vó khả năng tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường , Cạnh tranh giúp
doanh nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn
,nâng cao được tính năng động nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi.
-Người cung ứng : Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và
ngoài nước mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp, người cung ứng ảnh hưởng
đến hoạt động kinh doanh cua doanh nghiệp không phải nhỏ ,điều đó thể hiện
trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá
cả, thời gian, điạ điểm theo yêu cầu …
2-Các yếu tố chủ quan : Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh
nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát ở mức độ nào đó và sử dụng để khai
thác các cơ hội kinh doanh. Tiềm năng phản ánh thực lực cuả doanh nghiệp trên
thị trường, đánh giá đúng tiềm năng cho phép doanh nghiệp xây dựng chiến lược
và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận dụng được các cơ hội kinh doanh
mang lại hiệu quả cao.
Các yếu tố thuộc tiềm năng của doanh nghiệp bao gồm : Sức mạnh về tài
chính, tiềm năng về con người, tài sản vô hình, trình độ tổ chức quản lí, trình độ
trang thiết bị công nghệ, cơ sở hạ tầng, sự đúng đắn của các mục tiêu kinh doanh
và khả năng kiểm soát trong quá trình thực hiện mục tiêu .
+Sức mạnh về tài chính thể hiện trên tổng nguồn vốn (bao gồm vốn chủ sở
hữu,vốn huy động) mad doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng
quản lí có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh. Sức mạnh tài chính thể hiện

Trích đoạn Tình hình bánhàng ở Trung tâm Tình hình dự trữ: Kết quả kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: NHẬN XÉT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TRUNG TÂM: IV-MỘT SỐ KIẾN NGHỊ : 1_Ki ến nghị với nhà nước :
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status