ÂẢI HC HÚ
KHOA LÛT
BÀI NIÊN LUẬN
BỘ MÔN: KINH TẾ - QUỐC TẾ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ
HUY ĐỘNG VỐN CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. Nguyễn Thanh Tùng Phan Thò Loan
Lớp: Luật K34A
.
Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành niên luận này, ngoài sự cố
gắng của bản thân, sự giúp đỡ của bạn bè,
không thể không kể đến công lao dạy dổ của
quý thầy cô giáo. Em xin gửi tới quý thầy cô
khoa Luật lời cảm ơn chân thành nhất, đặc biệt
em muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy
giáo Nguyễn Thanh Tùng người đã tận tình giúp
đở, hướng dẫn, chỉ bảo và đóng góp ý kiến để
em thực hiện niên luận này.
Do thời gian và lượng kiến thức còn hạn chế
nên trong quá trình nghiên cứu khó tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô giáo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 02 năm
Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp mới ra đời ở Việt Nam,
thời gian qua loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến. Lịch sử phát triển
kinh tế thế giới chỉ ra rằng Công ty cổ phần là mô hình kinh tế phổ biến và
hiệu quả. Ở Việt Nam, việc phát triển mô hình Công ty cổ phần ngoài việc
phát huy sức mạnh của mọi thành phần kinh tế còn mang ý nghĩa phát
triển mô hình sở hữu tập thể. Thực tế hoạt động Cổ phần hoá các doanh
nghiệp Nhà nước thời gian qua đã góp phần xác định rỏ ý nghĩa định hướng
Xã hội chủ nghĩa của cơ chế thị trường ở Việt Nam.
Tuy nhiên hiện nay các Công ty cổ phần ở Việt Nam chưa phát huy được
vai trò thời đại của mình. Qui mô, số lượng các công ty cổ phần còn nhỏ, hiệu
quả hoạt động chưa cao. Đóng góp của Công ty cổ phần cho sự phát triển kinh
tế đất nước chưa xứng với tiềm năng của Công ty cổ phần. Do đó, vấn đề đặt
ra là làm sao phát triển mô hình Công ty cổ phần ở Việt Nam.
Để tồn tại và phát triển, Công ty cổ phần phải liên tục vận động, sắp
xếp bộ máy tổ chức hợp lí, mở rộng qui mô sản xuất, áp dụng công nghệ
mới, công nghệ sạch, khai thác mở rộng thị trường nhưng công việc nay
không thể thiếu yếu tố đó là vốn.
Nhu cầu về vốn là một trong những bức xúc của doanh nghiệp nói
chung va công ty cổ phần nói riêng, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay,
khi mà các công ty đều mong muốn đầu tư mở rộng sản xuất, đa dạng hoá
dịch vụ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh của công ty sau khi Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). CTCP có nhiều hình
thức để huy động vốn như phát hành cổ phiếu, trái phiếu, vay vốn ngân
hàng, tín dụng từ nhà cung cấp, thuê tài chính, v.v Mổi cách thức huy
động vốn đều có ưu nhược điểm riêng.
Tuy nhiên, do trình độ phát triển của hệ thống tài chính còn chưa
cao, cũng như một số hạn chế mang tính chủ quan khác, thực trạng huy
động vốn của các CTCP trong nước hiện còn tồn tại nhiều bất cập cần sớm
được giải quyết. Điển hình là tình trạng các công ty quá phụ thuộc vào
nguồn vốn vay ngân hàng, một nguồn vốn không dễ tiếp cận,trong khi đó
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu
khác nhau như phương pháp duy vật biện chứng, tổng hợp, so sánh, thống
kế, phân tích, qui nạp, diễn dịch để làm rỏ các vấn đề nghiên cứu và đánh
giá các thông tin có liên quan đến việc huy động vốn của CTCP.
5. ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Hệ thống hoá lí luận cơ bản về hoạt động huy động vốn của CTCP
trên thị trường theo pháp luật Việt Nam.
Đánh giá thực trạng huy động vốn của CTCP trên thị trường Việt Nam
những năm qua.
Đề xuất các giải pháp có tính khả thi về tăng cường huy động vốn của
CTCP trên thị trường Việt nam trong những năm tới.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận thì niên luận
gồm 3 chương.
Chương 1: Khái quát về công CTCP và tổng quan về vốn của doanh
nghiệp trong cơ chế thị trường theo pháp luật Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng huy động vốn của CTCP.
Chương 3:Giaỉ pháp tăng cường huy động vốn của CTCP theo pháp
luật Việt Nam.
Để tìm hiểu kỹ lưởng và sâu sắc về tính huy động vốn của các CTCP
theo pháp luật Việt Nam đòi hỏi phải có nhiều thời gian. Do trình độ còn
hạn chế và thời gian nghiên cứu không nhiều nên em chỉ tập trung vào
nhửng vấn đề cơ bản về vốn và các phương thức huy động vốn của CTCP.
Bài niên luận chắc chắn không tránh khỏi sai sót, em rất mong sự
đóng góp của thầy, bạn bè và nhửng người quan tâm.
Em xin chân thành cảm ơn!
PHẦN NỘI DUNG.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ
TỔNG QUAN VỀ VÔN CỦA DOANG NGHIỆP TRONG
CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNGTHEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Từ đó có thể thấy ưu nhược điểm của CTCP như sau:
Ưu điểm của loại hình công ty cổ phần:
Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các
cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi do của các cổ đông không cao.
Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các
lịch vực, ngành nghề.
Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều
người cùng góp vốn vào công ty.
Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc
phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ
phần. Tính chất ổn định, lâu bền, sự thừa nhận hợp pháp, khả năng chuyển
nhượng các cổ phần và trách nhiệm hữu hạn, tất cả cộng lại, có nghĩa là
nhà đầu tư có thể đầu tư mà không sợ gây nguy hiểm cho những tài sản cá
nhân khác và có sự đảm bảo trong một chừng mực nào đo giá trị vốn đầu tư
sẽ tăng lên sau mỗi năm. Điều này đã tạo khả năng cho hầu hết các công ty
cổ phần tăng vốn tương đối dễ dàng.
Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng,
do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay
cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần
Nhược điểm của loại hình Công ty cổ phần:
Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng
các cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm
chí có thể có sự phân hóa thành các nhóm cổ động đối kháng nhau về lợi
ích. Thậm chí phía các cổ đông thường thiếu quan tâm đúng mức, rất nhiều
cổ đông chỉ lo nghĩ đến lãi cổ phần hàng năm và ít hay không quan tâm đến
công việc của công ty. Sự quan tâm đến lãi cổ phần này đã làm cho một số
ban lãnh đạo chỉ nghĩ đến mục tiêu trước mắt chứ không phải thành đạt lâu
dài. Với nhiệm kỳ hữu hạn, ban lãnh đạo có thể chỉ muốn bảo toàn hay tăng
lãi cổ phần để nâng cao uy tín của bản thân mình.
Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ Công ty cổ phần.
Thông qua báo cáo tài chính hàng năm.
Quyết định mua lại hơn 10% tổng số cổ phần đă bán của mỗi loại.
Hội đồng quản trị là cơ quan quản lư Công ty cổ phần, có toàn quyền
nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền
lợi của công ty (trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ
đông). Hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ chính sau:
Quyết định chiến lược phát triển của công ty.
Kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của
từng loại; quyết định huy động thêm vốn theo h́nh thức khác.
Quyết định phương án đầu tư.
Quyết định giải pháp phát triển thị trường; thông qua hợp đồng mua
bán, vay, cho vay và các hợp đồng khác có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50%
tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty.
Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Giám đốc (Tổng giám đốc) và cán
bộ quản lí quan trọng khác của công ty.
Quyết định cơ cấu tổ chức, quy chế quản lí nội bộ công ty, quyết định
thành lập công ty con, lập chi nhánh, văn phòng đại diện và việc góp vốn,
mua cổ phần của doanh nghiệp khác.
Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Đại hội đồng cổ đông
Hội đồng quản trị gồm không quá 11 thành viên, Hội đồng quản trị
bầu Chủ tịch Hội đồng quản trong số các thành viên của mình. Chủ tịch
Hội đồng quản trị có thể kiêm Giám đốc (Tổng giám đốc) theo điều lệ của
công ty.
Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành hoạt động hàng ngày
của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện
các quyền và nhiệm vụ được giao.
1.1.1.3. Cổ phần, cổ phiếu, cổ tức
Thứ nhất,Cổ phần:
" Điều 78. Các loại cổ phần
hữu trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty cổ phần được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh (Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005).
Công ty cổ phần có thể có các loại cổ phần ưu đãi sau:
Thứ nhất, Cổ phần ưu đãi biểu quyết: là cổ phần có số phiếu biểu
quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông. Số phiếu biểu quyết của một cổ
phần ưu đãi biểu quyết do điều lệ công ty quy định. Chỉ có tổ chức được
Chính phủ uỷ quyền và cổ đông sáng lập được quyền nắm giữ cổ phần ưu
đãi biểu quyết.
Thứ hai,Cổ phần ưu đãi cổ tức: là cổ phần được trả cổ tức với mức
cao hơn so với mức cổ tức của cổ phần phổ thông hoặc mức ổn định hằng
năm. Cổ tức là số tiền được trích ra từ lợi nhuận, được chia hằng năm bao
gồm cổ tức cố định và cổ tức thưởng. Cổ tức cố định không phụ thuộc vào
kết quả kinh doanh của công ty. Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức
xác định cổ tức thưởng được ghi trên cổ phiếu của cổ phần ưu đãi cổ tức.
Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức bị tước bỏ một số quyền cơ bản của
cổ đông.
Thứ ba,Cổ phần ưu đãi hoàn lại: là cổ phần được công ty hoàn lại vốn
góp bất cứ khi nào theo yêu cầu của người sở hữu hoặc theo các điều kiện
được ghi tại cổ phiếu của cổ phần ưu đãi hoàn lại. Cổ đông sở hữu cổ phần
ưu đãi hoàn lại bị tước bỏ một số quyền cơ bản của cổ đông.
Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.
Chỉ có cổ đông sáng lập mới được quyền nắm giữ cổ phần ưu đăi biểu
quyết. Cổ phần ưu đăi biểu quyết này chỉ có hiệu lực trong ṿng 3 năm kể từ
ngày Công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng kư kinh doanh, sau
thời hạn đó, cổ phần ưu đăi biểu quyết chuyển thành cổ phần phổ thông.
Thứ hai,Cổ phiếu: Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Là giấy
chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành. Cổ phiếu là
chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác
nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ đông của công ty đó.
Nguời nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu
nghiệp. Như vậy Begg đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp.
Thực chất vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các tài sản
mà doanh nghiệp dùng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn của doanh
nghiệp được phản ánh trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn được coi là một loại hàng hóa. Nó
giống các loại hàng hóa khác ở chỗ có chủ sở hữu đích thực, song nó có
đặc điểm là người sở hữu vốn có thể bán quyền sử dụng vốn trong một thời
gian nhất định. Chi phí của việc sử dụng vốn chính là lãi suất. Chính nhờ
có sự tách rời quyền sử hữu và quyền sử dụng nên vốn có thể lưu chuyển
trong đầu tư kinh doanh để sinh lợi.
Dưới góc độ doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất
cơ bản kết hợp với sức lao động và các yêu tố khác làm đầu vào cho quá
trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong quá
trình sản xuất vật chất riêng biệt mà trong toàn bộ quá trình sản xuất và tái
sản xuất liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp từ khi bắt
đầu đến khi kết thúc quá trình sản xuất.
Như vậy, một cách thông dụng nhất, vốn có thể hiểu là các nguồn tiền tài
trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn tiền này
được hình thành dưới nhiều cách thức khác nhau và tại các thời điểm khác
nhau. Giá trị nguồn vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản
xuất kinh doanh. Tùy từng loại hình doanh nghiệp và các đặc điểm cụ thể mà
mỗi doanh nghiệp có các phương thức tạo vốn và huy động vốn khác nhau.
1.2.2. Phân loại vốn trong doanh nghiệp
Có nhiều cách phân loại vốn, tùy thuộc vào mổi gốc độ khác nhau ta
có các cách phân loại vốn khác nhau.
1.2.2.1. Phân loại vốn theo Tài sản
Loại một: Vốn Lưu động (Tài sản)
Tài sản lưu động được biểu hiện bằng tiền góp toàn bộ Tài sản của
doanh nghiệp có thời gian luân chuyển ngắn, thường trong một kỳ kinh
doanh hay trong vòng một năm. Có thể phân TSLĐ thành ba loại:
thuần của các hoạt động tài chính và các khoản thu nhập bất thường trừ các
Chi phí công đoàn, Chi phí tài chính và các chi phí bất thường khác.
Vốn chủ sở hữu khác là số vốn sở hữu có nguồn gốc lợi nhuận để lại
(các quỹ của Doanh nghiệp) hoặc các loại vốn khác như vốn xây dựng cơ
bản kinh phí nhà nước cấp.
Thứ hai: Công nợ phải trả:
Là số tiền doanh nghiệp phải đi vay đi chiếm dụng của các đơn vị, của cá
nhân mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả, vay ngắn hạn, nợ ngắn hạn.
SƠ ĐỒ PHÂN LOẠI VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
TSLĐ tài chính
TSLĐSX
TSLĐ
Vốn của
doanh
nghiệp
Vốn chủ sở
hữu
vốn góp
TSLĐ lưu thông
LN chưa
phân phối
Vốn chủ
sở hữu
TSCĐ HH
TSCĐ Công nợ
phải trả
TSCĐVH Nợ ngắn hạn
TSCĐTC Nợ dài hạn
1.2.3. Vai trò của vốn đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiên nay
đảm bảo cho quá trình sản suất kinh doanh được diển ra liên tục, giúp
doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt trong
giai đoạn hiện nay - một nền kinh tế phát triển theo xu hướng toàn cầu hóa,
hội nhập. Ngoài ra, vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các
nguồn tiềm năng hiện có và tương lai về sức lao dộng, nguồn hàng hóa, mở
rộng, phát triển thị trường, mở rộng lưu thông và tiêu thụ hành hóa, là chất
keo dính kết quá trình và quan hệ kinh tế, là dầu bôi trơn cho cổ máy kinh
tế hoạt động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn tham gia vào tất cả
các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ và cuối cùng nó lại trở về hình thái ban
đầu là tiền tệ. Như vậy, sự luân chuyển vốn giúp doanh nghiệp thực hiện
được hoạt động tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng của mình.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
2.1. Thực trạng huy động vốn của CTCP ở Việt Nam
2.1.1. Quátrình hình thành và phát triển của CTCP
Ở các nước khác nhau, CTCP có thể có những tên gọi khác nhau. Ở
Pháp là công ty vô danh (anonymous Company), Ở Anh là công ty với
trách nhiệm hữu hạn (Company LTD), ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh
doanh (Commercial Coporation), và ở Nhật Bản gọi là công ty chung cổ
phần (Kabushiki Kaisha)….
Quá trình công nghiệp hoá ở các nước châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ
18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tư của các nhà tư bản đã làm
xuất hiện loại hình CTCP. Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tư bản đòi
hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và
độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tư bản đi đến thoả hiệp
với nhau nhằm thu được lợi nhuận tối đa và bành trướng hơn nữa thế lực
kinh tế của mình. CTCP là hình thức kinh doanh thoả mãn được những nhu
cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tư bản, như
nhận định của Các Mác “Qua các công ty cổ phần, sự tập trung đã thực
hiện được việc đó trong nháy mắt”.
nhiều lĩnh vực khác nhau như giao thông, vận tải, xây dựng, các ngành chế
tạo cơ khí, ngân hàng, bảo hiểm…? các nước tư phản phát triển và về sau
phát triển rộng rãi ở các nơi khác trên thế giới. Đến những năm 20, 30 của
thế kỷ XIX, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học, kỹ thuật, nền kinh
tế thế giới có bước phát triển mạnh mẽ, điều đó dẫn đến nhu cầu phải tập
trung những nguồn vốn lớn để xây dựng cơ sơ hạ tầng kinh tế – xã
hội.Công ty cổ phần là một trong những công cụ giúp thực hiện nhanh
chóng vấn đề tập trung vốn. Vì vậy, có ý kiến bình luận rằng “Nếu như cứ
phải chờ cho đến khi tích luỹ làm cho số tư bản riêng lẻ lớn lên đến mức có
thể đảm đương được việc xây dựng đường sắt thì có lẽ đến ngày nay thế
giới vẫn chưa có đường sắt”. Sự ra đời của CTCP đã giúp cho các nhà
doanh nghiệp giải quyết được mâu thuẫn về tiền vốn một cách sáng tạo.
Tóm lại, trải qua quá trình phát triển lâu dài, CTCP đã từ phạm vi ở
một nước, một khu vực nhất định đã phát triển thành những công ty đa
quốc gia, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đúng như nhận định:
“Công ty cổ phần đã phát triển ở hầu hết các nước từ đơn giản đến phức
tạp, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, từ một ngành đến đa ngành, từ một
quôc gia đến nhiều quốc gia thông qua các công ty siêu quốc gia”.
Ở Mỹ, năm 1989, số lượng các công ty cổ phần chiếm 31,7% trong
tổng số các xí nghiệp công nghiệp và chiếm 92,6% giá trị tổng sản phẩm
công nghiệp. Ngày nay, công ty cổ phần đã chiếm vị trí thống lĩnh trong
các ngành công nghiệp, dịch vụ công cộng và trong các ngành khác nhau
của nền kinh tế Hoa Kỳ.
Ở các nước phương tây, công ty cổ phần là mô hình phổ biến nhất cho
các doanh nghiệp có quy mô lớn. Ở Đức, vốn cơ bản trung bình của các
công ty cổ phần năm 1980 là 43 triệu DM, trong khi đó vốn trung bình của
một công ty TNHH chỉ là 0,38 triệu DM. Trong 100 công ty lớn nhất của
Đức năm 1980 có tới 66 công ty cổ phần. Ở Pháp, vào năm 1986, có tới
123.303 công ty cổ phần, chiếm tới 15,22% tổng số các doanh nghiệp.
Pháp luật về công ty cổ phần
luật thời kỳ này về CTCP còn rất sơ khai.
Dưới thời Pháp thuộc, các quy định của Bộ luật Thương mại Pháp
năm 1807, trong đó có quy định về hình thức CTCP được áp dụng ở cả ba
kỳ tại Việt Nam. Đến năm 1944, chính quyền Bảo Đại ban hành Bộ luật
thương mại Trung phần có hiệu lực áp dụng tại Trung Kỳ, trong đó có quy
định về CTCP (gọi là công ty vô danh) từ Điều 102 đến Điều 142 và từ
Điều 159 đến Điều 171.
Năm 1972, chính quyền Việt Nam Cộng hoà ban hành Bộ luật Thương
mại, trong đó CTCP được gọi là hội nặc danh với đặc điểm “gồm có các
hội viên mệnh danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn
của mình dưới hình thức cổ phần” (Điều 236) và “chỉ được thành lập nếu
có số hội viên từ 7 người trở lên” (Điều 295). Các vấn đề pháp lý liên quan
đến hình thức hội nặc danh như thành lập, góp vốn, cơ cấu quản lý … đã
được quy định rất chi tiết trong Bộ luật này từ Điều 236 đến Điều 278 cũng
như từ Điều 295 đến Điều 314.
Ở miền Bắc, sau năm 1954 cho đến khi thống nhất đất nước vào năm
1975 và trên phạm vi cả nước từ sau năm 1975 đến những năm 80 của thế
kỷ 20, với chính sách kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các hình thức công ty
nói chung và CTCP nói riêng hầu như không được pháp luật thừa
nhận. Khái niệm “công ty” trong giai đoạn này không được hiểu đúng bản
chất pháp lý mà chỉ được hiểu theo hình thức kinh doanh. Các hình thức tổ
chức sản xuất, kinh doanh trong giai đoạn này chủ yếu bao gồm các nhà
máy, xí nghiệp quốc doanh, hợp tác xã (đối với thành phần kinh tế tập thể)
và công tư hợp danh (hình thành từ quá trình cải tạo công thương nghiệp
XHCN). Trong giai đoạn này, mặc dù Điều lệ về đầu tư của nước ngoài ở
nước CHXHCN Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị định 115/CP của
Chính phủ ngày 18/4/1977) có đề cập đến hình thức CTCP khi quy định “xí
nghiệp hoặc công ty hỗn hợp” có thể thành lập theo hình thức “công ty vô
danh” (một tên gọi khác của CTCP) nhưng lại không có văn bản pháp luật
nào quy định về tổ chức và hoạt động của hình thức CTCP này. Và trên