đánh giá sự phát triển của thương hiệu hapro bốn mùa thông qua các điểm tiếp xúc thương hiệu - Pdf 21

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
BỘ MÔN QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU
& 
BÁO CÁO
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA
THƯƠNG HIỆU HAPRO BỐN MÙA
THÔNG QUA CÁC ĐIỂM TIẾP XÚC
THƯƠNG HIỆU
HÀ NỘI, 12/2009
MỤC LỤC
Lời mở đầu
- Lý do chọn đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Ý nghĩa thực tiễn
Chương I: Một số vấn đề lý luận về thương hiệu
1.1 Thương hiệu và thương hiệu dịch vụ
1.1.1 Các cách hiểu về thương hiệu
1.1.2 Đặc điểm thương hiệu dịch vụ
1.1.3 Chức năng của thương hiệu dịch vụ
1.1.4 Vai trò của thương hiệu
1.2 Phát triển thương hiệu
1.3 Điểm tiếp xúc thương hiệu
Chương II: Sự phát triển của thương hiệu Hapro Bốn mùa thông qua điểm tiếp xúc
2.1 Vài nét về thương hiệu Hapro Bốn mùa
2.1.1 Giới thiệu sơ lược
2.1.3 Tầm nhìn thương hiệu

công ty sự kiện và ẩm thực Hapro thuộc Tổng công ty Thương mại Hà Nội (Hapro). Với
phạm vi nghiên cứu là các cửa hàng kinh doanh dịch vụ nhà hàng, café trên địa bàn Hà
Nội.
Từ đó, nhờ sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn, chúng em chọn phương pháp phân
tích SWOT (Streangth, Weakness, Opportunities, Threats) và Áp dụng đối chiếu so
sánh mô hình để phân tích quá trình định vị thương hiệu Hapro bốn mùa thông qua các
điểm tiếp xúc khách hàng.
Đứng trên góc nhìn của những người học tập và nghiên cứu về quản trị thương hiệu,
chúng em vẫn còn nhiều thiếu sót trong cách đánh giá và nhìn nhận. Tuy nhiên tập thể
những người làm đề tài đã cố gắng đưa ra một vài đánh gía sơ bộ quá trình định vị của
thương hiệu Hapro bốn mùa để có cái nhìn khách quan về những thành công mà công ty
đã đạt được và các hạn chế còn tồn tại.
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
THƯƠNG HIỆU
1.1 Thương hiệu và thương hiệu dịch vụ
1.1.1 Các cách hiểu về thương hiệu:
Từ thương hiệu (Brand) có nguồn gốc từ chữ Brandr, theo tiếng Aixơlen cổ nghĩa là
đóng dẫu. Xuất phát từ thời xa xưa khi những chủ trại muốn phân biệt đàn cừu của mình
với những đàn cưu khác, họ đã dùng một con dấu bằng sắt nung đỏ đóng lên lưng từng
con một, thông qua đó khẳng định giá trị hàng hoá và quyền sở hữu của mình. Như thế,
thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản xuất.
Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu
hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch
vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức.
Thuật ngữ thương hiệu cũng đã xuất hiện ở Việt Nam khá lâu. Từ thời vua Bảo Đại,
theo Điều 1 của Dụ số 5, ngày 1/4/1952 “Quy định các nhãn hiệu như sau: được coi là
nhãn hiệu hay thương hiệu là các danh từ có thể phân biệt rõ rệt, các danh hiệu, biểu
ngữ, dấu in, con niêm, tem nhãn, hình nổi, chữ, số, giấy phong bì cùng các tiêu biểu
khác dùng để phân biệt sản phẩm hay thương phẩm”.
Các yếu tố của thương hiệu: thương hiệu là tất cả các dấu hiệu có thể để tạo ra một hình

so với thương hiệu hàng hóa.
Trước hết, đặc tính đầu tiên của sản phẩm dịch vụ là tính vô hình của chúng, mặc dù
ngày nay không có tính vô hình thuần túy của sản phẩm dịch vụ mà nó được gẵn với
những sản phẩm hữu hình nhất định. Ví dụ thương hiệu của một nhà hàng không chỉ là
phong cách phục vụ của nhân viên, chất lượng đồ ăn, sự đồng bộ của các sản phẩm mà
nó còn là những yếu tố hữu hình để thể hiện đặc tính vô hình của nhà hàng.
Như vậy do đặc tính vô hình của sản phẩm mà người tiêu dùng tiếp xúc với giao diện
của Thương hiệu dịch vụ bao gồm nhiều quá trình hợp thành. Ví dụ trong một nhà hàng:
phong cách của lễ tân bồi bàn đến phong cảnh nhà hàng…đều phải gắn với một tổng thể
chung để gây ấn tượng và định vị rõ rang trong con mắt khách hàng.
Đặc tính thứ 2 của dịch vụ là không thể lưu kho. Đặc tính này khiến cho sản phẩm dịch
vụ là đơn nhất và trải nghiệm sản phẩm dịch vụ là trải nghiệm của từng cá nhân. Ví dụ,
trong quán kem, tỉ lệ nữ giới chọn ăn kem vị dâu thường nhiều hơn nam giới.
Đặc tính thứ 3 là tính không đồng nhất của dịch vụ làm cho công tác tiêu chuẩn hóa trở
nên khó khăn, vì thế xây dựng thương hiệu dịch vụ càng khó xác định hơn. Tuy nhiên
chúng em cho rằng bất kì yếu tố nào trong giao diện mà dịch vụ cung ứng liên kết với bộ
nhớ khách hàng đến hình ảnh về dịch vụ là các liên kết đang được tạo dựng để xây
dựng thương hiệu về dịch vụ.
1.1.3 Chức năng của thương hiệu dịch vụ:
Chức năng nhận biết và phân biệt:
Đây là chức năng gốc của thương hiệu. Thông qua thương hiệu, người tiêu dùng và
nhà sản xuất có thể dễ dàng phân biệt và nhận biết hàng hóa của doanh nghiệp này với
các doanh nghiệp khác. Tập hợp các dấu hiệu của thương hiệu (tên hiêu, biểu trưng, biểu
tượng, khẩu hiệu hoặc kiểu dáng đặc biệt của hàng hóa và bao bì…” chính là căn cứ để
nhận biết và phân biệt.
Thương hiệu cũng đóng vai trò tích cực trong phân đoạn thị trường của doanh nghiệp.
Mỗi hàng hóa mang thương hiệu khác nhau sẽ đưa ra những thông điệp khác nhau dựa
trên những dấu hiệu nhất định nhằm đáp ứng những kì vọng và thu hút sự chú ý của
những tập khách khác nhau. Do vậy, khi hàng hóa trở nên phong phú, đa dạng thì mọi
dấu hiệu gây khó khăn khi phân biệt sẽ làm giảm uy tín và cản trở sự phát triển của một

Vai trò đối với người tiêu dùng:
Thương hiệu giúp người tiêu dùng phân biệt nhanh chóng hàng hóa cần mua trong
muôn vàn các hàng hóa cùng loại khác, góp phần xác định được nguồn gốc xuất xứ của
hàng hóa. Vì thế thông qua thương hiệu, người tiêu dùng có thể nhận dạng dễ dàng hàng
hóa dịch vụ của từng nhà cung cấp. Như vậy, thực chất thương hiệu như một lời giới
thiệu, một thông điệp và dấu hiệu quan trọng để người tiêu dùng căn cứ vào đó đưa ra
phán quyết cuối cùng về hành vi mua sắm
Thương hiệu còn góp phần tạo ra một giá trị cá nhân cho người tiêu dùng, một cảm
giác sang trọng và được tôn vinh. Thương hiệu tạo nên một tâm lý yên tâm về chất
lượng, giảm thiểu rủi ro trong tiêu dùng. Khi người tiêu dùng lựa chọn một thương hiệu
tức là họ đẫ gửi gắm niềm tin vào thương hiệu đó.
Vai trò đối với doanh nghiệp:
+ Thương hiệu tạo dựng hình ảnh doanh nghiệp và sản phẩm trong tâm trí người tiêu
dùng. Khi một thương hiệu lần đầu tiên xuất hiện trên thị trường, nó hoàn toàn chưa có
được một hình ảnh nào trong tâm trí người tiêu dùng. Những thuộc tính của hàng hóa
như kết cấu, hình dáng, kích thước, màu sắc, sự cứng cáp hoặc các dịch vụ sau bán
hàng sẽ là tiền đề để người tiêu dùng lựa chọn chúng
+ Thương hiệu như một lời cam kết giữa doanh nghiệp và khách hàng. Các thông
điệp mà thương hiệu đưa ra trong các quảng cáo, khẩu hiệu, logo luôn tạo một sự kích
thích, lôi cuốn khách hàng. Nó chứa đựng một nội dung như những cam kết hoặc ngầm
địnhnào đó của doanh nghiệp về chất lượng hàng hóa hoặc những lợi ích tiềm ẩn từ việc
sử dụng hàng hóa. Những cam kết này không bị ràng buộc về mặt pháp lý nên nếu bị
khiếu kiện thì nó hoàn toàn không có ý nghĩa to tát về mặt pháp lý nhưng thực sự ảnh
hưởng rất nhiều đến uy tín của doanh nghiệp và lòng trung thành của khách hàng.
+ Thương hiệu nhằm phân đoạn thị trường. Bằng cách tạo ra những thương hiệu các
biệt (những dấu hiệu và sự khác biệt nhất định) doanh nghiệp đã thu hút được sự chú ý
của khách hàng hiện hữu cũng như tiềm năng cho từng chủng loại hàng hóa. Và như thế,
với từng chủng loại hàng hóa cụ thể mang những thương hiệu cụ thể sẽ tương ứng với
từng tập khách nhất định.
+ Thương hiệu tạo nên sự khách biệt trong quá trình phát triển của sản phẩm. Cùng

hoạch hỗ trợ và tạo dựng hình ảnh trong tâm trí khách hàng.
+ Nên lưu ý rằng việc phát triển thương hiệu chỉ đạt hiệu quả tối đa, khi đi kèm theo
nó là nhiều biện pháp hỗ trợ khác: Ví dụ thương hiệu bột giặt không chỉ thành công nhờ
quảng cáo dày đặc trên truyền hình, mà còn nhờ các chương trình khuyến mãi, triển lãm,
tài trợ học sinh nghèo hiếu học và đặc biệt là việc xây dựng Quỹ khuyến học nên có
ảnh hưởng tích cực đến thái độ của người mua.
+ Khi xây dựng cũng như phát triển thương hiệu, công ty cần lồng vào đó một triết lý
vừa phản ánh được tiêu chí của công ty: vừa mang đậm tính nhân văn để tạo niềm tin
với khách hàng về giá trị thương hiệu.
+ Công ty cần tạo ra mối liên kết thương hiệu bền vững trong tâm thức người tiêu
dùng chứ không để rơi vào tình trạng “chết yểu” thông qua các chiến dịch quảng cáo dài
hạn cũng như các hoạt động tiếp thị sáng tạo và mới lạ.
Như vậy có thể nói thương hiệu là một thứ tài sản vô hình nhưng lại chứa đựng một
sức mạnh hữu hình, khi nó quyết định sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm,
dịch vụ của bạn, thậm chí nó còn tác động đến sự thành- bại của hoạt động kinh doanh.
Vì lý do đó, một hướng đi cho thương hiệu luôn là thách thức đối với doanh nghiệp.
1.3 Điểm tiếp xúc thương hiệu
Điểm tiếp xúc thương hiệu được hiểu là các dấu hiệu, hình thức mà khách hàng có
thể cảm nhận về thương hiệu. Điều này xuất phát từ tất cả các yếu tố của thương hiệu và
cả quá trình sử dụng sản phẩm.
Các đặc điểm khách hàng nhận thấy đầu tiên có thể là tên gọn, mầu sắc biểu trương,
logo của thương hiệu. Ví dụ : tên gọi ngắn hay dài dễ phát âm hay dễ bị đọc chệch
đi….Tiếp đó là quá trình sử dụng và cảm nhận hàng hóa của thương hiệu đó mang lại.
Sự thỏa mãn khi tiếp nhận sản phẩm, dịch vụ của khách hàng được hướng vào thương
hiệu đảm bảo cho sự thành công và lưu lại trong tâm trí khách hàng. Ngoài ra còn có cái
yếu tố như đánh giá dư luận, xu hướng lựa chọn kiểu model ….
CHƯƠNG II: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG
HIỆU HAPRO BỐN MÙA THÔNG QUA ĐIỂM
TIẾP XÚC
2.1 Vài nét về thương hiệu Hapro Bốn mùa

kiện và ẩm thực thuộc Hapro thuộc Tổng công ty Thương mại Hà Nội - Cội nguồn của
thương hiệu Hapro Bốn Mùa chính là thương hiệu Bốn Mùa đã được rất nhiều khách
hàng biết đến.
2.1.3 Tầm nhìn thương hiệu
Hapro Bốn mùa chọn cho mình con đường riêng trong khi thị trường cũng có khá nhiều
thương hiệu cùng lĩnh vực. Đó là phải làm sao mang được phong cách thanh lịch của
người Hà Nội, vẻ đẹp của chất Hà Thành đến với mọi người dân Việt Nam cũng như du
khách quốc tế. Từ đó Hapro Bốn mùa đã đặt ra cho mình mục tiêu: “phong cách Hà
Nội”
Thương hiệu Hapro Bốn Mùa xuất phát từ nền tảng thương hiệu bốn mùa với sản phẩm
nổi tiếng “kem Bốn Mùa” đã in sâu vào tiềm thức của từng thế hệ người Hà Nội, của
những ai đã từng sống và làm việc tại Hà Nội đều mong muốn nó sẽ sống mãi và ngày
càng lan tỏa theo thời gian. Vì vậy, việc thay đổi bộ nhận diện là hướng tới một ngoại
diên lớn hơn, phù hợp với xu thế kinh doanh hiện đại.Từ đó, phương hướng mở rộng
phát triển thương hiệu HaproBốnMùa
- Trực tiếp đầu tư
- Hợp tác đầu tư
- Nhượng quyền Thương mại, nhận nhượng quyền Thương mại.
2.2 Định vị thương hiệu thông qua các điểm tiếp xúc
2.2.1 Thiết kế tên gọi thương hiệu Hapro Bốn mùa:
Tên hương hiệu Hapro Bốn mùa là một tên gọi được xây dưng trên 2 yêu tố tính hệ
thống thương hiệu và tính truyền thống kế thừa. Ta có thể liên tưởng tên gọi có thể tách
bạch làm 2 phần gồm Hapro, mang tính hệ thống của thương hiệu Hapro, và Bốn màu,
giữ lại bản sắc của sản phẩm Kem Bốn màu nổi tiếng. Sự gắn kết ở đây theo dạng xây
dựng mô hình thương hiệu gia đình kiểu kết hợp bất song song. Tên gọi này cùng nằm
trong nhóm thương hiệu Hapro với các thương hiệu khác như Đây là mô hình thể hiện
sự liên kết, kết hợp giữa thương hiệu gia đình và thương hiệu cá biệt là như nhau, như 2
bộ phận của một thương hiệu.
• Điểm mạnh:
Ưu điểm chính của mô hình đa thương hiệu là, một mặt, khai thác lợi thế và uy tín

phục vụ đòi hỏi phức tạp hơn theo một quy cách được đề ra buộc nhân viên phải tự
tái lập để thích nghi với những thay đổi được tạo ra.
Việc mở rộng sẽ kéo theo các điểm yếu tiềm tàng, do dù có lượng khách cũ được
lôi kéo nhưng không cuốn hút được khách hàng mới do thương hiệu cũ Haprovà
Kem Bốn mùa không đồng nghĩa tạo ra ấn tượng mới về quán café- nhà hàng Hapro
Bốn mùa mới lạ. Nếu không đảm bảo được điều này, sự đổ vỡ của thương hiệu các
biệt sẽ gây ảnh hưởng lớn tới chuôi thương hiệu gia đình. Nếu có sự thất bại của một
thương hiệu sẽ dễ gây đổ vỡ hàng loạt tới các thương hiệu còn lại trong nhóm.
Cái bẫy của việc mở rộng thương hiệu là sự thất bại sau những nỗ lực chuyển đổi
cho việc gây dựng những liên kết mới yêu hoặc làm yêu các liên kết mạnh ảnh
hưởng tới nhận thức khách hàng làm mờ đi ấn tượng với thương hiệu ban đầu tạo khe
hở cho đối thủ cạnh tranh tấn công. Nếu như xảy ra vấn đề với thức ăn như vụ việc
có chuột trong bánh của nhà hàng-café Highland thì uy tín, hình ảnh về thức ăn đảm
bảo vệ sinh của cả chuỗi cung ứng dịch vụ ăn uống, sản phẩm đô ăn.
Bên cạnh đó sự quản lí nhà hàng cũng phải có tính riêng biệt tốt để không tạo sự
nhàm chán đối với các cửa hàng. Mô hình kiểu chuỗi cửa hàng café- nhà hàng cũng
gặp phải sự cạnh tranh từ mô hình fanchise của café Trung Nguyên và HighLand về
số lượng địa điểm.

2.2.2 Logo biểu trưng và slogan :
Logo biểu tượng có tính truyền thống sử dụng hình ảnh bong hoa năm cánh, biểu trưng
cho thuyết Ngũ Hành(Kim , Thủy , Hỏa, Thổ, Mộc), Ngũ Đức (Nhân , Nghĩa, Lễ, Trí,
Tín) và Ngũ Phúc (Phú, Quí, Thọ, Khang, Ninh) ngoài ra mang sự liên tưởng tới Năm
cửa Ô của Hà Nội: Ô Cầu Dền, Cầu Giấy, Yên Phụ, Đông Mác,Ô Quan Chưởng. Bố cục
rạng rỡ, màu sắc tươi sáng, phong chữ to đậm, dễ nhìn.
Phong cách chủ đạo của các quán là cách trang trí đơn giản, thanh lịch mong gợi lên nét
Hà Nội xưa.Slogan của Hapro Bốn mùa là “Tinh hoa người Hà Nội”
• Điểm mạnh:
Về mặt kỹ thuật, logo thẩm mỹ, dễ nhớ, dễ nhận biết, ấn tượng với công chúng. Đảm
bảo khi thể hiện trong in ấn, chạm khắc, đắp nổi, trên các chất liệu thông thường

thắng Tháp Bút – Đền Ngọc Sơn.
- Ba nhà hàng – café ở các trục phố chính … với mặt tiền lớn nhìn ra các con phố
tấp nập:
Nhà hàng Bốn Mùa 19 Huỳnh Thúc Kháng,
Nhà hàng Bốn Mùa 35 Nguyễn Chí Thanh,
Nhà hàng Bốn Mùa 353 phố Huế.
• Điểm mạnh:
Đầu tiên, với vị trí đẹp nhìn ra các khung cảnh thơ mộng, quán có lượng khách nhiều
nhất là vào các dịp nghỉ lễ. Bên cạnh đó, vị trí 3 quán nằm ở khu vực Bờ Hồ, nơi trung
tâm thủ đô hay diễn ra các hoạt động sự kiện lớn thu hút tập trung rất đông người.
Với vị trí thuận lợi giao thông đông người qua lại, lượng khách biết đến quán sẽ đông
Việc tổ chức các sự kiện sẽ được nhiều người biết đến.
• Điểm yếu:
Do vị trí đắc địa như vậy, chi phí cũng cũng như giá thành các sản phẩm bị đẩy lên cao
do yếu tố dịch vụ du lịch nên một bộ phận dân cư địa phương sẽ khó ghé thăm. Bên
cạnh đó, do nằm ở những nơi đông người, nhất là dịp nghỉ lễ hoặc sự kiện trọng đại, khả
năng tiếp cận quán sẽ khó khăn hơn bình thường và phụ thuộc nhiều vào tình hình giao
thông. Ngoài ra, do yếu tố pháp luật bảo vệ mỹ quan đặc biệt ở các khu vực này, việc
sửa chữa nâng cấp về kiến trúc qui mô không gian quán gặp nhiều khó khăn.
• Cơ hội:
Vị trí đắc địa và có nhiều khung cảnh đẹp, chuỗi café- nhà hàng có một sự thu hút hấp
dẫn nhất định tới khách hàng hứa hẹn môt lượng khách đều đặn. Sự thuận lợi về giao
thông cũng tăng khả năng ghé thăng của khách vãng lai cũng như sự quay lại của khách
hàng.
• Thách thức:
Sự cạnh tranh tương đối của các cửa hàng dịch vụ cùng kinh doanh trên tuyến đường là
một yếu tố tiềm tàng.
2.2.4 Các sản phẩm dịch vụ chính : nhà hàng Restaurant, nhà hàng Cafe ăn nhanh
fastfood, fastfood shop… Với các món ăn đặc trưng Âu, Á, kem Bốn Mùa, cafe, bánh
ngọt…

khách.
• Thách thức:
Việc mở rộng các dịch vụ bổ sung quá nhiều khó bù đắp chi phí bỏ ra để duy trì các dịch
vụ này. Các dịch vụ có thể bị lỗi thời nhanh chóng cũng tiềm ẩn nguy cơ lãng phí.
2.2.6 Phong cách Nhà hàng:
Hapro Bốn Mùa tạo ra cảm nhận không gian thoáng mát, yên tĩnh, vô cùng gần gũi với
thiên nhiên để thưởng thức những ly cà phê thơm phức hay những ly kem mát lạnh trong
bản nhạc jazz êm ái, ngắm nhìn dòng người đi lại tấp nập ở những con phố thơ mộng
nhất Hà Nội. Phong cách bài trí, hình thức phục vụ hướng tới cho kahsch hàng cảm nhận
hương vị Hà Nội xưa. Lịch sự. Nhẹ nhàng
• Điểm mạnh:
Phong cách văn tính văn hóa, đặc biệt thu hút khách du lịch.
• Điểm yếu:
Thể hiện phong cách còn nhiều nết chưa thực sự toát nên đặc trưng của Hà Nội xưa.
Hình thức phục vụ không độc đáo mới mẻ
• Cơ hội:
Tạo ấn tượng tốt thu hút khách hàng quay trở lại. Thách thức:
Bị cạnh tranh bởi các nhà hàng có cùng chủ đề phong cách Hà Nội hoặc các phong cách
khác ấn tượng hơn.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO DOANH
NGHIỆP NHẰM HOÀN CHỈNH CHIẾN LƯỢC
3.1 Những thành công và hạn chế còn tồn tại
3.1.1 Những kết quả thành công
Công ty đã có nhận thức đúng về tầm quan trọng chiến lược của xây dựng Thương
hiệu. Với uy tín lâu năm trong lĩnh vực kinh doanh thương mại dịch vụ, tên gọi Hapro
chiếm được cảm tình tốt của người tiêu dùng đã tạo chỗ đứng để phát triển thương hiệu
Hapro cũng như Hapro Bốn mùa. Kết hợp với yếu tố khách quan đó là nhân tố chủ quan
quan trọng, tầm nhìn của Tổng công ty Thương mại Hapro còn hướng tới mạnh dạn đầu
tư vào việc quảng bá thương hiệu Hapro với 1 sự chuẩn bị chu đáo, có kế hoạch định
hướng lâu dài. Xây dựng một thương hiệu đậm đà bản sắc của người Việt, đồng thời,

long trọng 26/12/2008, thay mặt HĐQT, Lãnh đạo TCT, Tổng giám đốc Tcty Thương
mại Hà Nội đã cam kết tạo điều kiện tốt nhất để thương hiệu Hapro Bốn Mùa ngày càng
phát triển mạnh mẽ, mang tới cho khách hàng sản phẩm dịch vụ nhà hàng, cửa hàng ăn
uống chất lượng tiêu chuẩn an toàn tuyệt đối về vệ sinh thực phẩm, đem lại sự tiện nghi
và hài lòng cho khách hàng.
3.1.2 Những hạn chế đặt ra
Bên cạnh những thành công thu được, việc định vị thường hiệu Hapro và nhất là Hapro
Bốn mùa mới chỉ ở những giai đoạn đầu tiên để khẳng định vị thế của mình trên đường
tiến ra hội nhập thị trường quốc tế. Chính vì vậy mà còn thể hiện một số hạn chế nhất
định cần được lưu tâm để khắc phục.
Sự quảng bá thương hiệu chưa chú trọng xây dựng nội dung truyền thông trên mạng
internet, một xu hướng chính hiện nay để người tiêu dùng tiếp cận với thương hiệu một
cách dễ dàng hơn mà đặc biệt là khách hàng quốc tế. Về vấn đề này, thương hiệu Hapro
Bốn mùa dù có động thái quảng bá và xây dựng website cho bản thân mình nhưng lại
chưa lưu tâm đến việc hoàn thiện, kiện toàn và quảng bá website trên các công cụ tìm
kiếm. Đây là một thiếu sót đáng lưu tâm trong khi có rất nhiều cửa hàng café- nhà hàng
khách đã mạnh dạn đầu tư khá công phu website riêng. Website thực sự là yếu tố kinh
doanh mới, hiệu quả và rất kinh tế cho các doanh nghiệp ở Việt Nam. Nếu không có
website mạnh, Hapro Bốn mùa sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội tốt bởi những khách hàng tiềm
năng trên thị trường trong và ngoài nước:
- Khó tiếp cận được thị trường thế giới.
- Khó tiếp cận được thị trường rộng với chi phí nhỏ.
- Làm chậm quá trình nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, cung cấp thông tin
nguyên nhân cho nhân viên.
- Cập nhật chậm danh mục cung cấp được dịch vụ tiện lợi cho khách hàng chọn hàng,
đặt hàng.
- Không cung cấp được đầy đủ thông tin cho khách hàng một cách nhanh chóng, tiện lợi.
- Không giải đáp thắc mắc, yêu cầu của khách hàng một cách nhanh chóng, hiệu quả.
Về phong cách đặc trưng, chuỗi cửa hàng café- nhà hàng bên cạnh tính đồng nhất qui
cách còn thiếu nét riêng, độc đáo mang cá tính phong cách riêng của từng quán đơn lẻ,

Là bài viết về các hình thức khuyến mãi mới nhất của nhà hàng, ví dụ giảm giá 50% vào
chiều thứ 6 hàng tuần
g. Thực đơn:
Đăng danh sách các món ăn của nhà hàng có trong thực đơn, kèm theo các bài viết đánh
giá hoặc cảm nhận về món ăn với hình ảnh minh họa
h. Thư viện ảnh về nhà hàng:
Tổng hợp các hình ảnh đẹp về nhà hàng
i. Tư vấn trực tuyến:
Hiển thị nickname, yahoo chat, số điện thoại nóng đặt bàn
k. Thống kê website:
Hiển thị số người đang truy cập, tổng số người đã truy cập, số món ăn
l.Tìm kiếm:
Tìm kiếm theo từ khóa, khách hàng chỉ cần gõ từ khóa cần tìm vào là hệ thống tìm ra 1
loạt các bài liên quan đến từ khóa đó. Danh sách tìm kiếm gồm : tên bài viết, mô tả bài
viết
m. Liên hệ:
Là form cung cấp thông tin liên hệ với nhà hàng, quán ăn và tiếp nhận yêu cầu từ khách
hàng.
Website được lập ra đảm bảo các nội dung về yếu tố truyền thông cho chuỗi của hàng
và quảng bá thương hiệu Hapro Bốn mùa. Đồng thời đây sẽ là một kênh tiếp nhận sự
phản hổi ý kiến của người tiêu dùng và liên hệ với các đối tác tiềm năng.Bên cạnh đó
việc quản lí website còn đòi hỏi các yếu tố về tiêu chuẩn kỹ thuật, tính bảo mật, hợp
pháp.
Website cần có nhân viên quản trị mạng để duy trì, nâng cấp website. Đồng thời là sự
truyền thông, định vị cho website trên các công cụ tìm kiếm thông dụng như google,
yahoo, ALO…
Bên cạnh đó, xúc tiến sử dụng quảng bá website trên các website du lịch hoặc trang tin
tức khác,
3.2.2 Đề xuất 2: Xây dựng các chủ đề con cho từng quán hướng về giấc mơ
“Phong cách Hà Nội“”

Trang trí quán bằng không gian huyển ảo.Vẽ các bức tranh trên trường kể lại về các
cậu truyện truyền thuyết xưa
Về dịch vụ bổ sung : Đặt tên các món ăn và trình bày hướng về nội dung của truyền
thuyết, không gian âm nhạc có thể xem bằng các audio kể lại truyền thuyết .
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Các Tài liệu đã phát hành
[1] Nguyễn Quốc Thịnh, Nguyễn Thành Trung, 2004, Thương hiệu với nhà quản lý,
NXB Chính trị Quốc gia
[2] Nguyễn Quốc Thịnh, 2003, Vấn đề xây dựng thương hiệu trong phát triển thị
trường của các doanh nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo QG về PT thị trường nội địa – ĐHTM,
307-312
[3] Hoàng Trọng, Hoàng Thị Phương Thảo, 1996, Quản trị chiêu thị: Quảng cáo, bán
hàng trực tiếp, khuyến mãi và giao tế, NXB Thống kê
[4] Đào Duy Huân, 1996, Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường, NXB Giáo dục
[5] Fred R.David, Khái luận về quản trị chiến lược, NXB Thống kê
[6] Sổ tay thương hiệu Hapro Bốn mùa – lưu hành nội bộ
[7] Eliza G.C.Collins, Mary Anne Devanna, 1994, Quản trị kinh doanh tinh giản,
NXB Khoa học và Kỹ thuật
[8]Tạp chí Hàng hóa & Thương hiệu số 31
Các thông từ internet, nguồn tư liệu tham khảo lấy từ các trang web
Website Tổng công ty thương mại Hà Nội –Hapro http://www.haprogroup.vn/
Website Nhà hàng Hapro Bốn mùa http://www.haprobonmua.vn
Website Bộ Công Thương www.moit.gov.vn/
Website Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam www.noip.gov.vn/
Website Cục xúc tiến thương mại http://www.vietrade.gov.vn/
Website Công ty chuyên nghiệp về xây dựng và phát triển thương hiệu Lantabrand
http://www.lantabrand.com
Website thông tin thương hiệu www.vnbrand.net


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status