Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Lời mở đầu
Nền kinh tế nớc ta đã trải qua thời kỳ dài trong cơ chế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp, mặc dù đây là một cơ chế đã phát huy hiệu quả rất cao khi đất
nớc có chiến tranh nhng trong hoà bình thì cơ chế này trở nên lạc hậu kìm
hãm sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhận thức rõ điều này tại đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VI 1986, Đảng và nhà nớc ta chủ trơng đổi mới và
xác định đặc điểm của nền kinh tế nớc ta: Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng
xã hội chủ nghĩa. Với sự chuyển biến mạnh mẽ của cơ chế quản lý nhà nớc,
lúc này có thể nói công tác kế hoạch trở thành một công cụ quản lý đắc lực
của các doanh nghiệp và các tổ chức khác đem lại hiệu quả cao trong quản lý.
Là nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới trên
đất nớc ta hơn 10 năm qua.
Mặc dù trong những năm gần đây công tác lập kế hoạch đã có sự đổi mới
tuy nhiên sự đổi mới đó vẫn còn nhiều bất cập, cần đợc tiếp tục hoàn thiện từ
nhận thức của ngời làm kế hoạch đến nội dung và phơng pháp xây dựng kế
hoạch, để công tác kế hoạch thực sự trở thành một công cụ đắc lực, có hiệu
quả trong công tác quản lý của doanh nghiệp.
Qua quá trình tìm hiều về mặt lý luận và thực tiễn tại công ty dịch vụ kĩ
thuật dầu khí (PTSC), nhận thấy tầm quan trọng của vấn đề trên tôi đã chọn đề
tài: Xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2004 của công ty Dịch Vụ Kỹ
Thuật Dầu Khí
Nội dung đề tài gồm 3 chơng:
Chơng I: Cơ sở lý luận về công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh trong
doanh nghiệp.
ChơngII: Phân tích thực trạng xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh
ở công ty Dịch Vụ Kỹ Thuật Dầu Khí 2000-2003
ChơngIII: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty cho năm 2004
và các giải pháp thực hiện kế hoạch trong ba quý còn lại của năm 2004 .
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
hiện nhằm hoàn thiện hơn bản kế hoạch. Nh vậy, theo cách tiếp cận của
Steiner thì các khái niệm về hiện tợng tơng lai, tính liên tục của quá trình, sự
gắn bó của hàng loạt hành động và quyết định để đạt đợc kết quả mong muốn
đều đã đợc thể hiện trong bản kế hoạch.
Kế hoạch hoá chiến lợc là một trạng thái ý tởng, đó là sự suy nghĩ về qúa
trình tiến triển, về sự phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới. Ngày
nay, kế hoạch hoá doanh nghiệp đợc xem nh là một quá trình xác định các
mục tiêu các phơng án huy động nguồn lực (bên trong và bên ngoài) nhằm
thực hiện có hiệu quả các mục tiêu đã xác định. Kế hoạch hoá quan tâm đến
sự biến động môi trờng trong và ngoài doanh nghiệp hay là đến tính phức tạp
của các vấn đề. Đồng thời số lợng các bộ phận kế hoạch, tính chất, đặc điểm,
chức năng, thời hạn, đối tợng khác nhau cũng đợc cân nhắc kỹ. Từ đó mới
thấy đợc tính phức tạp của hoạt động kế hoạch hoá.
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Theo cách tiếp cận hiện nay đợc nhiều ngời sử dụng ở Việt Nam thì kế
hoạch là những chỉ tiêu những con số đợc dự kiến, ớc tính trớc trong việc thực
hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó để đạt đợc hiệu quả cao nhất (tức là phù hợp
với yêu cầu về thị trờng, phù hợp với pháp luật và khả năng thực tế của doanh
nghiệp).
Theo quan niệm này thì những chỉ tiêu những con số phải có cơ sở khoa
học, cơ sở thực tế và nó phải đợc thể hiện ở bảng biểu kế hoạch. Những con số
chỉ tiêu này mang tính khả năng và muốn biến chúng thành hiện thực thì phải
áp dụng hệ thống các biện pháp.
Nói tóm lại, kế hoạch thực chất là xác định mục tiêu phấn đấu và dự kiến
sử dụng một cách hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực để đạt mục tiêu với hiệu quả
kinh tế cao. Nếu có một kế hoạch tốt, có chất lợng thì đã đạt đợc 50% mục
tiêu đặt ra.
1.2 Vai trò của xây dựng kế hoạch.
1.2.1 Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
tham gia vào thị trờng. Các quan hệ kinh tế mở rộng ra thị trờng thế giới tạo
điều kiện học hỏi, du nhập các nguồn lực với chất lợng cao hơn. Kinh tế thị tr-
ờng vừa là động lực vừa là phơng tiện của sự phát triển.
c.Nh ợc điểm.
Đó là sự tự phát trong các hoạt động kinh tế, khủng hoảng, lạm phát, mất
cân đối kinh tế ngành cùng khu vực, phân hoá giầu nghèo Không những thế
nó còn gây hậu quả về mặt xã hội nh phong tục tập quán truyền thống bởi tính
thực dụng và quá thiên về mục tiêu lợi nhuận. Cũng do những đặc điểm này
mà không thể để nền kinh tế theo hớng thị trờng quy định hoàn toàn mà phải
có kế hoạch để khắc phục nhợc điểm và phát huy những u điểm của nó.
Kế hoạch là hoạt động chủ quan, có ý thức của con ngời nhằm xác định
mục tiêu, phơng án bớc đi trình tự và cách thực hiện mục tiêu. Kế hoạch hoá
là yêu cầu của bản thân quá trình lao động của con nguời và gắn liền với quá
trình đó. Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 7&8 của Đảng đều khẳng
định mô hình kinh tế mà chúng ta đang hớng tới xây dựng không thể thiếu đ-
ợc công tác kế hoạch.
Trong cơ chế này thì vai trò của kế hoạch hoá mới thực sự bộc lộ rõ nét.
Những kết quả đạt đợc sau 10 năm đổi mới càng khẳng định vai trò to lớn của
công tác kế hoạch trong doanh nghiệp.
Với cơ chế thị trờng, thì thị trờng với các nguyên tắc của nó sẽ trực tiếp
điều tiết mọi hoạt động của doanh nghiệp hớng dẫn doanh nghiệp trong định
hớng và thực hiện các phơng án sản xuất kinh doanh tối u để tìm giải pháp cho
các vấn đề kinh tế cơ bản của doanh nghiệp, thị trờng sẽ là cơ sở để doanh
nghiệp trả lời các câu hỏi sản xuất cho ai? Sản xuất cái gì? sản xuất nh thế
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
nào? Nhà nớc chỉ có vai trò điều tiết. Nhu vậy thì kế hoạch không chỉ có vai
trò đối với doanh nghiệp mà còn trong phạm vi nền kinh tế.
-Trong phạm vi nền kinh tế: Kế hoạch hoá là một trong những công cụ
điều tiết chủ yếu của Nhà nớc, giúp nhà nớc xác định chiến lợc,định hớng
bộ cơ chế kế hoạch hoá theo hớng hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,
theo đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
Trong giai đoạn đầu thực hiện cơ chế mới ngời ta tởng rằng lúc này hoàn
toàn không cần kế hoạch mà do thị trờng điều tiết hoàn toàn, cơ chế mới
không có chỗ đứng cho kế hoạch, thực tế, công tác kế hoạch ở nớc ta trong
những năm trớc đây bị coi nhẹ, doanh nghiệp bị cuốn hút và trôi nổi theo thị
trờng, kế hoạch không những không phát huy đợc tác dụng là điều tiết thị tr-
ờng mà còn gây ra sự gò bó, cứng nhắc, thiếu linh hoạt trong quản lý. Biểu
hiện cụ thể là những cơn sốt về xi măng, sắt thép,nhà sự phát triển mất cân
đối giữa các ngành công-nông-dịch vụ,giữa các vùng nông thôn-thành thị làm
cho lợng lao động di chuyển về thành phố lớn làm ăn một cách ồ ạt sinh nhiều
tệ nạn xã hội. Nền kinh tế Việt Nam thực sự bị chao đảo trớc cơn lốc thị tr-
ờng.
Mặt khác, kinh nghiệm ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển cho
thấy họ luôn quan tâm đến công tác kế hoạch hoá cấp công ty. Họ đánh giá
đúng vai trò, vị trí, chức năng,tổ chức nghiên cứu thực thi nhiều giải pháp
nhằm hoàn thiện công tác này. Nhà kinh tế học ngời Anh Roney cho rằng hoạt
động kế hoạch hoá công ty là thực sự cần thiết nhằm hai mục đích: tấn
công(tận dụng các cơ hội để tăng khả năng thành công của doanh nghiệp) và
dự phòng(tránh rủi ro cạm bẫy của thị trờng). Các nhà kinh tế và các chuyên
gia khác cũng khẳng định chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên trong chu
trình quản lý cấp công ty. Thực tế đã cho thấy sự thành công ở các nớc nh
Nhật, Đức phải kể đến sự đóng góp của công tác kế hoạch từ trung ơng đến
địa phơng, từ bộ ngành tới các doanh nghiệp kế hoạch chiến lợc,kế hoạch tác
nghiệp luôn đợc tiến hành và hoàn thiện hơn.
Nh vậy, trong điều kiện Việt Nam công tác kế hoạch sẽ luôn tồn tại và đợc
cải tiến cho phù hợp với từng giai đoạn, từng điều kiện hoàn cảnh, với từng
cấp để phát triển kinh tế.
cân nhắc kĩ lỡng, giúp cho tổ chức chủ động trong việc khai thác có hiệu quả
các nguồn lực sản xuất.
+Làm đơn giản hoá việc kiểm tra.
Ngời quản lý không thể kiểm tra công việc của các cấp dới nếu không có
đợc mục tiêu đã định để đo lờng. Nh một ngời lãnh đạo cấp cao đã từng nói.
"Khi tôi rời khỏi văn phòng lúc năm giờ chiều, tôi không còn quan tâm tới
những việc xẩy ra trong ngày hôm đó,tôi chẳng thể làm gì đợc nữa, tôi sẽ chỉ
xem xét những việc có thể xẩy ra vào ngày mai hoặc ngày kia hoặc vào năm
tới, bởi vì tôi còn có thể làm đợc một điều gì đó về những vấn đề này". Ta có
thể thấy điều quan trọng trong kiểm tra có hiệu quả là sự kiểm tra hớng tới t-
ơng lai.
1.2.4.Những sai lầm có thể gặp phải trong công tác xây dựng kế hoạch
-Các phơng án và quyết định kế hoạch thờng dựa trên cơ sở kết quả dự báo,
dự đoán, do đó kế hoạch hoá có thể gặp sai lầm do các hiện tợng, quá trình dự
tính có thể thay đổi trớc biến động của môi trờng (suy thoái kinh tế, công
nghệ mới ) do đó làm sai kế hoạch ban đầu.
Một nhà kinh tế học ngời Đức đã nói: "Một kế hoạch tốt nhất là không có
kế hoạch. ý muốn nói không có một kế hoạch cứng nhắc nào cả mà nó phải
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
luôn luôn đợc điều chỉnh thay đổi phù hợp với sự thay đổi của môi trờng kinh
doanh. Chính vì vậy, ngay cả khi kế hoạch đã đợc xây dựng xong thì công tác
kế hoạch hoá vẫn cha đợc chấm dứt. Tóm lại, ngời lập kế hoạch phải thờng
xuyên theo dõi và điều chỉnh cho phù hợp với thực tế khách quan.
-Kế hoạch hoá là một quá trình dài và những khoản chi phí lớn.Nó đòi
hỏi sự nỗ lực và phối hợp của nhiều nguời và những khoản chi phí lớn. Mọi sự
điều chỉnh kế hoạch đều gây hậu quả về nhiều mặt vì vậy đều khó thực
hiện.Có thể nói kế hoạch là cứng nhắc và thiếu linh hoạt.
-Sự gò bó của các thủ tục hành chính, sự thiếu đồng bộ của môi trờng pháp lý
cũng làm sai lệch kết quả thực hiện và cản trở các hoạt động khác nhau của kế
Đây là một bộ phận kế hoạch quan trọng nhất của tổ chức, nhằm hoạch
định các mục tiêu, chính sách và các giải pháp về sản phẩm, thị trờng, qui mô
và cơ cấu hoạt động của tổ chức. Nó cũng xác định các chỉ tiêu về tài chính cơ
bản nhằm xác định hiệu quả hoạt động gắn với từng phơng án đợc hoạch
định.
2.2.2. Các kế hoạch điều kiện hay hỗ trợ: ( Về lao động tiền lơng vật t
thiết bị, vốn ).
Nhằm xác định các mục tiêu, giải pháp, phơng án huy động, khai thác
các khả năng và nguồn lực nhằm thực hiện có hiệu quả các phơng án kế hoạch
mục tiêu. Kế hoạch điều kiện đợc căn cứ và gắn bó với kế hoạch hoá mục tiêu.
việc xác định các kế hoạch này nhăm đảm bảo tính đồng bộ trong mục tiêu,
giải pháp và điều kiện thực hiện các hoạt động kế hoạch và quản lý. Độ dài
của thời gian và yêu cầu của kế hoạch mục tiêu sẽ quyết định các vấn đề tơng
ứng của kế hoạch điều kiện. Cuối cùng đợc xây dựng và thực hiên các kế
hoạch điều kiện là nhằm đảm bảo và nâng cao tính khả thi của các phơng án
và chơng trình kế hoạch của tổ chức.
Hình 1: Sơ đồ hệ thống kế hoạch của doanh nghiệp:
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Các sứ mệnh và mục tiêu của doanh nghiệp
Chiến l ợc kinh doanh
Kế hoạch trung hạn
Kế hoạch năm
KH SX-TT KH TC-TD
VT-KT
LĐ-TL
KH-KT ĐTXD
CB
GTSP ĐS
Kế Hoạch tác nghiệp
(quý tháng)
+Xây dựng kế hoạch theo phơng thức hạch toán kinh doanh đảm bảo
nguyên tắc lấy thu, bù chi, kinh doanh có lãi.
+Đặt nền tảng hoạt động của doanh nghiệp trên nguyên tắc kinh doanh
đích thực, mọi sự trợ giá, hỗ trợ, (nếu thấy thực sự cần thiết) nên thực hiện bên
ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh.
+Lấy nhu cầu thị trờng và các tiềm năng của doanh nghiệp là những căn
cứ hàng đầu trong quá trình xây dựngvà điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
Thứ hai:Công tác xây dựng kế hoạch phải quán triệt yêu cầu đồng bộ hệ
thống. Doanh nghiệp là một phân hệ trong hệ thống thống nhất là nền kinh tế
quốc dân. Điều đó đòi hỏi các khâu trong quá trình kế hoạch hoá phải đảm
bảo cho mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp (phân hệ) và góp phần thúc đẩy
việc thực hiện mục tiêu bao trùm của cả hệ thống. Đồng thời bộ phận kế
hoạch sản xuất kinh doanh cũng phải đồng bộ, ăn khớp với các bộ phận kế
hoạch khác của doanh nghiệp.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
+Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch của doanh nghiệp phải gắn liền với đổi
mới cơ chế quản lý và kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân.
+Chuyển hệ thống kế hoạch hoá năm của doanh nghiệp từ chỗ là tổng hợp các
chỉ tiêu đợc tính toán rời rạc (lắp ghép cơ học) sang xác định các phơng án kế
hoạch theo phơng pháp đồng bộ có mục tiêu. Khi xây dựng kế hoạch sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp cũng nh điều chỉnh kế hoạch này phải gắn bó
chặt chẽ với các kế hoạch mục tiêu và hỗ trợ khác.
Thứ ba:Công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp phải quán triệt yêu cầu "vừa tham vọng, vừa khả thi. Kinh doanh
trong nền kinh tế thị trờng với mục tiêu là lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp
phải xây dựng và thực hiện kế hoạch đầy tham vọng. Mặt khác, kế hoạch sản
xuất kinh doanh khả thi lại là vấn đề nguyên tắc và là điều kiện kiên quyết để
các ý đồ kinh doanh đợc thực hiện.
Quán triệt yêu cầu này đòi hỏi:
án phân phối trong nội bộ doanh nghiệp.
+Trong giải quyết các mối quan hệ hợp tác liên doanh và liên kết kinh tế phải
trên nguyên tắc:Bình đẳng,tôn trọng lẫn nhau, và cùng có lợi.
1.2 Các nhân tố ảnh hởng đến công tác xây dựng kế hoạch kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2.1 Tính không chắc chắn của môi trờng kinh doanh.
Xây dựng kế hoạch là quá trình chuẩn bị để đối phó với sự thay đổi và tính
không chắc chắn của môi trờng kinh doanh mà chủ yếu là các nhân tố trong
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
môi trờng nền kinh tế và môi trờng ngành. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là
phải tính toán, phán đoán đợc sự tác động của môi trờng kinh doanh.
Sự không chắc chắn của môi trờng kinh doanh đợc thể hiện dới 3 hình
thức:
+ Tình trạng không chắc chắn: xẩy ra khi toàn bộ hay một phần môi trờng
đợc coi là không thể tiên đoán đợc.
+ Hậu quả không chắc chắn là trờng hợp mặc dù đã cố gắng nhng nhà
quản lý không thể tiên đoán đợc những hậu quả của sự kiện hay sự thay đổi
của môi trờng đối với các doanh nghiệp, do đó dẫn đến sự không chắc chăn.
+ Sự phản ứng không chắc chắn:là tình trạng không thể tiên đoán đợc
những hệ quả của một quyết định cụ thể hay sự phản ứng của tổ chức đối với
những biến động của môi trờng.
Nhìn chung công việc của ngời xây dựng kế hoạch là phải đánh giá tính
chất và mức độ không chắc chắn của môi trờng để xác định cách thức phản
ứng của tổ chức và triển khai các kế hoạch thích hợp , ở những lĩnh vực có
mức độ không chắc chắn thì việc xây dựng kế hoạch là không mấy phức tạp,
nhng những lĩnh vực có mức độ không chắc chắn cao đòi hỏi kế hoạch phải đ-
ợc xác định rất linh hoạt.
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
1.2.4 Quá trình tổ chức thông tin, thống kê, kế toán.
Nhà kinh tế học ngời Anh Roney cho rằng:muốn chiến thắng trong cạnh
tranh một mặt công ty hoạt động trong nền kinh tế thị trờng trớc hết phải nắm
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
đợc thông tin, tiếp đó phải xây dựng cho mình các chiến lợc và kế hoạch đầy
tham vọng.
Trong quá trình xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh thông tin sẽ giúp
ta đánh giá so sánh và lựa chọn phơng án Thông tin giúp bộ phận lãnh đạo
của doanh nghiệp có đợc các quyết định đúng đắn, kịp thời.
Thống kê và kế toán là hai công cụ đặc biệt có ý nghĩa đối với công tác
quản lý nói chung và công tác xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh nói
riêng. Tổ chức thống kê, kế toán đầy đủ, chính xác, kịp thời, sẽ đảm bảo cho
doanh nghiệp thực sự đi vào cơ chế hoạch toán, xây dựng có hiệu quả giúp cho
bộ phận kế hoạch lựa chọn, xây dựng những phơng án sản xuất tối u nhất. Tuy
nhiên ở nớc ta các doanh nghiệp cha thực sự chú ý đúng mức công tác thống
kê.
1.2.5 Cơ chế quản lý kinh tế và kế hoạch hoá của Nhà nớc.
Đây là nhóm nhân tố có ảnh hởng sâu sắc đến công tác xây dựng kế hoạch
sản xuất kinh doanh. Một cơ chế quản lý phù hợp sẽ thúc đẩy hoạt động kế
hoạch sản xuất phát triển, ngợc lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh
nghiệp.Thực tế trong những năm chuyển đổi cơ chế quản lý cho thấy càng đi
sâu vào cơ chế thị trờng càng phát sinh nhiều vấn đề mới cần tiếp tục nghiên
cứu giải quyết để hoàn thiện cơ chế quản lý và kế hoạch của nhà nớc. Nhà nớc
cần tiếp tục giải quyết các tồn đọng ,vớng mắc trong những năm chuyển đổi
để thực sự tạo quyền tự chủ cho doanh nghiệp song vẫn đảm bảo yêu cầu quản
lý tập trung thống nhất của nhà nớc.
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
2. Các căn cứ xây dựng kế hoạch kinh doanh.
+ Khả năng kinh doanh có thể đợc hình thành thông qua áp dụng các biện
pháp khai thác các tiềm năng của doanh nghiệp hoặc đi thuê liên doanh liên
kết.
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
+ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp về vị trí uy tín sản phẩm , công
nghệ, vốn, kinh nghiệm quản lý nó cho biết mặt mạnh và yếu của doanh
nghiệp
2.4.Căn cứ vào nguồn lực của công ty và tinh thần làm việc của cán bộ
công nhân viên trong toàn công ty .
Nguồn lực của công ty tạo cho công ty thế và lực để có những hợp đồng
trên thị trờng qua đó hoàn thành đợc nhiệm vụ mà công ty đề ra. Kết hợp với
nguồn lực phải có tinh thần làm việc của cán bộ công nhân viên có tinh thần
trách nhiệm cao với công việc hoàn thành dợc công việc đặt ra trong tuần
trong tháng để hoàn thành kế hoạch trong năm.
3. Các phơng pháp lập kế hoạch.
Trong thức tế các doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều phơng pháp hoạch
đinh. Tuỳ thuộc vào mục đích, yêu cầu mà các doanh nghiệp áp dụng các ph-
ơng pháp khác nhau. ở Việt Nam hiện nay các doanh nghiệp chủ yếu vẫn sử
dụng phơng pháp cân đối trong việc xây dựng kế hoạch.
3.1. Phơng pháp cân đối: gồm các bớc sau:
B ớc 1: Xác định khả năng (bao gồm khả năng sẵn có và chắc chắn có)
của doanh nghiệp và yếu tố sản xuất.
B ớc2: Cân đối giữa nhu cầu và khả năng về các yếu tố sản xuất
Trong cơ chế thị trờng, phơng pháp cân đối đợc xác định với những yêu cầu
sau:
-Cân đối đợc thực hiện là cân đối động. Cân đối để lựa chọn phơng án chứ
không phải cân đối theo phơng án đã đợc chỉ định. Các yếu tố của cân đối đều
là những yếu tố biến đổi theo môi trờng kinh doanh, đó là nhu cầu thị trờng và
khả năng có thể khai thác của doanh nghiệp trong kỳ kế hoạch.
Hình 2: Trình tự các bớc xây dựng kế hoạch.
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Nhận thức cơ hội
Kinh doanh
Xác định mục tiêu
Kinh doanh
Xem xét các tiền
đề
Hoạch định các ph
ơng án
Đánh giá so sánh
các ph ơng án
Lựa chọn ph ơng
án
Lập các kế hoạch
bổ trợ
L ợng hoá các ph
ơng án
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
B ớc 1 : Nhận thức cơ hội kinh doanh
Đây là điểm bắt đầu của việc lập kế hoạch. Trong bớc này doanh nghiệp
phải thực hiện một loạt các phân tích và dự báo nhận biết các cơ hội dựa trên
sự hiểu biết và thông tin trên thị trờng cạnh tranh, quy mô, cơ cấu của nhu
cầu, điểm mạnh, điểm yếu, cùng với khả năng và nguồn lực của doanh nghiệp.
B ớc 2: Xác định các mục tiêu tổng quát của hoạt động kinh doanh
Đó là các mục tiêu về sản lợng, doanh thu, giảm chi phí sant xuất, tăng lợi
nhuận, nâng cao chất lợng sản phẩm, cải tiến quy trình sản xuất.
B ớc 3:Soát xét các tiền đề, căn cứ.
Đây là bớc quan trọng, nó liên quan trực tiếp đến kết quả phân tíchvà dự
báo về môi trơng, điều kiện kinh doanh và nội bộ doanh nghiệp. Các tiền đề
chơng 2
Phân tích thực trạng xây dung và thực hiện
kế hoạch kinh doanh ở công ty
dịch vụ kĩ thuật dầu khí giai đoạn 2000-2003
I. Giới thiệu về công ty.
1 Quá trình hình thành và phát triển.
Trớc năm 1975, Liên đoàn Địa chất 36 là đơn vị trực thuộc Tổng Cục Địa
chất, có nhiệm vụ tổ chức triển khai việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại Đồng
bằng Bắc bộ và vịnh Bắc bộ thuộc Miền Bắc Việt Nam với sự giúp đỡ của các
chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Việc tìm kiếm, thăm dò dầu
khí chủ yếu dùng các phơng pháp Địa chấn, Điện, Trọng lực và khoan nhằm
xác định các cấu tạo địa chất có triển vọng chứa dầu khí.
Từ năm 1975 đến nay, nhằm thống nhất quản lý và điều hành công tác tìm
kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại Việt Nam. Tháng 9/1975, Đoàn Địa vật
lý đợc thành lập trên cơ sở sáp nhập Đoàn 36Đ, Đoàn 36T và Đoàn 36F. Năm
1980, Đoàn Địa vật lý đợc đổi tên thành Công ty Địa vật lý. Năm 1989, Công
ty Địa vật lý đợc đổi tên thành Công ty Địa vật lý và Dịch vụ Dầu khí. Năm
1993, Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam quyết định sáp nhập Công ty Dịch vụ
Dầu khí vào Công ty Địa vật lý và Dịch vụ dầu khí.
Ngày 16/2/1996, Bộ trởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ có quyết
định số 199/BT thành lập Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí là đơn vị thành
viên trực thuộc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam với chức năng thực hiện công
tác dịch vụ kỹ thuật dầu khí phục vụ cho việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác
dầu khí tại Việt Nam và nớc ngoài.
1. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí là một doanh nghiệp Nhà nớc hạch toán
độc lập, có t cách pháp nhân, có con dấu riêng, đợc mở tài khoản tại Kho bạc
Nhà nớc, ngân hàng trong nớc và nớc ngoài theo quy định của Pháp luật.
2. Công ty Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí có tên giao dịch quốc tế là: Petroleum
Technical Services Company, viết tắt là PTSC.
3. Giấy phép kinh doanh số 109586 ngày 5/3/1996 do UB Kế hoạch thành phố
- Dịch vụ đại lý tàu biển.
Quyền hạn:
Công ty DVKT Dầu khí là doanh nghiệp Nhà nớc, hạch toán độc lập, có t
cách pháp nhân, có con dấu riêng, đợc mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nớc,
ngân hàng trong nớc và nớc ngoài theo quy định của Pháp luật; Có quyền tự
Nguyễn Đình Khiêm - Kế hoạch 42A
Chuyên đề thực tập Khoa kế hoạch và phát triển
chủ về tài chính, tự chủ kinh doanh và chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các
khoản cam kết trong phạm vi số vốn do Công ty quản lý, sử dụng, cụ thể là:
Trong lĩnh vực đầu t phát triển:
Đợc giao hoặc đợc uỷ quyền tổ chức thực hiện các dự án đầu t phát triển
theo kế hoạch của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam. Công ty đợc Tổng Công
ty giao các nguồn lực để thực hiện các dự án đó.
Tự đầu t theo đúng thủ tục quản lý xây dựng cơ bản và mua xắm tài sản cố
định cho những công trình, dự án phát triển không nằm trong các dự án do
Tổng Công ty trực tiếp điều hành, nhng do Công ty tự huy động, tự chịu trách
nhiệm về tài chính.
Trong hoạt động kinh doanh:
Đảm bảo các chỉ tiêu, mục tiêu, các cân đối lớn, các định mức kinh tế-kỹ
thuật chủ yếu (kể cả đơn giá và giá) của Công ty phù hợp với quy định của
Tổng Công ty.
Mở rộng kinh doanh trên cơ sở sử dụng tối u mọi nguồn lực mà Công ty
có và tự huy động phù hợp với nhu cần thị trờng và theo Pháp luật hiện hành.
Trong hoạt động tài chính và hạch toán kinh tế:
Đợc nhận một phần vốn và nguồn lực của Tổng Công ty Dầu khí Việt
Nam giao; Thực hiện quyết định của Tổng Công ty về điều chỉnh vốn và các
nguồn lực phù hợp với nhiệm vụ của Công ty.
Đợc quyền huy động vốn, các nguồn tín dụng khác theo Pháp luật và quy
định của Tổng Công ty để thực hiện kế hoạch kinh doanh và đầu t phát triển
của Công ty.