Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay với cơ thế thị trường hiện nay mỗi doanh nghiệp càn
phải có những mục tiêu chiến lược cụ thể nhằm cái thiện đời sống người lao động
và mở rộng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.Một trong những yếu tố tạo
nên thành công của doanh nghiệp chính là người lao động
Lao động là hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm tác động biến
đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm có ích đáp ứng nhu cầu của con người.
Trong Doanh nghiệp lao động là yếu tố cơ bản quyết định quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Muốn làm cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp được diễn ra liên tục, thường xuyên chúng ta phải tái tạo sức lao động hay
ta phải trả thù lao cho người lao động trong thời gian họ tham gia sản xuất kinh
doanh.
Tiền lương là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động
tương ứng với thời gian, chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Tiền
lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, ngoài ra người lao động còn
được hưởng một số nguồn thu nhập khác như: Trợ cấp, BHXH, Tiền thưởng… Đối
với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá
thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Tổ chức sử dụng lao động
hợp lý, hạch toán tốt lao động và tính đúng thù lao của người lao động, thanh toán
tiền lương và các khoản liên quan kịp thời sẽ kích thích người lao động quan tâm
đến thời gian và chất lượng lao động từ đó nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm
chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ những vấn đề trên nên em đã đi sau vào nghiên cứu đề tài
“Tìm hiểu tình hình hoạt động và đánh giá kết quả SXKD,đánh giá tình hình tài
chính của Công ty TNHH Đình Long và tìm hiểu công tác kế toán tiền lương và
các khoản trích theo lương” làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 1 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Chuyên đề ngoài lời nói đầu và kết luận gồm 4 chương chính:
Chương I : Tìm hiểu chung về công ty
- Vận tải dịch vụ, vận tải thủy bộ
- Gia công cơ khí và sửa chữa thiết bị
II. Đặc điểm về lao động
* Phân loại lao động :
- Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp của công ty TNHH Đình Long
* Phân công lao động:
- Lao động theo thời gian
- Lao động theo doanh thu bán hàng
+ Lao động theo thời gian: là những công nhân viên có nhiệm vụ gián tiếp
trong quá trình kinh doanh sản phẩm hàng hoá như Giám đốc, phó Giám đốc,
phòng kinh doanh, phòng kế toán.
+ Lao động theo sản phẩm: là những công nhân viên có nhiệm vụ trực
tiếp tạo ra sản phẩm, của cải vật chất, chủ yếu là các công nhân trong xí nghiệp
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 3 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Quỹ thời gian lao động
- Đối với cán bộ công nhân viên quỹ thời gian lao động như sau:
Thời gian làm việc
1 ngày
1 tuần 1 tháng 1năm
8 giờ 48 giờ 208 giờ 2440 giờ
Đối với công nhân giao nhận hàng hóa – dịch vụ
Ca 1 Ca 2 1 ngày 1 tháng 1năm
5 giờ 5giờ 10giờ 300giờ 3300 giờ
III. Bộ máy quản lý của công ty TNHH Đình Long
Sơ đồ 1: Sơ đồ tổ chức bộ máy Quản lý
* Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý
Do đặc điểm công ty kinh doanh liên tục nên công ty thường kỳ họp vào
cuối tháng để tổng kết tình hình kinh doanh của các thành viên
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 4 - QKT_LC2
lương của công nhân tăng lên và kết quả kinh doanh đã tăng lên rõ rệt.
• Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi còn có khó khăn là do trang thiết bị còn thô sơ, chủ
yếu làm bằng thủ công nên số lượng hàng hóa bán ra chưa được nhiều.
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 5 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
=> Định hướng trong tương lai cho doanh nghiệp :
Doanh nghiệp sẽ khắc phục đầu tư trang thiết bị tiên tiến để nâng cao năng vận
chuyển hàng hóa đến tay khách hàng một cách hiệu quả nhất.
CHƯƠNG II :PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU
KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH ,TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA
CÔNG TY TNHH ĐÌNH LONG NĂM 2011-2012
I.Lý luận chung về phân tích hoạt động kinh tế nói chung phân tích
tình hình tài chính nói riêng.
1.Mục đích ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế và phân tích tình hình
tài chính
+>Ý nghĩa của phân tích hoạt động kinh tế và phân tích tình hình tài chính
- Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình
hình phân phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng
tiềm tàng về vốn của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn.
- Phân tích tình hình tài chính là công cụ quan trọng trong các chức năng
quản trị có hiệu quả ở doanh nghiệp. Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động
kinh doanh, là cơ sở cho ra quyết định đúng đắn trong tổ chức quản lý, nhất là
chức năng kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động kinh doanh để đạt các mục
tiêu kinh doanh.
- Phân tích tình hình tài chính là công cụ không thể thiếu phục vụ công tác
quản lý của cấp trên, cơ quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình thực
hiện các chế độ, chính sách về tài chính của Nhà nước, xem xét việc cho vay
vốn…
tích nhằm xác định vị trí và xu hướng biến động của hiện tượng, đánh giá kết
quả. Có các trường hợp so sánh sau:
- So sánh giũa thực hiện với kế hoach để đánh giá tình hình kế hoạch.
- So sánh giữa kỳ này với kỳ trước để xác định nhịp độ, tốc độ phát triển của
hiện tượng.
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 7 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- So sánh giữa đơn vị này với đơn vị khác để xác định mức độ tiên tiến hoặc
lạc hậu giữa các đơn vị.
- So sánh giữa thực tế với định mức, khả năng với nhu cầu.
* Phương pháp chi tiết
- Chi tiết theo thời gian: Kết quả kinh doanh là kết quả của một quá trình do
nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình
trong từng đơn vị thời gian xác định không đồng đều. Vì vậy ta phải chi tiết theo
thời gian giúp cho việc đánh giá kết quả được sát, đúng và tìm được các giải
pháp có hiệu quả cho công việc kinh doanh.
- Chi tiết theo địa điểm: Có những hiện tượng kinh tế xảy ra tại nhiều địa
điểm khác nhau với những tính chất và mức độ khác nhau, vì vậy cần phải phân
tích theo địa điểm.
- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành: giúp ta biết được quan hệ cấu thành của
các hiện tương và kết quả kinh tế, nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh
tế , từ đó giup cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp được chính xác, cụ
thể và xác định được nguyên nhán cũng như trọng điểm của công tác quản lý.
3.2. Các phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố.
- Phương pháp thay thế liên hoàn: Phương pháp này được vận dụng trong
những trường hợp các nhân tố có mối quan hệ tích, thương số hoăc cả tích và
thương.
- Có thể xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố qua thay thế lần lượt và
liên tiếp các nhân tố để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Sau
đó lấy kết quả trừ đi chỉ tiêu khi chưa có biến đổi của nhân tố nghiên cứu, sẽ xác
đánh giá khái quát, cần thiết phải đi sâu phân tích các khoản mục chi tiết, nhằm
huy động tối đa mọi nguồn vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
4.3. Phân tích tình hình và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp.
- Phân tích tình hình thanh toán của doanh nghiệp: ta tiến hành phân
tích các khoản phải thu, phải trả.
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 9 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
· Để phân tích các khoản phải thu, trước hết cần so sánh tổng số các
khoản phải thu cuối năm so với đầu năm, kể cả số tuyệt đối và số tương đối để
có nhận xét chung về tình hình thanh toán của doanh nghiệp. Sau đó, cần xem
xet biến động của từng đầu năm mà giảm thì điều đó có thể hiện sự cố gắng của
doanh nghiệp trong việc đôn đốc thu hồi các khoản nợ phải thu, làm cho việc sử
dụng vốn của doanh nghiệp có hiệu quả hơn, giảm bớt những khó khăn về vốn
mà doanh nghiệp phải đương đầu.
· Để phân tích các khoản phải trả, trước hết cần so sánh tổng số các
khoản phải trả cuối năm so với đầu năm, kể cả số tương đối và số tuyệt đối để có
nhận xét chung về tình hình thanh toán của doanh nghiệp. Sau đó, cần xem xét
biến động của từng khoản phải trả. Nếu tổng số các khoản phải trả cuối năm so
với đầu năm mà giảm thì điều đó có thể hiện sự cố gắng của doanh nghiệp trong
việc thanh toán các khoản nợ phải trả, làm giảm bớt các khoản tiền đi chiếm
dụng.
II. Nội dung tìm hiểu và đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh và tình
hình tài chính của công ty.
A. Đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty những năm
qua.
1.Mục đích, ý nghĩa của việc phân tích.
1.1. Mục đích.
- Việc phân tích cho ta thấy khái quát một cách chung nhất toàn bộ quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở kỳ gốc và kỳ nghiên cứu.
Bảng 2
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 13 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG III. TÌM HIỂU QUY TRÌNH KẾ TOÁN ĐƠN VỊ
I. Tìm hiểu quy trình kế toán theo lương và các khoản trích theo lương của
đơn vị
1.1. Sự cần thiết phải tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích
theo lương trong Doanh nghiệp.
1.1.1. Khái niệm lao động tiền lương và các khoản trích theo lương
* Lao động: là sự hoạt động chân tay và trí óc của con người nhằm biến
đổi các vật tự nhiên thành những vật phẩm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của con
người. Để duy trì đời sống, loài người luôn lao động để thu lấy tất cả những thứ
trong tự nhiên cần thiết vĩnh viễn cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người.
Lao động của con người cùng với đối tượng lao động và tư liệu lao động
hợp thành ba yếu tố của quá trình sản xuất. Trong ba yếu tố đó thì lao động của
con người là yếu tố quan trong nhất, vì không có lao động của con người thi tư
liệu lao động (như công cụ sản xuất, ruộng đất, nhà cửa dùng vào sản xuất,
phương tiện giao thông vận tải,…) và đối tượng lao động (như nguyên liệu, vật
liệu,…) chỉ là những vật vô dụng.
Trong quá trình lao động con người luôn sáng tạo, cải tiến công cụ, hợp
tác cùng nhau trong quá trình lao động để không ngừng nâng cao năng suất lao
động (đó là đặc tính vốn có của con người); cũng trong quá trình đó, trình độ kỹ
thuật của người lao động, kinh nghiệm sản xuất, chuyên môn hoá lao động ngày
càng cao.
Chính tác động trên đã làm cho trình độ sản xuất ngày càng cao; một
người (nhóm người) lao động chỉ tham gia (trực tiếp hoặc gián tiếp) vào một
công đoạn sản xuất ra sản phẩm; có nhiều loại lao động khác nhau, trên nhiều
khâu (lĩnh vực) khác nhau. Để quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao (tiết kiệm chi
phí lao động sống, góp phần hạ giá thành sản phẩm), việc phân công lao động
động sản xuất thúc đẩy được sản xuất phát triển; (và ngược lại).
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 15 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Tiền lương cao hay thấp, ít hay nhiều tuỳ thuộc vào thời gian
công tác, trình độ thành thạo tay nghề hoặc số lượng công việc mà người đó
hoàn thành.
- Ngoài tiền lương, người lao động còn được hưởng các khoản phụ
cấp, trợ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…, các khoản này cũng góp phần trợ
giúp tạm thời người lao động và tăng thêm thu nhập cho họ trong các trường
hợp khó khăn, tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động
1.1.2. Ý nghĩa của việc quản lý lao động tiền lương và các khoản trích theo
lương
Tiền lương là một phạm trù kinh tế phức tạp mang tính lịch sử có ý nghĩa
chính trị và ý nghĩa xã hội to lớn. Nhưng ngược lại, bản thân tiền lương cũng
chịu sự tác động mạnh mẽ của xã hội và tư tưởng chính trị.
Cụ thể là trong xã hội tư bản chủ nghĩa, tiền lương là sự biểu hiện bằng
tiền của sức lao động, là giá cả của sức lao động, biểu hiện ra bên ngoài của sức
lao động. Còn trong xã hội chủ nghĩa, tiền lương không phải là giá cả của sức
lao động mà là giá trị một phần vật chất trong tổng sản phẩm xã hội dùng sức
lao động cho người lao động theo nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao
động. Tiền lương mang một ý nghĩa tích cực tạo ra sự công bằng trong phân
phối thu nhập quốc dân.
Để cụ thể hơn ta đi vào nghiên cứu hai khái niệm về tiền lương đó là tiền
lương danh nghĩa và tiền lương thực tế.
Tiền lương danh nghĩa: Là khối lượng tiền trả cho nhân viên dưới hình
thức tiền tệ, đó là số tiền thực tế người lao động nhận được.
Tiền lương thực tế: Được sử dụng để xác định số lượng hàng hoá tiêu thụ
và dịch vụ mà người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa. Tiền
lương thực tế phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Tổng số tiền nhận được (tiền lương danh nghĩa).
khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn cho các đối
tượng sử dụng liên quan.
- Định kỳ tiền hành phân tích tình hình sử dụng lao động, tình hình quản lý
và chỉ tiêu quỹ tiền lương; cung cấp các thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ
phận liên quan.
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 17 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.2. Các hình thức tiền lương, quỹ lương, Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp.
1.2.1. Các hình thức tiền lương
Việc tính và trả lương có thể thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, tuỳ
theo đặc điểm hoạt động kinh doanh, tính chất công việc và trình độ quản lý.
Trên thực tế, thường áp dụng các hình thức trả tiền lương sau:
1.2.1.1. Hình thức tiền lương thời gian
Là hình thức tiền lương tính theo thời gian làm việc, cấp bậc kỹ thuật và
tháng lương của người lao động. Theo hình thức này, tiền lương thời gian phải
trả được tính bằng:
Thực tế cho thấy đơn vị thời gian để trả lương càng ngắn thì việc trả lương càng
gần với mức độ hao phí lao động thực tế của người lao động.
Tiền lương tiền lương cấp bậc số ngày làm việc
= ×
tháng chức vụ 1 ngày thực tế trong ngày
Tiền lương tháng × 12tháng
Tiền lương tuần =
Số tuần làm việc theo chế độ (52)
Tiền lương tháng
Tiền lương ngày =
số ngày làm việc theo chế độ (22)
tiền lương ngày
Tiền lương giờ =
1.2.1.2. Hình thức tiền lương theo sản phẩm
Là hình thức tiền lương tính theo số lượng, chất lượng sản phẩm, công
việc đã hoàn thành đảm bảo yêu cầu chất lượng và đơn giá tiền lương tính cho
một đơn vị sản phẩm, công việc đó. Tiền lương sản phẩm phải trả tính bằng:
- Trả lương theo sản phẩm trực tiếp cá nhân
Hình thức này được áp dụng rộng rãi đối với người trực tiếp sản xuất,
trong điều kiện quá trình lao động của họ mang tính chất độc lập tương đối, có
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 19 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
thể định mức và kiểm tra nghiệm thu sản phẩm một cách cụ thể và riêng biệt.
Đơn giá xác định như sau:
ĐG = L/Q hoặc ĐG = L x T
Trong đó: ĐG : Đơn giá sản phẩm.
L : Lương theo cấp bậc
Q : Mức sản lượng
T : Mức thời gian
Việc xác định tiền lương sản phẩm phải dựa trên cơ sở các tài sản về hạch
toán kết quả lao động.
Tiền lương sản phẩm có thể áp dụng đối với lao động trực tiếp sản xuất sản
phẩm, gọi là tiền lương sản phẩm trực tiếp, hoặc có thể áp dụng đối với người
lao động gián tiếp phục vụ sản phẩm gọi là tiền lương sản phẩm gián tiếp. Để
khuyến khích người lao động nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm doanh
nghiệp có thể áp dụng các đơn giá sản phẩm khác nhau.
+ Tiền lương sản phẩm tính theo đơn giá tiền lương cố định, gọi là tiền
lương sản phẩm giản đơn.
+ Tiền lương sản phẩm giản đơn kết hợp với tiền thưởng về năng suất,
chất lượng sản phẩm, gọi là tiền thưởng sản phẩm có thưởng, có phạt.
Tiền lương trả theo có thưởng có phạt là tiền lương trả theo sản phẩm gắn
với chế độ tiền lương trong sản xuất như: Thưởng tiết kiệm vật tư, thưởng nâng
cao chất lượng sản phẩm, thưởng giảm tỷ lệ hàng hỏng,… và có thể phạt trong
- Tiền lương thời gian, tiền lương tính theo sản phẩm và tiền khoán.
- Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong
phạm vi chế độ quy định.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác làm nghĩa vụ
theo chế độ quy định thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.
- Các loại phụ cấp làm đêm, làm thêm giờ và phụ cấp độc hại…;
- Các khoản tiền lương có tính chất thường xuyên…
Cần lưu ý là quỹ lương không bao gồm các khoản tiền thưởng không thường
xuyên như thưởng phát minh sáng kiến,… các khoản trợ cấp không thường
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 21 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
xuyên như trợ cấp khó khăn đột xuất,… công tác phí, học bổng hoặc sinh hoạt
phí của học sinh, sinh viên, bảo hộ lao động.
Về phương diện hạch toán, trong doanh nghiệp, để phục vụ cho công tác
hạch toán và phân tích tiền lương có thể chia ra làm hai loại: tiền lương chính và
tiền lương phụ.
+ Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho thời gian người lao động làm
nhiệm vụ chính của họ, nghĩa là thời gian có tiêu hao thực sự sức lao động bao
gồm tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản phụ cấp kèm theo (phụ cấp trách
nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp làm đêm thêm giờ,…)
+Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ
thực hiện các nhiệm vụ khác nhau do doanh nghiệp điểu động như: Hội họp,tập
quân sự, nghỉ phép năm theo chế độ… Ngoài ra tiền lương trả cho công nhân
sản xuất sản phẩm hỏng trong phạm vi chế độ quy định cũng được xếp vào
lương phụ.
Quỹ tiền lương kế hoạch trong doanh nghiệp còn được tính các khoản trợ
cấp bảo hiểm xã hội, trong thời gian người lao động ốm đau, thai sản , tai nạn
lao động.
Tiền lương chính của người lao động trực tiếp sản xuất gắn liền với quá
1,5% Do người lao động trực tiếp nộp ( khấu trừ vào thu nhập của họ), 3%
Do doanh nghiệp chịu (Tính vào chi phí sản xuất- kinh doanh)
1.2.3.3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định: người lao động phải đóng
bảo hiểm thất nghiệp bằng 1% tiền lương, tiền công tháng. Người sử dụng lao
động đóng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng. Hàng tháng, nhà nước hỗ trợ 1%
quỹ tiền lương, tiền công tháng từ ngân sách nhà nước cho người tham gia bảo
hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần.
1.2.3.4. Kinh phí công đoàn
Kinh Phí Công Đoàn là khoản tiền được trích lập theo tỷ lệ là 2% trên
tổng quỹ lương thực tế phải trả cho toàn bộ cán bộ công nhân viên của doanh
nghiệp nhằm chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động đồng
thời duy trì hoạt của công đoàn tại doanh nghiệp được tính vào chi phí của
doanh nghiệp
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 23 - QKT_LC2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
1.3. Hạch toán lao động, tính lương và các khoản phải trả cho người lao
động.
1.3.1. Hạch toán lao động
- Hạch toán số lượng lao động:
Hằng ngày tổ trưởng hoặc người có trách nhiệm sẽ chấm công cho từng
người tham gia làm việc thực tế trong ngày tại nơi mình quản lý sau đó đến cuối
tháng các phòng ban sẽ gửi bảng chấm công về phòng kế toán. Tại phòng kế
toán, kế toán tiền lương sẽ tập hợp và hạch toán số lượng công nhân viên lao
động trong tháng.
- Hạch toán thời gian lao động
Chứng từ để hạch toán thời gian lao động là Bảng Chấm Công
Bảng Chấm Công là bảng tổng hợp dùng để theo dõi ngày công thực tế
làm việc, nghỉ việc, ngừng việc, nghỉ bảo hiểm xã hội của từng người cụ thể và
từ đó để có căn cứ tính trả lương, bảo hiểm xã hội trả thay lương cho từng người
Hàng tháng kế toán tiền lương phải tổng hợp tiền lương phải trả lương
trong kỳ theo từng đối tượng sử dụng và tính BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN
hàng tháng tính vào chi phí kinh doanh theo mức lương quy định của chế độ,
tổng hợp các số liệu này kế toán lập “Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã
hội”.
Trên bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội ngoài tiền lương,
BHXH, BHYT, KPCĐ,BHTN còn phản ánh khoản trích trước tiền lương nghỉ
phép của công nhân sản xuất (nếu có); bảng này được lập hàng tháng trên cơ sở
các bảng thanh toán lương đã lập theo các tổ, (đội) sản xuất, các phòng ban quản
lý, các bộ phận kinh doanh và các chế độ trích lập BHXH, BHYT,
KPCĐ,BHTN, mức trích trước tiền lương nghỉ phép…
Căn cứ vào các bảng thanh toán lương; kế toán tổng hợp vá phân loại tiền
lương phải trả theo từng đối tượng sử dụng lao động, theo nội dung trả lương
trực tiếp cho sản xuất hay phục vụ quản lý ở các bộ phận liên quan; đồng thời có
phân biệt tiền lương chính, tiền lương phụ; các khoản phụ cấp, để tổng hợp ghi
vào cột ghi Có TK 334 “Phải trả người lao động” vào các dòng phù hợp.
SV:Nguyễn Thị Thu Thủy - 25 - QKT_LC2