SỞ HỮU TRÍ TUỆ - LUẬT QUỐC TẾ VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ - 1 pot - Pdf 21

CURRICULUM ON INTELLECTUAL PROPERTY

Professor Michael Blakeney
Queen Mary Intellectual Property Research Institute
University of London

TÀI LIỆU GIẢNG DẠY VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Giáo sư Michael Blakeney
Viện nghiên cứu Sở hữu trí tuệ Queen Mary
Đại học London
Provided and translated by
the EC-ASEAN Intellectual Property Rights Co-operation Programme (ECAP II) Tài liệu này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II)
dịch và cung cấp
được tạo điều kiện thuận lợi hơn khi các nước có thể tin tưởng rằng các nước đối tác cũng
có các chuẩn mực pháp lý tương tự.
1.2 Nguồn pháp lý của luật sở hữu trí tuệ quốc tế
Nguồn pháp lý của luật quốc tế áp dụng cho các chế định sở hữu trí tuệ qu
ốc tế
cũng như tất cả các lĩnh vực luật quốc tế khác được quy định một cách rõ ràng tại Điều 38
Quy chế Toà án quốc tế. Điều này quy định rằng trong quá trình giải quyết các tranh chấp,
Toà án phải áp dụng:
a. các điều ước quốc tế, bất kết là chung hay riêng, thiết lập các quy tắc được
thừa nhận một cách rõ ràng bởi các nước thành viên;
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
3
b. tập quán quốc tế, với danh nghĩa là thực tiễn chung được chấp nhận như là
pháp luật;
c. các nguyên tắc chung của pháp luật được các quốc gia văn minh thừa nhận;
d. tuỳ thuộc vào các quy định của Điều 59 (trong đó cho phép toà án triệu tập
nhân chứng và chuyên gia), các phán quyết của toà án và các bài giảng của
các chuyên gia nghiên cứu có uy tín nhất của các nước, với danh nghĩa là
công cụ bổ sung để xác đị
nh các quy tắc pháp luật.
Là một phần Quy chế của Toà án thường trực quốc tế của Liên hiệp các quốc gia
(Permanent Court of International Justice of the League of Nations), điều khoản này đã
được đưa vào Quy chế của Toà án quốc tế năm 1945. Điều khoản này liệt kê một danh
mục các nguồn hiện đại cơ bản của luật quốc tế, mặc dù không chỉ ra thứ tự ưu tiên về
mặt hình thức củ
a các nguồn này. Luật sở hữu trí tuệ quốc tế chủ yếu bắt nguồn từ luật
điều ước, tuy nhiên, với tầm quan trọng ngày càng gia tăng của việc giải quyết tranh chấp,
các nguyên tắc pháp luật chung ngày càng trở nên quan trọng hơn. Những ý kiến khẳng
định rằng các nguyên tắc về quyền con người có tính ưu việt so với luật sở hữu trí tuệ
đang đòi hỏi phả

ngày càng có ý nghĩa quan trọng. Điều này là đặc biệt đúng trong trường hợp ảnh hưởng
của internet đến luật sở hữu trí tuệ, khi mà quy định về đăng ký tên miền được dựa trên cơ
sở tự điều chỉnh.
Một vấn đề chưa được nghiên cứu là phạm vi áp dụng các tập quán pháp đối với
việc b
ảo hộ tài sản thực và các động sản hữu hình cho tài sản vô hình. Ngoài ra, cần phải
nghiên cứu việc áp dụng các nguyên tắc của tập quán pháp quốc tế như nguyên tắc thực
hiện nghiêm chỉnh và tận tâm các cam kết quốc tế (nguyên tắc pacta sunt servanda
1
) và
sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa các quốc gia.
1.2.3 Tiền lệ pháp
Tiền lệ pháp đã được chứng minh không phải là một nguồn quan trọng của luật sở
hữu trí tuệ quốc tế. Chưa từng có vụ việc nào về sở hữu trí tuệ được đưa ra trước Toà án
quốc tế hoặc là cơ quan tiền thân của Toà án này (the Permanent Court of International
Justice). Tình trạng này đã bắt đầu thay đổi vớ
i việc xét xử các hành vi vi phạm Hiệp định
TRIPS bởi Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, trên cơ sở các đề xuất của một ban
bồi thẩm (panel) hoặc Cơ quan giải quyết khiếu nại (Appellate Body). Mặc dù các lập
luận của ban bồi thẩm hoặc cơ quan giải quyết khiếu nại không có giá trị ràng buộc nhưng
các ban bồi thẩm và cơ quan giải quyết khiếu nại về sau v
ẫn buộc phải xem xét những lập
luận đó. Đã từng có ý kiến cho rằng cần thúc đẩy các quy tắc pháp lý trong hệ thống kinh
tế quốc tế nếu các toà án quốc gia và khu vực xét xử các vấn đề thuộc nội dung của các
Hiệp định của WTO về hiệu lực của các quyết định của các ban bồi thẩm và cơ quan giải
quyết khiếu nại.
2

Các toà án quốc gia và khu vực có các nguồn thẩm quyền xét xử cơ bản trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ, mặc dù không phải là các nguồn luật quốc tế chủ yếu theo Điều 38

Điều 42 Hiệp định TRIPS yêu cầu r
ằng các thủ tục phải đúng đắn và công bằng
trong đó bị đơn phải có quyền được “thông báo bằng văn bản một cách kịp thời và chi
tiết, trong đó nêu cả căn cứ của các yêu cầu đó”. Điều này yêu cầu rằng các bên “phải có
quyền biện minh cho yêu cầu của mình và có quyền đưa ra mọi chứng cứ thích hợp” cũng
gần như đã trở thành một nguyên tắ
c pháp luật chung, tương tự như yêu cầu các thủ tục
không được đòi hỏi “quá mức việc đương sự buộc phải có mặt tại toà”.
Về cơ bản, các nguyên tắc chung về sự trung thực và công bằng gần như tạo thành
một phần của luật sở hữu trí tuệ quốc tế về nội dung. Học thuyết về tính cân xứng với ý
nghĩa rằng luật pháp không
được đặt ra các nghĩa vụ vượt quá những gì được coi là cần
thiết để giải quyết các tình huống từ đó tạo thành một nguyên tắc pháp luật chung chi phối
hoạt động của Toà án châu Âu.
1.3 Các tổ chức quốc tế
Việc quản lý các khía cạnh của định chế sở hữu trí tuệ quốc tế được thực hiện bởi
một số tổ chức quốc tế và t
ổ chức liên chính phủ được thành lập theo các điều ước quốc
tế. Các tổ chức chính về sở hữu trí tuệ ở cấp quốc tế và liên chính phủ là Tổ chức Sở hữu
trí tuệ thế giới (WIPO) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Một số khía cạnh đặc biệt của luật sở hữu trí tuệ quốc tế được giao cho một số t

chức quốc tế chịu trách nhiệm: bản quyền và văn hoá dân gian: Tổ chức Văn hoá, Khoa
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
6
học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO); giống cây trồng mới: Liên minh bảo hộ
giống cây trồng (UPOV); tiếp cận tài nguyên di truyền: Tổ chức Nông Lương, Hội nghị
các bên tham gia Công ước Đa dạng sinh học (CBD), Chương trình môi trường Liên hợp
quốc (UNEP); công nghệ y học: Tổ chức Y tế thế giới (WHO); quyền kề cận: Liên minh
Viễn thông quốc tế; chuyển giao công nghệ: Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp

…có sự xung đột thực tế và tiềm tàng giữa việc thi hành Hiệp định TRIPS và việc
thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá liên quan đến, ngoài những vấn
đề khác, những trở ngại cho hoạt động chuyển giao công nghệ cho các nước đang
phát triển, hệ qu
ả của việc có được quyền hưởng thực phẩm, quyền đối với giống
cây trồng mới và việc cấp độc quyền cho các cơ thể sinh vật bị biến đổi gen, “sinh
tặc” (bio-piracy) và sự suy giảm việc kiểm soát của cộng đồng (đặc biệt là các
cộng đồng bản địa) đối với các nguồn tài nguyên di truyền và tài nguyên thiên
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
7
nhiên và các giá trị văn hoá của họ, và những hạn chế tiếp cận các loại dược phẩm
được bảo hộ độc quyền và quyền được chăm sóc sức khoẻ,
đã thông qua một nghị quyết kêu gọi giải quyết vấn đề ảnh hưởng của Hiệp định TRIPS
đến vấn đề quyền con người và quyền của các cộng đồng, trong đó có nông dân và những
nhóm người bản
địa trên toàn thế giới. Nghị quyết này lưu ý rằng “những xung đột rõ
ràng” giữa các quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Hiệp định TRIPS và luật nhân
quyền quốc tế, đặc biệt là “việc thi hành Hiệp định TRIPS không phản ánh một cách đầy
đủ bản chất cơ bản và tính không thể phân chia của tất cả các quyền con người, bao gồm
quyền của tất cả mọi người được h
ưởng lợi từ sự tiến bộ khoa học và việc ứng dụng các
tiến bộ này, quyền được bảo vệ sức khoẻ, quyền đối với thực phẩm và quyền tự quyết
(Điều 2). Nghị quyết này lưu ý rằng “tất cả các Chính phủ phải ưu tiên thực hiện các
nghĩa vụ về quyền con người trong các chính sách và thoả thuận về kinh tế” (Đi
ều 3).
Mặc khác, sự bảo đảm được quy định tại Điều 27(2) của Tuyên bố toàn cầu về
quyền con người rằng “Tất cả mọi người đều có quyền được bảo vệ lợi ích về vật chất và
tinh thần có được từ các sản phẩm khoa học, văn học và nghệ thuật mà họ là tác giả” hàm
ý rằng bản thân sự bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ đã có thể là một yếu tố của quyền con

iều ước;
(b) văn kiện bất kỳ được một bên hoặc các bên làm ra liên quan đến việc ký kết điều
ước và được chấp nhận bởi các bên khác như là một văn kiện liên quan đến điều
ước.
Đồng thời phải xem xét, phù hợp với Điều 31(3), cùng với ngữ cảnh,
(a) thoả thuận tiếp theo bất kỳ giữa các bên về việc giải thích đi
ều ước hoặc việc áp
dụng các điều khoản của điều ước;
(b) thực tiễn bất kỳ nảy sinh về sau trong việc áp dụng điều ước tạo thành thoả thuận
của các bên về việc giải thích điều ước;
(c) quy tắc phù hợp bất kỳ của luật quốc tế áp dụng cho các quan hệ giữa các bên;
Điều 31(4) cho phép các bên tham gia mộ
t điều ước đưa ra nghĩa cụ thể cho một thuật
ngữ hay điều khoản.
Theo Điều 32, có thể cần đến các công cụ bổ sung cho việc giải thích, bao gồm quá
trình chuẩn bị điều ước và bối cảnh ký kết điều ước, để khẳng định nghĩa nảy sinh trong
quá trình áp dụng Điều 31 hoặc để xác định nghĩa khi việc giải thích theo
Điều này lại tạo
ra lưỡng nghĩa hoặc sự không rõ nghĩa hoặc dẫn tới kết quả vô lý hoặc rõ ràng là bất hợp
lý.
Những nguyên tắc giải thích điều ước này trong bối cảnh sở hữu trí tuệ đã được sử
dụng trong một số quyết định của Ban bồi thẩm và Cơ quan giải quyết khiếu nại liên quan
đến các tranh chấp nảy sinh từ Hiệ
p định TRIPS.
(a) Tranh chấp về việc bảo hộ sáng chế dành cho dược phẩm giữa Hoa Kỳ và Ấn
Độ (1996)
Tranh chấp này liên quan đến một đơn kiện từ Hoa Kỳ rằng Ấn Độ không thiết lập
cơ chế “hộp thư” để nhận đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế theo như yêu cầu của
Điều 70.8 Hiệp định TRIPS và rằng Ấn Độ đ
ã không dành độc quyền tiếp thị như yêu cầu

một cơ chế cho phép nộp đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế có liên quan và xác
định việc nộp đơn và ngày ưu tiên “để có thể bảo đảm tính mới của sáng chế có liên quan
và ngày ưu tiên của đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền cho sáng chế đó nhằm mục đích xác
định khả
năng cấp bằng độc quyền sáng chế cho sáng chế đó tại thời điểm có quy định về
việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho sản phẩm đối với các sáng chế này.”
8
Ban bồi thẩm
cho rằng kết luận này đã được khẳng định bởi lịch sử đàm phán Hiệp định TRIPS, “theo
đó việc cấp bằng độc quyền sáng chế cho dược phẩm và các sản phẩm hoá chất nông
nghiệp là một vấn đề then chốt”.
9
Ngoài ra, Ban bồi thẩm lưu ý rằng các nước cũng phải
dành độc quyền tiếp thị cho các sản phẩm nêu trên, nếu các sản phẩm này được phép tiếp
thị trong giai đoạn chuyển tiếp.
Cuối cùng, áp dụng luật học GATT liên quan đến các dự định pháp lý
10
, Ban bồi
thẩm thấy rằng “tính có thể dự đoán trong chế định sở hữu trí tuệ thực sự là cần thiết đối
với công dân của các Thành viên WTO khi họ đưa ra các quyết định về thương mại và
đầu tư trong quá trình kinh doanh của mình”.
11

Do vậy, Ban bồi thẩm đã kết luận rằng Ấn Độ đã không thực hiện Điều 70.8(a) khi
không sửa đổi luật sáng chế của mình để cho phép nộp đơn theo cơ chế hộp thư để được
cấp bằng độc quyền sáng chế sau khi kết thúc thời hạn chuyển tiếp dành cho các nước
đang phát triển. Ban bồi thẩm cũng kết luận rằng thực tiễ
n quản lý không được công bố
về việc nhận đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế không đáp ứng các nghĩa vụ theo
quy định của Hiệp định TRIPS.

17
Vì mục tiêu
của Hiệp định TRIPS bao gồm “sự cần thiết phải thúc đẩy việc bảo hộ một cách có hiệu
quả và toàn diện quyền sở hữu trí tuệ”, Hội đồng giải quyết khiếu nại đã đồng ý với Ban
bồi thẩm rằng cơ chế được thiết lập theo Điều 70.8(a) phải tạo ra một cơ sở pháp lý vững
chắc để b
ảo đảm tính mới và quyền ưu tiên.
18
Hội đồng đã kết luận rằng vì các hướng dẫn
hành chính là cơ sở của hệ thống hộp thư của Ấn Độ bị phủ nhận bởi các quy định mang
tính bắt buộc của Luật sáng chế Ấn Độ, Ấn Độ đã không tuân thủ Điều 70.8(a). Tương tự,
vì Ấn Độ không ban hành quy định về độc quyền tiếp thị theo như yêu cầu tạ
i Điều 70.9,
Hội đồng giải quyết khiếu nại đã đồng ý rằng Ấn Độ cũng vi phạm quy định này.
(b) Tranh chấp về thời hạn bảo hộ sáng chế giữa Hoa Kỳ và Canada (2000)
Vấn đề tranh chấp trong vụ việc này là Điều 45 Luật sáng chế Canada quy định
thời hạn bảo hộ sáng chế là 17 năm đối với những bằng độc quyền sáng ch
ế cấp trước
ngày 1.10.1989. Hoa Kỳ phản đối quy định này vì cho rằng điều đó trái với quy định về
thời hạn bảo hộ sáng chế là 20 năm theo như yêu cầu của Điều 33 Hiệp định TRIPS. Ban
bồi thẩm giải quyết vụ việc này đã đồng ý với phản đối của Hoa Kỳ.
19
Canada đã phản
đối lên Hội đồng giải quyết khiếu nại rằng quyết định của Ban bồi thẩm không phù hợp
với Điều 70.1 của Hiệp định TRIPS trong đó có quy định về sự không hồi tố của các
“hành động” đã xảy ra trước ngày áp dụng Hiệp định TRIPS. Canada cũng dựa vào Điều
28 của Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế
trong đó quy định rằng các điều khoản
của một điều ước không có giá trị ràng buộc một bên liên quan đến hành động, sự kiện
hoặc tình huống bất kỳ xảy ra trước ngày điều ước quốc tế có hiệu lực đối với bên đó.

hoặc sự kiện bất kỳ đã xảy ra hoặc tình huống bất kỳ không còn tồn tại trước ngày điều
ước có hiệu lực đối với nước đ
ó.
Hội đồng giải quyết khiếu nại quan niệm rằng nếu không có ý định trái ngược thì
Điều 28 được áp dụng cho “tình huống” bất kỳ không còn tồn tại theo một điều ước
mới.
22
Để giải thích điều này, cần đến sự hỗ trợ từ phần dẫn giải về Điều 28, là một phần
của quá trình soạn thảo Công ước Viên.
23

(c) Tranh chấp giữa EC và Hoa Kỳ về Điều 110(5) Luật bản quyền Hoa Kỳ
Tranh chấp này liên quan đến Điều 110(5) Luật Bản quyền Hoa Kỳ năm 1976,
được sửa đổi theo Luật về sự công bằng trong việc li-xăng tác phẩm âm nhạc năm 1998
thay thế những hạn chế đối với độc quyền được quy định cho chủ sở hữu bản quyền liên
quan đến một s
ố hình thức trình diễn và biểu diễn công khai. Điều 110(5) (A) loại trừ ra
khỏi khái niệm xâm phạm bản quyền hành vi truyền phát sóng mang một chương trình
biểu diễn hoặc trình diễn một tác phẩm của một cơ sở thu sóng công khai trên một loại
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
12
thiết bị thu riêng lẻ thường được sử dụng ở các nơi công cộng, trừ trường hợp đã thanh
toán trực tiếp để xem hoặc nghe sóng đó, hoặc sóng đó được truyền tiếp cho công chúng.
Điều 110 (5)(B) loại trừ hành vi truyền dẫn bằng việc tạo ra một buổi phát hoặc chương
trình phát lại bao gồm một chương trình biểu diễn hoặc trình diễn một tác phẩm âm nhạc
phi nhạ
c kịch nhằm để cho công chúng thu, có nguồn gốc từ một trạm phát thanh hoặc
truyền hình được li-xăng (hợp pháp) với một cơ sở không lớn hơn quy mô quy định hoặc
không phải trả trực tiếp để xem hoặc nghe chương trình phát sóng hoặc phát lại sóng đó.
Mục đích của việc loại trừ theo điểm (B), theo như được trình bày trong Báo cáo

nghĩa thông thường cho các điều khoản của một điều ước “trong ngữ cảnh của các
điều
khoản này và phù hợp với mục tiêu và mục đích của điều ước đó”.
25

Điều 3.2 Công ước Viên quy định rằng,
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp
13
Ngữ cảnh để giải thích một điều ước phải bao gồm, ngoài văn bản điều ước trong
đó có phần mở đầu và các phụ lục: (a) thoả thuận bất kỳ liên quan đến điều ước đó được
lập giữa tất cả các bên liên quan đến việc ký kết điều ước đó
Hội nghị sửa đổi Công ước Berne tại Brussels năm 1948
đã bác bỏ việc đưa vào
Công ước Berne học thuyết về các ngoại lệ thứ yếu vì điều đó khuyến khích việc mở
rộng các ngoại lệ. Như một sự thoả hiệp, Hội nghị Brussels đã nhất trí rằng cần đưa vào
Báo cáo chung tuyên bố về khả năng quy định các ngoại lệ thứ yếu trong luật quốc gia.
Hội đồng đã lưu ý rằ
ng Tổng thư ký đã được “uỷ thác đưa ra một chỉ dẫn rõ ràng về khả
năng dành cho pháp luật quốc gia được quy định những trường hợp thường được gọi là
những bảo lưu thứ yếu và cho rằng sự lựa chọn lời văn này đã phản ánh một sự thoả thuận
theo nghĩa của Điều 31(2)(a) Công ước Viên.
26
Ngoài ra, thực tiễn của các quốc gia như
được phản ánh trong luật bản quyền quốc gia của các thành viên Liên hiệp Berne cũng
như các Thành viên WTO trước và sau ngày Hiệp định TRIPS có hiệu lực đã khẳng định
quan điểm của Hội đồng về học thuyết ngoại lệ thứ yếu.
27

Căn cứ vào sự tồn tại của học thuyết về các ngoại lệ thứ yếu, Hội đồng cho rằng
học thuyết này đã được đưa vào Hiệp định TRIPS như một phần của bản thân Công ước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status