LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, thế kỷ của khoa học công nghệ - thông tin. Mọi
thành tựu khoa học công nghệ được đáp ứng vào trong sản xuất hàng hoá và
dịch vụ, năng suất trong sản xuất tăng nhanh, hàng hoá sản xuất ra ngày càng
nhiều. Sự cạnh tranh giữa các công ty, các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và
khốc liệt. Các doanh nghiệp luôn cố gắng, nỗ lực tìm cho mình một vị thế,
chỗ đứng trên thị trường, liên tục mở rộng thị phần sản phẩm, nâng cao uy tín
của doanh nghiệp đối với khách hàng, có như vậy mới tồn tại và phát triển
được. Chính vì lý do đó mà đề tài: "Một số biện pháp chủ yếu nhằm thúc
đẩy sản xuất và xuất khẩu của công ty TNHH thương mại Anh Quân".
Công ty TNHH Anh Quân là một công ty sản xuất và thương mại các
thiết bị liên quan đến điến nước . Để xuất khẩu ra các nước trong khu vực và
quốc tế. Trong những năm qua, do dự biến động của thị trường và với sự cạnh
tranh gay gắt của một số công ty cùng ngành nên tình hình tiêu thụ sản phẩm
của Công ty gặp nhiều khó khăn. Để có thể đứng vững trong tình hình hiện
nay trên thị trường. Công ty cần thực hiện nhiều biện pháp cấp bách cũng như
lâu dài để nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ sản phẩm, phát triển hoạt động
sản xuất kinh doanh, giữ vững uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thị
trường từ trước tới nay.
Nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động tiêu thụ sản phẩm ở
công ty hiện nay. Em xin nghiên cứu đề tài: "Một số biện pháp chủ yếu
nhằm thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu của công ty TNHH thương mại
Anh Quân".
Đề tài gồm 2 chương:
Chương I: Thực trạng hoạt động sản xuất và các hoạt động thương mại
hàng hoá của Công ty trang thiết bị điên nước Anh Quân.
Chương II: Một số biện pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy xuất khẩu công ty
Anh Quân
1
Với ý nghĩa thiết thực của đề tài nghiên cứu tìm ra một số biện pháp
nhằm đẩy mạnh quá trình tiêu thụ sản phẩm của Công ty TNHH Anh Quân,
Công ty được thành lập vào ngày 20 tháng 8năm 1997
Người sáng lập công ty là: Nguyễn Văn Quang và Hồng Đức An Trong
đó anh Nguyễn Văn Quang là giám đốc điều hành mọi hoạt động của công ty
theo chế độ thủ trưởng và đại diện cho mọi quyền lợi, nghĩa vụ của công ty
trước pháp luật và trước cơ quan quản lý nhà nước.
Công ty có hình thức pháp lý là Công ty TNHH , có chức năng đưng ra
làm trung gian thương mại và sản xuất thiết bị điên nước bán ra thị trường
trong và ngoài nước.Các hoạt động của công ty là liên doanh liên kết với các
công ty và xí nghiêp trong cả nước được công ty thu mua lại và xuất khẩu ra
3
các nước có nhu cầu tiêu dùng như : Nhật bản ,hàn quốc ,và một số nước châu
Âu …
Giai đoạn ra đời từ năm 1997 đến nay trong nền kinh tế thị trường cạnh
tranh đòi hỏi công ty phải chủ động trong kinh doanh. Tích cực tìm kiếm thị
trường, vấn đề chủ yếu là thị trường năy trong nền kinh tế thị trương hiện nay
đòi hỏi công ty phải chủ động trong kinh doanh. Tích cực tim kiếm thị trường
vấn đề chủ yếu là thị trường, nhiều doanh nghiệp không tìm ra được hàng gì?
và xuất đi đâu ? do vậy tìm kiếm thị trường , phát triển thị trường mới và duy
trì thị trường sẵn có để tăng thêm kim ngạch xuất khẩu đây là nhiệm vụ hàng
đầu của công ty bên cạnh đó, công ty phải thay đổi để thích ứng với cơ chế thị
trường cụ thể.
* Với sản xuất trong nước:
- Xác định lại đối tượng sản xuất , tổ chức có hiệu quả mạng lưới sản
xuất, thu mua, đầu tư, mở rộng các cơ sở sản xuất có tiềm năng thực tế nhằm
vào vùng có nguyên vật liệu, có lao động, công nhân có tay nghề cao và thực
sự sản xuất mở rộng các hình thức hợp đồng mua bán hàng xuất khẩu như:
Mua đứt bán đoạn, gửi bán, hàng đổi hàng.
* Với nước ngoài:
- Công ty chấn chỉnh lại phong các bán hàng tìm hiểu nhu cầu của
khách hàng để đáp ứng đúng nhu cầu đó, quan tâm đúng mức đến công việc
đồng mua bán ngoại thương, hợp đồng kinh tế và các văn bản về hợp tác liên
doanh, liên kết đã ký với khách hàng trong và ngoài nước thuộc nội dung hoạt
động của công ty.
Được vay vốn (kể cả ngoại tệ) ở trong nước và nước ngoài nhằm phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty theo đúng luật pháp hiện
hành của Nhà Nước.
Mỗi doanh vụ được thực hiện trên cơ sở phương án kinh doanh, phản
ánh đầy đủ, trung thực các khoản thu nhập và các khoản chi phí thực tế phát
5
sinh bao gồm cả tiền trả công cho người giới thiệu khách hàng, tạo điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ công ty ký kết và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu có
hiệu quả bảo đảm nguyên tắc lấy thu bù chi và có lãi.
Được liên doanh liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh doanh
và cá nhân kể cả đơn vị khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước để đầu tư ,
khai thác nguyên liệu sản xuất, gia công huấn luyện tay nghề trên cơ sở tự
nguyện bình đẳng, các bên cùng có lợi trong phạm vi hoạt động của công ty.
2. Mô hình tổ chức bộ máy của công ty
2.1 Bộ máy quản lý
Cơ cấu quản lý của Công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến chức
năng, thi hành chế độ một thủ trưởng ở tất cả các khâu. Mọi công nhân viên
và các phòng ban trong công ty đều chấp hành mệnh lệnh chỉ thị của Giám
đốc. Giám đốc có quyền hạn và trách nhiệm cao nhất trong Công ty; Các
phòng ban có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc, chuẩn bị quyết định, theo
dõi, kiểm tra, hướng dẫn các bộ phận thực hiện quyết định của Giám đốc theo
đúng chức năng của mình. Mối quan hệ giữa các phòng ban là mối quan hệ
ngang cấp.
6
Sơ đồ 1:
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý của Công ty TNHH Anh Quân
- Giải quyết các chế độ chính sách
- Quản lý hồ sơ nhân sự
* Phòng tài vụ: Tham mưu cho giám đốc các công tác hạch toán kế
toán thống kê, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ tài chính, tính toán chi phí sản
xuất và giá thành sản phẩm; thành lập các chứng từ sổ sách thu, chi với khách
hàng, theo dõi lưu chuyển tiền tệ của công ty, báo cáo cho giám đốc về tình
hình kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Kết hợp cùng với phòng Kế
hoạch - Vật tư trong các chính sách về tiêu thụ sản phẩm để trình giám đốc.
* Phòng kế hoạch : Giúp giám đốc về các mặt sau:
- Soạn thảo hợp đồng kinh tế
- Quản lý - thống kê sản phẩm
- Kế hoạch giá thành - quản lý định mức vật tư
- Cấp phát vật tư, dụng cụ, thu hồi phế liệu
- Quản lý kho hàng
- Kế hoạch tính theo sản phẩm - tổ chức mạng lưới Marketing, tổ chức
bốc xếp vận chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm
- Xác nhận theo dõi công nợ khách hàng
Phòng kinh doanh
- Trên cơ sở các mặt hàng được giao các chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu
và được phân bổ các đơn vị trực tiếp tiếp cận thị trường tìm hiểu nhu cầu, thị
hiếu người tiêu dùng để xây dựng phương án kinh doanh có thể tự quyết định
trong việc ký hợp đồng để khỏi lỡ thời cơ, trên cơ sở đảm bảo an toàn về pháp
lý, chắc chắn có hiệu quả kinh tế. Sau đó phải trình giám đốc phê duyệt
phương án đó để đảm bảo nguyên tắc quản lý.
8
- Đơn vị sản xuất kinh doanh mặt hàng truyền thống, đồng thời được
phép kinh doanh tổng hợp việc phân phối các chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu
của công ty trước hết được ưu tiên cho các đơn vị kinh doanh một mặt hàng
thì phải có sự thoả thuận giữa các đơn vị dưới sự chỉ đạo của giám đốc về giá
cả, chất lượng, điều kiện thanh toán, thời hạn giao hàng… Trên cơ sở đảm
Dây cáp nho 1140 1730 957 812 1071 1120
Day điện dd 1396 2894 4203 3815 3772 3827
ông nước dd 1504 1211 1347 1584 2154 2385
(Nguồn: Báo cáo xuất khẩu hàng năm của công ty xuất nhập khẩu của
công ty )
Đặc biệt năm 2003, năm cuối cùng kế hoạch 5 năm (1999 – 2003) trong
khi cơ cấu nền kinh tế nước ta đang biến đổi, vận động theo cơ chế thị trường
có sự điều tiết của Nhà Nước, tình hình kinh tế, chính trị, ngoại giao được mở
rộng hoà nhập chung vào khu vực thị trường thế giới, Công ty đã ổn định về
tổ chức sau quyết định 338 , thị trường ngoài nước được mở rộng, quan hệ
buôn bán được với trên 30 nước, công ty đã giữ vững và tăng được kim ngạch
xuất nhập khẩu.
BIỂU 2: MỘT SỐ CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ KINH DOANH 1999-2003
(Đơn vị : triệu đồng)
Stt
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002 2003
1
2
3
4
5
6
Tổng nguồn vốn
Tổng doanh thu
Doanh thu thuần
Lợi nhuận
Tỷ suất LN/DT
Tốc độ tăng DT (%)
45.685
75.863
Qua số liệu trên ta thấy vốn của Công Ty tăng qua các năm , doanh thu tăng
dần qua các năm đặc biệt năm 2001, doanh thu tăng kéo theo lợi nhuận tăng đưa lợi
nhuận từ năm 1998 là 1.176.000.000 VNĐ nên năm 2002 là 4.150.000.000. VNĐ.
Tuy nhiên tỷ suất lợi nhuận còn thấp xấp xỉ 3%o. Công ty xuất khẩu chủ yếu với
hình thức uỷ thác xuất khẩu do vậy đem lại lợi nhuận chưa cao như xuất khẩu trực
tiếp , hiện nay Công Ty một mặt vẫn duy trì hình thức xuất khẩu uỷ thác .
mặt khác tìm thị trường để xuất khẩu trực tiếp. Qua số liệu trên ta thấy tốc độ
tăng doanh thu tương đối cao đặc biệt năm 2000 là 36.98%, song có năm
2001 giảm 40,27%. Tuy nhiên lợi nhuận tăng đều qua các năm và được Bộ
đánh giá là một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
a. Về thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước:
Mặc dù gặp khó khăn trong kinh doanh , nợ khó đòi , thị trường truyền
thống bị thu hẹp , chưa tìm ra nhiều thị trường mới để thay thế thị trường
truyền thống , cạnh tranh giữa các nước , giữa nước này với nước khác , khối
này với khối khác … Song về cơ bản Công Ty vẫn hoàn thành tốt nghĩa vụ
với Nhà nước:
BẢNG 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHĨA VỤ VỚI NHÀ NƯỚC TỪ 1999 – 2003
(Đơn vị : triệu đồng)
Stt
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002 2003
1
2
3
4
5
6
7
Tổng thuế
Thuế doanh thu
Thuế XNK
1150
45
6550
-1500
5600
320
680
1000
450
(Nguồn : Báo cáo phòng tài chính kế hoạch)
11
Qua số liệu trên, Công Ty đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà
nước. Thuế Công Ty phải nộp chủ yếu là thuế XNK và thuế doanh thu , hàng
năm nộp đủ chỉ tiêu đề ra. Từ năm 2002 Công Ty được hưởng ưu đãi của Nhà
nước thay vì nộp thuế lợi tức là 45 % xuống còn 32 %.
b. Tình hình thu nhập cán bộ công nhân viên ( CBCNV)
Chuyển sang nền kinh tế thị trường , Công Ty hạch toán theo chế độ tự
hạch toán kinh tế, tuy có sự chỉ đạo từ trên xuống nhưng vẫn theo hình thức
lời ăn, lỗ chịu . Vì vậy nên CBCNV đă cố gắng đưa hoạt động kinh doanh
của Công Ty phát triển , có chế độ thưởng, phạt rõ ràng . Do vậy đă làm cho
thu nhập bình quân CBCNV tăng lên.
BẢNG 4: THU NHẬP CỦA CBCNV TỪ NĂM 1999-2003
(Đơn vị : triệu VNĐ)
Stt Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002 2003
1
2
3
Lao động bình quân
Tổng quỹ lương
Thu nhập của CBCNV
Trong mấy năm qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm của công ty đạt được
những thành tựu to lớn.
Thị trường được mở rộng :
Thị trường của công ty không ngừng được mở rộng trên cả nước đẩy
mạnh sản lượng sản phẩm tiêu thụ tăng 10% năm. Có được kết quả trên là
nhờ công ty đã thực hiện đa dạng hoá sản phẩm kết hợp với nâng cao chất
lượng từng sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Năm
2002 công ty đã mở rộng thị trường ở các nước trong khu vực : Nhật Bản ,
Hàn Quốc… và sang thị trường Châu Âu.
* Đầu tiên đó là do nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân của công ty đã
tích cực tìm kiếm thị trường, tìm kiếm nguồn hàng xuất khẩu thay đổi kiểu
dáng, mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm từng bước phù hợp với nhu cầu
của khách hàng, nghiên cứu thị trường để tìm ra thị trường thích hợp, xuất
khẩu mặt hàng gì, xuất khẩu đi đâu và xuất khẩu cho ai.
Sự năng động và sáng tạo của đội ngũ lãnh đạo, biết củng cố lại bộ máy
có chế độ thưởng phạt rõ ràng để khuyến khích người lao động, để họ tìm
kiếm khách hàng, khả năng nhậy cảm, dự đoán và biết chớp cơ hội trong kinh
doanh.
Đặc biệt của mặt hàng điện nước dân dụng của nước ta đa dạng, có
nhiều xí nghiệp sản xuất tạo điều kiện tốt cho thu mua và xuất khẩu hàng hoá.
13
Hiện nay thông tin nhanh chóng đầy đủ, kịp thời qua mạng Internet,
qua hội trợ triển lãm, qua việc tham quan tìm hiểu trực tiếp của khách hàng
4. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của
công ty.
4.1 Khái quát chung thị trường quôc tế về mặt hàng điện nươc dân
dung
Từ năm 1991 sau khi Liên xô cũ và các nước XHCN đông âu bị đổ vỡ
Việt Nam mất đi một thị trường rộng lớn ( chiếm 70% kim ngạch xuất khẩu)
Việt nam đã thực hiện công cuộc đổi mới về kinh tế, tăng cường quan hệ kinh
thị trường cụ thể mà có đòi hỏi riêng về mẫu mã sản phẩm .
Các nước xuất khẩu chính Đai Loan, Malaysia,ThaiLan…
4.2 Các nhân tố ảnh hưởng
4.2.1. Công cụ, chính sách vĩ mô của Nhà Nước
Công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước là nhân tố quan trọng mà các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khâủ phải nắm rõ và tuân theo vô điều
kiện bởi nó thể hiện ý chí của đảng và nhà nước công cụ, chính sách vĩ mô
của nhà nước bảo vệ lợi ích chung của mọi tầng lớp trong xã hội. Hoạt động
xuất khẩu tiến hành giữa các chủ thể giữa các quốc gia khác nhau. Bởi vậy nó
chịu sự tác động của các chính sách chế độ luật pháp ở quốc gia mình và đồng
thời cũng phải tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế chung.
Đối với nước ta chính sách ngoại thường có nhiệm vụ tạo điều kiện
thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia sâu vào sự phân công lao động
quốc tế, mở mang hoạt động xuất khẩu và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt
được những mục tiêu và yêu cầu về kinh tế, chính trị xã hội hoạt động kinh tế
đối ngoại.
a. Thuế quan
Thuế quan xuất khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất
khẩu. Thuế quan là một công cụ lâu đời nhất của chính sách thương mại quốc
15
tế và là một phương tiện truyền thống để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà
Nước (NSNN).
Thuế quan xuất khẩu làm cho giá cả hàng hoá quốc tế cao hơn giá cả
trong nước. Tuy nhiên tác động của xuất khẩu nhiều khi lại đưa đến bất lợi
cho khả năng xuất khẩu, Do quy mô xuất khẩu của một nước thường là nhỏ so
với dung lượng của thị trường thế giới cho nên thuế quan xuất khẩu sẽ làm hạ
thấp giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá
quốc tế, điều đó sẽ làm cho dung lượng hàng xuất khẩu giảm đi và sản xuất
trong nước sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này. Trong một số trường hợp
việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi
động xuất khẩu doanh nghiệp phải theo sát chính sách của chính phủ.
4.2.2. Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm : vị trí địa lý, khí hậu … cũng tác động
đến hoạt động xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu và sử
dụng.
4.2.3. Tác động của tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá hối đoái, thông qua việc phản ánh tương quan giá trị của đồng
tiền các nước khác nhau mà tỷ giá hối đoái có được vai trò nhất định đối với
quá trình ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác nó tác động tới tương
quan giá cả xuất khẩu với nhập khẩu, tới khả năng nhập khẩu của các công ty.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, có nghĩa là đồng bản tệ có
giá trị thấp hơn so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các yếu tố khác ảnh
hưởng thì nó sẽ tác động tới xuất khẩu.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái tăng lên có nghĩa là đồng bản tệ có giá
trị tăng lên so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các nhân tố ảnh hưởng thì
sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với giá cả
chung trong nước. Nhưng đồng thời tỷ giá tăng lên sẽ gây nhiều bất lợi cho
xuất khẩu vì hàng xuất khẩu trở nên đắt, khó bán ra nước ngoài.
17
4.2.4. Ảnh hưởng của hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Việc thực hiện xuất khẩu gắn liền với công việc vận chuyển hệ thống
thông tin liên lạc, nhờ có thông tin liên lạc mà các thoả thuận có thể tiến hành
nhanh chóng, kịp thời. Thực tế cho thấy rằng ảnh hưởng của hệ thông thông
tin cho Fax, telex đã đơn giản hoá công việc của hoạt động xuất khẩu rất
nhiều, giảm đi hàng loạt các chi phí, nâng cao kịp thời nhanh gọn và việc hiện
đại hoá các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản góp phần đem quá
trình thực hiện xuất khẩu được nhanh chóng và an toàn.
Nước ta có vị trí thuận lợi về giao thông là trung tâm vận hành đường
biển trong khu vực Đông Nam á, rất thuận tiện cho hoạt động ngoại thương,
tuy nhiên phương tiện đường xá, cơ sở vật chất còn rất lạc hậu. Khắc phục,
hướng bất lợi đối với quan hệ song phương và đa phương với các quốc gia
và công ty trên thế giới, chỉ trên cơ sở nắm vững các nhân tố của môi
trường kinh doanh, doanh nghiệp mới đề ra mục tiêu và chiến lược kinh
doanh đúng đắn. Trong chiến lược và kế hoạch kinh doanh đều phải xác
định đối tác và những lực lượng nào ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
II. Phân tích thực trạng xuất khẩu thương mại của công ty Anh Quân
BIỂU 5: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU GIAI ĐOẠN
1998 – 2003
(Đơn vị : 1000USD)
Năm
Chỉ tiêu
1998 1999 2000 2001 2002 2003
Kim ngạch XK 7493 10718 12096 10404 11254 12.762
Tốc độ tăng trưởng% 0 43 12,86 -13,98 8,17 13,39
(Nguồn: báo cáo XK phòng tài chính kế hoạch)
Qua số liệu trên ta thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu có tốc độ tăng
trưởng khác nhau, có năm tăng, cũng có năm giảm. Qua đó ta thấy thị trường
xuất khẩu hàng thiết bị điên nước tăng giảm thất thường . Trong năm năm gần
đây (1998 – 2003) tốc độ tăng cao nhất là 43% hay 3.225.000USD đó là năm
19
2000 so với 1999(2000/1999) song có năm giảm 29% (1999/1998). Để hiểu
rõ lý do tại sao có điều đó xẩy ra ta hãy xem chi tiết vào cơ cấu mặt hàng xuất
khẩu.
1.Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu:
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các mặt hàng trong
toàn bộ kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiệp, tuy nhiên do công ty có rất
nhiều mặt hàng chỉ đưa ra một số mặt hàng cơ bản chiếm tỷ trọng cao trong
tổng kim ngạch xuất khẩu trong vài năm gần đây.
a. Măt hàng dây điên sợi nhỏ.
20
này giảm mau đáng kể đó là thị trường Nam Triều Tiên và Đức , cụ thể năm
2001 kim ngạch xuất khẩu đạt 4326USD , đứng trước tình hình đó công ty đã
tìm và phát triển thị trường mới. Năm 2002 công ty coi mặt hàng dây điên dân
dụng là mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang thị trường Đài Loan, có thể nói đây
là một thị trường tiềm năng của doanh nghiệp. Năm 2002 kim ngạch xuất
khẩu đạt 1.071.000USD chiếm 9,52% tăng 31,89% so với năm 2001. Hiện
nay, công ty đang đa dạng hoá mặt hàng này, sản xuất theo thị hiếu của khách
hàng để đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên công ty cũng gặp
không ít khó khăn về giá cả, mẫu mã so với sản phẩm của Trung Quốc.
b.Dây cáp đông trục
. Sau năm 1989 từ khi bước vào nền kinh tế thị trường, phương thức
hàng đổi hàng không còn phù hợp , Đông Âu và Liên Xô tan rã nhu cầu của
khách hàng về mặt hàng này khá cao, do vậy trong những năm 1989 đến 1998
việc tiêu thụ hàng với công ty là rất khó khăn, tuy nhiên năm 1999, 2000 có
sự tiến bộ , việc tiêu thụ được tiến hành tốt hơn, cụ thể như sau:
21
BIỂU 7: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DÂY ĐIÊN ĐỒNG TRỤC TỪ
1998 – 2003
(Đơn vị : 1000USD)
Năm
Tổngkim
ngạch XK
Trị giá hàng
dây đồng
trục
Tỷ trọng(%)
Tỷ lệ tăng
giảm (%)
1998 7493 1441 19,23 377,15
1998 – 2003
(Đơn vị : 1000USD)
Năm
Tổng KNXK
của công ty
Trị giá hàng
dây điên cáp
nhỏ
Tỷ trọng(%)
Tỷ lệ tăng
giảm (%)
1998 7493 1504 20,07 -36,97
1999 10718 1211 11,29 -19,48
2000 12096 1347 11,14 11,23
2001 10404 1584 15,22 17,59
2002 11254 2154 19,14 35,98
2003 12.762 2.386 18,69 13,42
Tổng 62531 10186 16,29
(Nguồn: báo cáo kết quả xuất khẩu tài chính kế hoạch).
Qua bảng số liệu trên trị giá xuất khẩu hàng chiếm tỷ trọng 16,29%
trong tổng kim ngạch xuất khẩu, nhìn chung tăng không đều qua các năm,
năm tăng, năm giảm, thị trường biến động thất thường. Năm 1996 trị giá xuất
khẩu hàng đạt 1.504.000$ hay đạt tỷ trọng 20,07%, giảm 36,97% so với năm
1997. Trên thế giới gấp đôi số nước xuất khẩu trong những năm trước kia ,
tuy nhiên công ty cần phải nghiên cứu thị trường, tích cực thay đổi mẫu
mã,chất lượng để cạnh tranh với các đối thủ, thu hút khách hàng.
d. Dây cáp to
Đặc biệt mặt hàng danh cho các đơn vị chuyên sản xuất và cơ sơ công
nghiêp nặng. Hơn nữa hiện nay trên thị trường đối thủ rất rộng đòi hỏi công ty
cần tạo ra độ bên và uy tín của riêng mình, mặt hàng này công ty xuất khẩu
e. Nhóm hàng rất đa dạng gồm nhiều mặt hàng như: Hàng điên dân
dụng điên gia dụng như các loại đen trang trí đèn ngủ và nhiếu loại đèn khác ,
song đặc biệt là các mặt hàng này đòi hỏi rất công phu, nguyên liệu đắt,
không chỉ khéo tay mà cần có sự sáng tạo và độc đáo, hàn hoá được coi là sản
phẩm nghệ thuật và khách hàng cũng là đối tượng am hiẻu nghệ thuật nhìn
chung mặt hàng này phân phối tầng lớp thượng lưu.
Kim ngạch xuất khẩu về mặt hàng này bấp bênh, không ổn định, là mặt
hàng khó tìm thị trường tiêu thụ.
BIỂU 10: KIM NGẠCH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG ĐIÊN KHÁC TỪ NĂM
1998- 2003
24
(Đơn vị : 1000USD)
Năm
Tổng KNXK
của Công ty
Giá trị XK hàng
TCMN khác
Tỷ
trọng(%)
Tỷ lệ tăng
giảm (%)
1998 7493 1633 21,79 -24,18
1999 10718 2926 27,3 79,18
2000 12096 4170 34,47 42,52
2001 10404 1262 12,13 -69,74
2002 11254 1840 16,35 45,8
2003 12.762 2.080 16,29 38,2
Tổng 64.727 12.911 21,49
(Nguồn: báo cáo kết quả xuất khẩu tài chính kế hoạch).
Qua số liệu trên, ta thấy từ năm 1997 – 2002 kim ngạch xuất khẩu hàng