LỜI NÓI ĐẦU
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã tạo ra một bước ngoặt lớn trong đời
sống kinh tế chính trị của nhân dân ta. Đại hội đã chuyển nền kinh tế từ cơ
chế quản lý bao cấp sang nền kinh tế thị trường hoạt động theo định hướng
XHCN . Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tập trung thực hiện nghị
quyết đại hội đảng VIII về đẩy mạnh sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các đơn vị kinh tế trực thuộc
Nhà nước và mọi cá nhân đều phải ra sức học tập, nâng cao kiến thức về
trình độ chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện thành công nghị quyết mà đại
hôị Đảng đã đề ra, nhằm đưa đất nước ta từ một nước có nền kinh tế còn
nghèo nàn, lạc hậu thành một nước có nền kinh tế phát triển ngang tầm với
các nước trong khu vực và phấn đấu tiến tới sự phát triển chung của thế giới.
Bước vào thế kỷ 21, Việt nam nước ta tiếp tục con đường công nghiệp
hoá , hiện đại hoá với đường lối mở cửa nền kinh tế , hội nhập vào kinh tế
của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới , với các tổ chức kinh tế thế
giới như ASEAN, AFTA, OPEC, WTO…
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước , các hoạt
động kinh tế trong khuôn khổ hành lang pháp lý đang diễn ra hết sức sôi
động , làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Mọi
thành phần kinh tế đang cố gắng hết sức để tự khẳng định mình trên thị
trường . Muốn khẳng định được vị thế của mình trên thương trường thì các
thành phần kinh tế, các doanh nghiệp phải chứng tỏ sức mạnh tài chính của
mình, cụ thể là vốn .
Vốn là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt động sản
xuất kinh doanh , giúp doanh nghiệp không những thực hiện các chiến lược
sản xuất kinh doanh mà còn có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của
mình.
Có thể nói sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự
tồn tại một lượng vốn nhất định như là một tiền đề bắt buộc . Không có vốn
sẽ không có bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào . Vốn kinh doanh
đang là vấn đề bức xúc hiện nay, có tầm quan trọng đặc biệt đối với hoạt
PHẦN I
HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG VỐN _ NHÂN TỐ QUAN TRỌNG ĐỐI
VỚI DỰ TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
I.KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN KINH DOANH
1. Khái niệm về vốn kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường
Trong nền kinh tế Quốc dân, mỗi doanh nghiệp được coi là một tế bào
của nền kinh tế với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất
kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá dịch vụ cung cấp cho xã hội.
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải
có ba yếu tố cơ bản là : Đối tượng lao động, tư liệu lao động và lao động.
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp những yếu tố đó để tạo ra
sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Nói cách khác , muốn tiến hành bất kỳ một
hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì doanh nghiệp cần phải có tiền vốn
ứng trước để sử dụng .
Như vậy, ta có thể hiểu một cách khái quát thuật ngữ “vốn” như sau:
Vốn sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ gía trị tài sản phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lợi.
2. Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Căn cứ vào cách phân loại theo hình thái biểu hiện thì: Vốn kinh
doanh được chia làm hai loại là : vốn hữu hình và vốn vô hình .
Căn cứ vào nguồn hình thành thì : Vốn phải hình thành từ hai nguồn
cơ bản là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả
Căn cứ vào nội dung vật chất thì: Vốn kinh doanh được chia làm hai
loại là vốn bằng tài sản và vốn bằng tài chính (tiền)
Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn vô
chủ và không có ai quản lý.
Vốn được quan niệm như một hàng hoá và là một hàng hoá đặc biệt,
có thể mua hoặc bán quyền sử dụng vốn trên thị trường, tạo nên sự giao lưu
theo tính quy luật nhất định. Vì vậy, để quản lý và sử dụng vốn cố định có
hiệu quả , thì trước hết cần phải nghiên cứu tính chất và đặc điểm của TSCĐ
trong doanh nghiệp . TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu tham gia
một cách trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp , bao gồm máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải,
các công trình kiến trúc, các thành tựu khoa học, các bằng phát minh sáng
chế , những chi phí cải tạo đất đai …
Bởi vì vốn cố định là số tiền ứng trước cho TSCĐ của doanh nghiệp
nên quy mô của vốn cố định sẽ quyết định quy mô của TSCĐ, vốn cố định
ảnh hưởng đến giá trị trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ . Ngược lại, TSCĐ
cũng tác động ngược trở lại đến sự tuần hoàn và chu chuyển vốn cố định .
Đây là mối quan hệ tương tác hai chiều. Sự vận động của vốn cố định có thể
khái quát như sau:
Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, do TSCĐ được sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp
Vốn cố định được luân chuyển dần từng phần vào trong các chu kỳ sản
xuất, bởi TSCĐ khi tham gia vào quá trình sản xuất thì giá trị của nó
chuyển dịch dần dần vào chi phí sản xuất sản phẩm , hàng hoá, dịch vụ của
doanh nghiệp .
Sau nhiều chu kỳ sản xuất, kinh doanh , vốn cố định hoàn thành một
vòng luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất thì vốn cố định giảm dần xuống
cho đến khi hết hạn sử dụng của TSCĐ được hình thành từ vốn cố định đó.
Như vậy, đặc điểm luân chuyển của vốn cố định đòi hỏi việc quản lý vốn cố
định phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó, đó là
TSCĐ của doanh nghiệp .
+ Vốn lưu động của doanh nghiệp: là một bộ phận của vốn sản xuất
kinh doanh ứng trước về tài sản lưu động (TSLĐ) sản xuất và TSLĐ lưu
thông , nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được tiến hành một cách thường xuyên liên tục. Hay nói cách khác : Vốn
phát triển vốn.
3. Vai trò của vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây, các doanh
nghiệp Quốc doanh đều được ngân sách nhà nước cấp phát vốn, tài trợ vốn,
nếu doanh nghiệp thiếu vốn sẽ được Ngân hàng Nhà nước cho vay với lãi
suất ưu đãi. Với cơ chế bao cấp nặng nề như vậy, nên việc khai thác , thu hút
, sử dụng vốn có hiệu quả phải là vấn đề có tính sống còn đối với doanh
nhgiệp. Chế độ cấp phát, giao nộp đã thủ tiêu tính chủ động , sáng tạo của
doanh nghiệp, mặt khác lại tạo ra sự cân đối giả tạo về quan hệ Cung _ Cầu
vốn trong nền kinh tế. Đây là lý do chủ yếu giải thích tại sao trong thời kỳ
bao cấp lại không cần thiết có một thị trưoừng vốn sôi động.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh có tầm quan trọng
đặc biệt đối với các doanh nghiệp. Chính nền kinh tế thị trường đích thực là
môi trường để cho vốn được bộc lộ đầy đủ bản chất vật chất và vai trò của
nó.
Vốn kinh doanh là điều kiện tiền đề để cho các doanh nghiệp có thể
thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nếu không có vốn sẽ
không có bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào. Trong phạm vi một
doanh nghiệp có thể thấy rằng điểm xuất phát để tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là phải có lượng vốn đầu tư ban đầu
nhất định. Với số vốn đầu tư ban đầu này, doanh nghiệp tiến hành các hoạt
động kinh tế hình thành nên tài sản cần thiết như mua sắm máy móc , thiết
bị, xây dựng nhà xưởng, mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền, thuê
mướn công nhân, hình thành số vốn lưu động thường xuyên cần tối thiểu để
phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Lượng vốn ban đầu đầu tư để hình
thành nên vốn kinh doanh mang tính cần thiết, là tiền đề bắt buộc. Về mặt
pháp lý các doanh nghiệp dù thuộc thành phần kinh tế nào, để được thành
lập và đi vào hoạt động thì nhất thiết phải có lượng vốn cần thiết tối thiểu
theo quy định của Nhà nước hay còn gọi là vốn pháp định. Lượng vốn này
nhiều hay ít phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp và tuỳ thuộc vào lĩnh vực
trò quan trọng , là điều kiện tiên quyết trong quá trình đầu tư, phát triển
doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh và đứng vững trong nền kinh tế thị
trường.
Vốn kinh doanh còn là công cụ phản ánh là đánh giá quá trình vận
động của tài sản cũng tức là phản ánh và kiểm tra quá trình SXKD của
doanh nghiệp. Thông qua sự vận động của vốn kinh doanh, các chỉ tiêu tà
chính như hiệu quả sử dụng vốn , hệ số thanh toán, hệ số sinh lời, cơ cấu
nguồn vốn và cơ cấu phân phối sử dụng vốn, người quản lý có thể kịp thời
nhận biết thực trạng vốn trong các khâu của quá trình sản xuất , kiểm tra
hiệu quả của quá trình SXKD. Với khả năng đó, người quản lý có thể kịp
thời phát hiện các khuyết tật và nguyên nhân của nó để điều chỉnh quá trình
kinh doanh đẫ định.
Việc mở rộng SXKD trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ phát triển cao , nhu cầu vốn đầu tư cho hoạt động SXKD ngày càng
tăng, nên việc tổ chức huy động vốn cũng ngày trở nên quan trọng đối với
những doanh nghiệp. Huy động vốn đầy đủ kịp thời sẽ giúp các doanh
nghiệp có thể chớp thời cơ kinh doanh , tạo được lợi thế trong cạnh tranh.
Thêm vào đó việc lựa chọn các hình thức và phương pháp huy động vốn
thích hợp sẽ giảm bớt chi phí sử dụng vốn, điều đó có tác động rất lớn đến
việc tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Từ những lý do trên, cho thấy viểc tổ
chức đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho nhu cầu SXKD có tác động vô cùng
mạnh mẽ đến hiệu quả kinh doanh, nó quyết định đến sự sống còn và
tương lai phát triển của doanh nghiệp
II. NGUỒN TÀI TRỢ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Có khá nhiều cách để phân biệt các nguồn tài trợ từ bên ngoài doanh
nghiệp . Tuy nhiên trong thực tế, người ta thường dựa vào thời gian sử dụng
hoặc quyền sở hữu để phân chia chúng. Nếu dựa vào thời gian sử dụng thì
các nguồn tài trợ được chia thành ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, nếu dựa
vào quyền sở hữu thì chúng được chia thành nợ phải trả và nguồn vốn của
chủ sở hữu
+ Ngoài ra, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch do đánh giá lại tài
sản, quỹ phát triển SXKD , quỹ dự trữ, chênh lệch tỉ giá, quỹ khen thưởng
phúc lợi, vốn đầu tư XDCB , kinh phí sự nghiệp.
2. Nguồn vốn vay
Trong điều kiện nền KTTT, hầu như không một doanh nghiệp nào là
chỉ hoạt động SXKD bằng nguồn vốn chủ sở hữu, mà đều phải hoạt động
bằng nhiều nguồn vốn, trong đó nguồn vốn vay chiếm tỉ lệ đáng kể. Vốn
vay có ý nghĩa quan trọng không những chỉ ở khả năng tài trợ các nhu cầu
bổ sung cho việc mở rộng và phát triển hoạt động SXKD của doanh nghiệp
mà còn tạo điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp hoặc mở rộng quy mô
kinh doanh Nguồn vốn vay được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu sau:
+ Tín dụng ngân hàng : Là các khoản mà doanh nghiệp vay của ngân
hàng thương mại hoặc của các tổ chức tín dụng khác . Tín dụng ngân hàng
có tín dụng thuê mua, tín dụng bằng chữ ký.
+ Phát hàng trái phiếu : Trái phiếu - về thực chất là một tờ phiếu mà
công ty phát hành để vay vốn , đó là vốn vay dài hạn hay còn gọi là văn tự
nợ giữa con nợ là công ty với chủ nợ là những ngừơi cho vay vốn.
+ Tín dụng thuê mua : Là hình thức tín dụng dài hạn được thực hiện
thông qua việc đi thuê ( hoặc cho thuê) máy móc thiết bị , các bất động sản
và động sản khác. Theo cách này thì bên cho thuê cam kết chuyển tài sản,
MMTB, động sản… đến cho bên đi thuê theo đúng yêu cầu đã ký kết trong
hợp đồng nhưng vẫn nắm giữ quyền sở hữu Đối với tài sản cho thuê, bên đi
thuê được phép toàn quyền sử dụng tài sản trong suốt thời gian thuê, nhưng
phải trả tiền thuê và có trách nhiệm bảo vệ tài sản đó. Khi thời hạn thuê đã
hết thì bên đi thuê có thể mua lại với giá thoả thuận, tức là nhận được quyền
sở hữu số tài sản đi thuê đó theo hợp đồng thuê mua giữa hai bên .
+ Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh
nghiệp được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá, hoặc ứng
trước tiền hàng.
3. Nguồn vốn liên doanh liên kết:
kinh doanh là chỉ tiêu biểu hiện tổng hợp nhất hiệu quả SXKD của doanh
nghiệp . Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh sẽ thấy được trình độ
quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp , từ đó phát huy khả năng tiềm
tàng để nâng cao hơn nữa kết quả SXKD và tiết kiệm vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp được xác định theo
công thức sau:
Hv = Kq / Vkd
Trong đó : Hv : là Hệ số hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Vkd: là vốn SXKD bình quân
Kq : là kết quả thu được
Từ công thức trên ta thấy muốn năng cao hiệu quả sử dụng vốn cần áp
dụng các biện pháp nhằm gia tăng kết quả ( lợi nhuận, doanh thu ), phải tiết
kiệm vốn SXKD . Hệ số sử dụng vốn càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng
vốn càng cao.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn xét trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế thì
nó đẩy mạnh quá trình tái sản xuất, tăng tích luỹ, thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng . Đối với các doanh nghiệp thương mại , nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn sẽ tăng cường uy thế của doanh nghiệp trên thương trường, đồng thời
góp phần to lớn trong việc tạo ra sản phẩm hàng hoá và dịch vụ cho đất
nước.
3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Mọi hoạt động SXKD đều có chung mục tiêu là hiệu quả kinh tế trên
cơ sở khai thác và sử dụng một cách triệt để mọi nguồn lực sẵn có . Chính vì
vậy nguồn lực kinh tế đặc biệt là nguồn vốn kinh doanh có tác động mạnh
mẽ tới hiệu quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp . Khai thác và sử dụng
các nguồn lực về vốn sẽ hình thành lên hiệu quả thực sự cho hoạt động
SXKD . Vì vậy đánh giá đúng về hiệu quả sử dụng vốn sẽ thấy được chất
lượng của việc kinh doanh nói chung và việc quản lý vốn kinh doanh nói
riêng. Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp sẽ được đánh giá dựa trên
các chỉ tiêu cơ bản sau:
V
Trong đó :
Hm: là hệ số phục vụ của vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
M : là Mức doanh thu trong kỳ
V : là vốn SXKD được sử dụng bình quân trong kỳ
Hệ số này được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
thông qua khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hay nói cách
khác chỉ tiêu này phản ánh sức kinh doanh của vốn, tức cứ một đồng vốn bỏ
ra thì thu được lượng tiền doanh thu là bao nhiêu
Vốn sản xuất kinh doanh bình quân trong kỳ ( V ) được tính bằng
công thức sau:
( V
1
/2+V
2
+V
3
+…V
n
/2 )
V =
n-1
Trong đó:
V
1
,V
2
,V
3
….V
* Các nhân tố khách quan
+ Tốc độ phát triển của khoa học công nghệ :
Trình độ phát triển của KHCN trên thế giới ngày một tăng như vũ bão
, đòi hỏi doanh nghiệp phải cải tiến quy trình SXKD hàng năm để khỏi bị
lạc hậu và cho ra thị trường những sản phẩm hàng hoá, dịch vụ phù hợp với
nhu cầu của thị trường , đồng thời điều quan trọng hơn cả là bảo toàn và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh .
+ Nhân tố về tính thời vụ của SXKD :
Ta nhận thấy rằng sản xuất kinh doanh có tính thời vụ vì SXKD đáp
ứng nhu cầu thị trường một cách tối đa. Mà nhu cầu thị trường mang tính
thời vụ. Cho nên hoạt động kinh doanh thương mại cúng mang tính thời vụ ,
dẫn đến việc tạo vốn, tổ chức chu chuyển vốn cũng mang ảnh hưởng của
tính thời vụ .
+ Nhân tố giá cả:
Biến động của giá cả ảnh hưởng đến giá trị của đồng vốn và mức lưu
chuyển hàng hoá , cho nên nó không phản ánh thực chất đến trình độ sử
dụng vốn kinh doanh .
+ Chính sách tài chính tiền tệ của Nhà nước :
Các chính sách tiền tệ của Nhà nước liên quan trực tiếp và gián tiếp
đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Chính sách tạo vốn của Nhà nước vô cùng quan trọng , vì có vốn thì
mới có thể hoạt động SXKD được .Nhưng Nhà nước chỉ cấp vốn cho những
doanh nghiệp Nhà nước , vậy để cho mọi thành phần kinh tế cùng phát triển
thì Nhà nước phải tạo ra một môi trường tài chính tiền tệ thật sôi động như
thị trường chứng khoán để mọi doanh nghiệp cùng tham gia
Chính sách về thuế khoá : Đây là nguồn thu chủ yếu của Chính phủ,
một mặt nó tạo ngân sách cho Chính phủ, mặt khác nó lại ảnh hưởng đến
kết quả và hiệu quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp
Chính sách về lãi tín dụng : Nếu lãi tín dụng quá cao thì số tiền trả lãi
tiền vay cũng rất nhiều , làm tăng chi phí sản xuất , tức tăng giá bán, do đó,
cấp về vốn cho nên doanh nghiệp phải tự chủ , năng động , sáng tạo , phát
huy hết khả năng của mình trong việc huy động và sử dụng vốn kinh doanh
sao cho có hiệu quả. Khi đã huy động được vốn rồi thì vấn đề đặt ra còn
quan trọng hơn đó là làm thế nào để sử dụng đồng vốn có hiệu quả. Để làm
được điều này, các doanh nghiệp cần thực hiện một số biện pháp sau:
* Doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược kinh doanh , chiến lược về sản
phẩm hợp lý. Đồng thời phải xây dựng kế hoạch huy động các nguồn vốn
phù hợp với khả năng của mình
Để có được mức doanh thu và lợi nhuận cao từ đồng vốn bỏ ra kinh
doanh thì các doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình một chiến lược kinh
doanh phù hợp tình hình sản xuất kinh doanh trong môi trường mà mình
đang tồn tại . Nói cách khác, hiệu quả sử dụng vốn được quyết định bởi việc
doanh nghiệp có khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình hay
không .
Trong nền kinh tế thị trường , việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là
một vấn đề vô cùng qua trọng . Để tồn tại và phát triển được, doanh nghiệp
phải giải đáp được các câu hỏi sau: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, số
lượng bao nhiêu, già cả thế nào, cho ai. Trả lời được các câu hỏi trên tức là
doanh nghiệp đã xây dựng cho mình được một phương án kinh doanh khá
tốt. Ngoài ra còn rất nhiều vấn đề khác mà doanh nghiệp phải đối phó đó là :
môi trường pháp lý, chính sách thuế khoá của Nhà nước , đối thủ cạnh
tranh…
Hiểu biết và thâu tóm được những vấn đề trên, doanh nghiệp sẽ xây dựng
được một chiến lược kinh doanh hợp lý cho mình . Đây là cơ sở quan trọng
để các nhà quản lý điều hành và sử dụng các nguồn vốn sao cho phù hợp
với từng yếu tố, từng bộ phận , từng thời điểm trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp mình.
* Doanh nghiệp phải tổ chức và quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp mình .
Tổ chức tốt quá trình sản xuất và kinh doanh tức là phải làm sao hạn
gồm có: chi phí cho nguyên, nhiên, vật liệu; chí phí nhân công, chi phí quản
lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, chi phí giao dịch, chi phí vận chuyển, chi
phí bảo quản hàng hoá…Nói chung là có nhiều loại chi phí khác nhau nhưng
tuỳ theo từng loại hình kinh doanh của doanh nghiệp, tuỳ theo chức năng
kinh doanh mà doanh nghiệp có những biện pháp quản lý chi phí cho phù
hợp.
* Doanh nghiệp cần phải áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, kỹ thuật vào
sản xuất kinh doanh
Việc áp dụng tiến bộ khoa học , kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh sẽ giúp
cho doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm được thời gian,
nâng cao chất lượng sản phẩm , cải tiến được mẫu mã chất lượng sản phẩm ,
đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Như vậy uy tín của
doanh nghiệp sẽ được nâng cao, thị phần của doanh nghiệp sẽ ngày càng
được mở rộng. Và ngoài việc tăng mức lợi nhuận, tăng hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh, thì doanh nghiệp còn có thêm khả năng đánh bại các đối thủ
cạnh tranh và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường.
* Doanh nghiệp cần phải tổ chức hoạt động tốt công tác kế toán và phân
tích hoạt động sản xuất kinh doanh
Thông qua công tác kế toán, nhà quản lý doanh nghiệp sẽ nắm bắt đúng,
đủ tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như khả năng, sức
mạnh về tài chính, về nguồn lực của doanh nghiệp mình . Từ đó sẽ có các
biện pháp phân tích, xử lý và đưa ra quyết định cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp được hoạt động liên tục và có hiệu quả cao.
Cuối cùng là việc sử dụng đòn bẩy kinh tế nhằm nâng cao công suất sử
dụng máy móc thiết bị hiện có như : chế độ thưởng phạt, bảo quản sử dụng
máy móc, thiết bị, sử dụng đòn bẩy tài chính không những kích thích việc
nghiên cứu, phát minh sáng chế, áp dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất kinh
doanh, mà còn là động lực thúc đẩy con người trong hoạt động sản xuất kinh
doanh trong doanh nghiệp có hiệu quả cao.
Tháng 3-1993 Công ty TNHH Việt Hồng mới chính thức được UBND
TP Hà nội ký quyết định thành lập. Cùng thời điểm này, Công ty TNHH
Việt Hồng đã tiến hành ký kết hợp đồng độc quyền phân phối sản phẩm
phim ảnh với hãng KODAK Thái Lan taị thị trường miền Bắc Việt nam
Ngày 20/4/1994 sau khi chính phủ Mỹ bãi bỏ cấm vận Việt nam , Công
ty TNHH Việt Hồng chính thức được Tập đoàn ESTMAN KODAK USA uỷ
quyền làm nhà phân phối sản phẩm phim ảnh dân dụng và chuyên nghiệp tại
thị trường Miền Bắc Việt nam
Kim ngạch buôn bán không ngừng phát triển , mạng lưới đậi lý có ở 27
tỉnh thành tại miền Bắc Việt nam.
Năm 1995 nhập khẩu đạt 4.000.000 USD với 120 đại lý, doanh thu đạt
trên 53 tỷ đồng Việt nam
Năm 1995 nhập khẩu đạt 4.200.000 USD với 130 đại lý, doanh thu đạt
trên 58 tỷ đồng Việt nam
Năm 1997 nhập khẩu đạt 4.500.000 USD với 200 đại lý tiêu thụ ( trong
đó 120 cử hàng có hệ thống in, tráng phim bằng máy) doanh thu đạt xấp xỉ
gần 67 tỷ đồng Việt nam
Năm 1998 nhập khẩu đạt 4.700.000 USD với 240 đại lý ( trong đó có
140 đại lý có hệ thống in , tráng phim bằng máy)
Năm 1999 nhập khẩu đạt 4.800.000 USD doanh thu đạt hơn 69 tỷ đồng
Việt nam
Năm 2000 nhâp khẩu đạt 4.500.000 USD, doanh thu hơn 67 tỷ đồng