MỘT NỀN GIÁO DỤC CÔNG NGHIỆP HÓA
TRONG BỐI CẢNH VĂN MINH TOÀN CẦU
Phạm Toàn
Cuộc thảo luận về Cải cách Giáo dục đã kéo dài bao nhiêu năm
rồi! Liệu có được một công cụ tư duy hành dụng - một hướng đi và cách
làm - nhằm dồn các cuộc cãi cọ vào hành động cải cách giáo dục hữu
hiệu? Sách này cố gắng đưa ra một lý thuyết đang cần cho sự nghiệp
giáo dục của dân tộc mình, một dân tộc nhất thiết phải tiến lên hiện đại
hóa - hiện đại hóa hay là chết - giống như một thời nào đó, độc lập hay là
chết. Sách này cung cấp một vũ khí tư duy cải cách giáo dục vì nó chỉ ra
một chốn hợp lưu tất yếu của các dòng tâm lý học giáo dục - Công nghệ
Giáo dục.
Cuộc thảo luận về Cải cách Giáo dục đã kéo dài bao nhiêu năm rồi! Liệu
có được một công cụ tư duy hành dụng - một hướng đi và cách làm - nhằm dồn
các cuộc cãi cọ vào hành động cải cách giáo dục hữu hiệu?
Sách này cố gắng đưa ra một lý thuyết đang cần cho sự nghiệp giáo dục
của dân tộc mình, một dân tộc nhất thiết phải tiến lên hiện đại hóa - hiện đại hóa
hay là chết - giống như một thời nào đó, độc lập hay là chết. Sách này cung cấp
một vũ khí tư duy cải cách giáo dục vì nó chỉ ra một chốn hợp lưu tất yếu của các
dòng tâm lý học giáo dục - Công nghệ Giáo dục.
Cách làm cơ bản của sách này là xác định cho rõ các khái niệm giúp
người đương thời bám víu khi họ thực bụng định đổi mới công cuộc giáo dục theo
mục tiêu hiện đại hóa đất nước. Các khái niệm cũng được đưa ra sao cho người
dùng sách có thể bắt tay vào hành động cụ thể chứ không chỉ dừng lại ở những
điều tư biện được thêm thắt bằng những lời khuyên vô thưởng vô phạt.
- 1 -
Trước hết, do giáo dục là một mảnh của văn hóa nên chúng ta cần một định
nghĩa cho khái niệm văn hoá, một định nghĩa chặt chẽ, đầy đủ và như đã tự đặt
thành quy tắc ở bên trên, định nghĩa đó không dừng lại ở tư biện, mà phải là định
nghĩa hành dụng tức là một định nghĩa đủ sức dẫn con người thực hiện những
hành động (ở đây là hành động văn hoá).
ban đầu tiến hành dài dòng chắp vá được chăng hay chớ theo lối truyền kinh
nghiệm sẽ phải tiến hành càng ngày càng nhanh gọn và tiết kiệm hơn thông qua
các biểu trưng. Mạnh mẽ và dễ thực hiện ra là sử dụng biểu trưng ngôn ngữ, lời
nói chẳng mất tiền mua song lại chuyên chở toàn bộ kho tàng làm ăn sinh sống
của con người. Chữ viết ra đời lại có khả năng ghi lại kinh nghiệm và tư tưởng
bằng lời nói thành những pho sách có sức chứa nặng hơn mà lại giữ gìn được lâu
hơn cái lời nói gió bay. Rồi sách được đem dùng trong nhà trường. Lâu dần người
ta hiểu nhầm rằng chỉ có sách và trường học là văn hóa. Người ta hiểu nhầm vì đã
lấy cái biểu trưng thay thế cho cái có thật ở đời. Thế là, lẽ ra học những điều cô
đúc ở sách xong rồi thì đem vận dụng vào đời, nhưng sự hiểu nhầm biến thành thể
chế xã hội đã khiến con người chỉ dùng thi cử là cũng đủ tiến thân, lâu dần xã hội
sẽ coi hễ ai bụng chứa nhiều sách là người có văn hóa cao.
- 2 -
Vào thời chúng ta đang sống đây và đối với dân tộc ta đây, xu thế văn hóa
đang là những hành động biến cải cái thế giới hoang dã lối tiểu nông thành cái thế
giới công nghiệp hóa được rũ sạch mọi bụi bặm tiểu nông.
Cuộc biến cải mang tính "văn hóa" lần này khác hẳn những lần biến cải thế
giới từng diễn ra trong quá khứ. Trước thời công nghiệp hóa, những biến cải cái tự
nhiên hoang dã diễn ra theo lối chia cắt - giữa các vùng không có thông tin cho
nhau, không có giao tiếp với nhau, do đó không có tác động trực tiếp tới nhau.
Đến thời công nghiệp hóa, một biến cải nhỏ bằng bao diêm cho chí to bằng lò
phản ứng hạt nhân nằm chềnh ềnh ở một nơi xa xôi, cũng đều âm thầm lan tỏa
hoặc tác động nổ bùng khắp nơi.
Mô tả cuộc đổi thay văn hóa toàn cầu đó trong cung cách lan tỏa từ phương
Tây công nghiệp sang một đất nước tiểu nông như nước Việt Nam ta hồi đầu thế
kỷ trước, không lời lẽ nào sinh động hơn và cảm động bằng những dòng tâm bút
này của Hoài Thanh.
“Một xã hội suốt mấy ngàn năm kéo dài một cuộc sống gần như không
thay đổi, về hình thức cũng như về tinh thần. Triều đại tuy bao lần hưng vong,
giang sơn tuy bao lần đổi chủ, song mọi cuộc biến cố về chính trị ít khi ba động
sư, đậu bác sĩ, đậu thạc sĩ, có những người Việt Nam nghiên cứu khoa học triết
học và có những người Việt Nam nghĩ chuyện xây dựng một nền văn học riêng cho
nước Việt Nam.
“Bấy nhiêu sự thay đổi trong khoảng sáu mươi năm! Năm sáu mươi năm
mà như năm sáu mươi thế kỷ. Nhưng cuộc Âu hóa không phải chỉ có thế. Nó đã đi
qua hai giai đoạn: hình thức và tư tưởng; nó còn phải đi qua một giai đoạn nữa.
Nó đã thay đổi những tập quán sinh hoạt hàng ngày, nó đã thay đổi cách ta vận
động tư tưởng, tất nó sẽ thay đổi cả cái nhịp rung cảm của ta nữa. Những hình
thức mới của cuộc đời. Những tư tưởng mới và nhất là ảnh hưởng văn học Pháp
ngày một thấm thía, ấy là những lợi khí âu hóa trong giai đoạn thứ ba này.
“Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có
thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu ghét, giận hờn nhất nhất
như ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con người muôn nơi và
muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ hai mươi, những mối tình
của ta không khỏi có mầu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại “ Các cụ ta
ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt Các cụ bâng khuâng vì
tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh
xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi: ta thì ta cho là mát mẻ như
đang trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân,
nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoáng qua,
cái tình gần gụi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”.
Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà tha thiết của ông Lưu Trọng Lư ở nhà Học hội
Quy Nhơn hồi tháng 6 – 1934 đã vạch rõ tâm lý cả lớp thanh niên chúng ta”.
Hoài Thanh, Hoài Chân
Thi Nhân Việt Nam , tái bản.
NXB Văn học, H.,1988, tr 9 - 11
Ta sẽ tổng quát hóa để gọi trạng thái “đổi thay trong ngơ ngác” như Hoài
Thanh vừa mô tả là sự va chạm của một nền văn hóa trong mối quan hệ với nền
văn hóa khác dưới hình thù một nền văn minh toàn cầu. Cái nền văn hóa thuộc
bên bị va chạm đang ngơ ngác chẳng hiểu mô tê gì nói trên đây là nền văn hóa tiểu
Văn minh cũng có thể là sự tồn tại và vận hành tại một không gian nhất
định của một trạng thái tiến hóa cả về kỹ thuật, tinh thần, đạo đức, chính trị, xã
hội Xét theo nét nghĩa này, ta có thể có nền văn minh có tính khu vực của người
Sumer ở vùng Lưỡng Hà hoặc của người Maja ở vùng Nam châu Mỹ và còn có cả
nền văn minh toàn cầu thời đại công nghiệp của con người đương thời thể hiện ở
sự giống nhau chằn chặn giữa các khu công nghiệp, các đại đô thị, các phương tiện
hưởng thụ và giao lưu Nền văn minh toàn cầu này có mặt ở cả các trung tâm lẫn
ở những hang cùng ngõ hẻm.
Chỗ giống nhau giữa văn hóa và văn minh là ở chỗ chúng đều là những
tổng kết của các thành tựu con người làm ra để thoát khỏi trạng thái tự nhiên
hoang dã. Theo ý nghĩa này, những thành tựu "văn hóa" nào đó dẫn tới việc tìm ra
sắt và dẫn tới các công cụ dùng sắt chẳng hạn thì từ đó có thể có một nền văn minh
thời đại đồ sắt. Lấy thêm một thí dụ khác nữa, những thành tựu “văn hóa” nào đó
dẫn tới việc tìm ra cách phá vỡ hạt nhân vật chất và dẫn tới những công cụ dùng
năng lượng hạt nhân chẳng hạn; từ đó có thể có một nền văn minh thời đại hạt
nhân.
Có thể dễ dàng nhận thấy chỗ khác nhau giữa văn hóa và văn minh ở trong
những phương thức giao lưu và lan tỏa của chúng.
Giữa hai nền văn hóa thì có sự lan tỏa qua giao lưu, trao đổi và tiếp nhận
lẫn nhau; công trình đó diễn ra không chóng vánh, đòi hỏi sự làm - quen và sau đó
may mắn lắm sẽ có sự đổi trao, tiếp nhận; chứ công trình lan tỏa văn hóa đó không
chấp nhận sự áp đặt. Không nói gì tới những lan tỏa qua nhiều quốc gia khác nhau,
qua những dân tộc khác nhau, hoặc qua những vùng địa lý khác nhau, ngay giữa
người Việt Nam với nhau thôi. cũng đã không thể nào áp đặt cách trồng lúa nước
kiểu đồng bằng sông Hồng cho đồng bằng sông Cửu Long hoặc ngược lại, vì cả
hai nền văn hóa lúa nước đó đều có lịch sử rất lâu dài, cả hai đều bình đẳng nhau
về giá trị, không thể một sớm một chiều áp đặt lên nhau và bắt nhau thay đổi.
Thế nhưng các sản phẩm của một nền văn minh cao hơn - qua sự xâm nhập
của hàng hóa nhiều hơn đẹp hơn bền hơn và rẻ hơn - đúng như là những tên lính
tiên phong của văn minh - lại có thể ngay lập tức và dễ đàng ùa vào “xâm chiếm”
công cuộc Giáo dục.
Lịch sử công cuộc giáo dục của con người vừa dài vừa ngắn. Dieter Enzen,
Chủ tịch Đại học Tự do Berlin (Freie Universitat Berlin) vào năm 1994 có lần nói
bóng bẩy như sau: "Giáo dục bắt đầu từ hàng triệu năm trước đây, hoặc là mới bắt
đầu từ cuối những năm 1770 thôi”
(1)
. Nói vậy là phân chia nền giáo dục của loài
người thành hai kiểu, một kiểu “không bài bản” và một kiểu “có bài bản” - kiểu
sau này chỉ mới bắt đầu với Comenius. Nói như vậy cũng lại có hàm nghĩa khác
nữa: nền giáo dục dù đã thành thiết chế, dù đã bước vào thời kỳ khoa học, bài bản
thì nó vẫn gắn với truyền thống đã có từ nhiều triệu năm trước đó.
Cái gọi bằng truyền thống ở đây là cung cách người lớn dạy dỗ thiếu niên
bằng lời nói truyền khẩu (có cải tiến đến đâu thì cũng chỉ có công cụ giảng dạy là
lời nói) và dạy dỗ chúng qua các kỹ năng thực hành bắt chước từ người lớn (có cải
tiến đến đâu thì cũng chỉ có thể làm cho học trò lặp lại được người lớn là cùng).
Ngay cả khi nhờ xuất hiện chữ viết và truyền thống giáo dục thoát khỏi cảnh dùng
lời nói truyền khẩu thì gánh nặng quá khứ vẫn đè lên nhà trường bằng công cụ duy
nhất là thuyết trình là khi Thầy thuyết trình thì Trò phải nghe và nhại lại.
Vậy là ta thấy rằng trong số nhiều góc độ để nhìn vào và tổng kết. Lịch sử
công cuộc Giáo dục viết với chữ G hoa, trong sách này, Lịch sử Giáo dục cần
được nhìn kỹ hơn dưới góc độ tâm lý học giáo dục thôi.
Và như được diễn tả trong bức tranh Đông Hồ có tên Thầy đồ cóc, ta thấy
được những gì về tâm lý học giáo dục? Ta nhận ra ngay một thông điệp khẩn trên
một “màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp” (Hoàng Cầm), thông điệp ấy như
sau: hãy thành thực đi, đòi hỏi hiện đại hóa nhưng liệu những nhà trường đào tạo
ra những con người tác giả của sự kiện hiện đại hóa như thế này có đi đôi được với
khẩu hiệu đó không? Toàn bộ sự lạc hậu của một nền giáo dục đã được tóm tắt
trong tranh Thầy đồ Cóc liệu có đang còn tung hoành ngang dọc trong tư duy và
thực hành vào thời đổi mới hơn là chết - hiện đại hóa hay là chết này không?
Dĩ nhiên, phát triển Giáo dục phải nằm trong bối cảnh tạo ra công cuộc hiện
các mệnh phụ phu nhân thì mặc áo trong, áo ngoài bù xù, sau đó bên ngoài cũng
còn đeo toòng teng một thứ "áo" quý báu mới được tặng, gọi bằng cái "xú-chiêng".
Điều kiện thứ hai vô cùng quan trọng ấy là cuộc cách mạng trong công
nghiệp đã đem lại cho loài người cái gì quý hơn cả những sản vật tiêu dùng. Người
làm giáo dục cần thấy đó là nền công nghiệp đã tạo ra một tư duy mới, tư duy công
nghiệp, cái tư duy cho phép con người đã đi là ngày một đi xa hơn, đã tiến là ngày
một tiến nhanh tiến mạnh hơn. Không chỉ tư duy trong công nghiệp, mà thời đại
công nghiệp hóa đề ra yêu cầu sít sao phổ biến về tư duy mới trên mọi mặt hoạt
động. Ngay trò chơi cho trẻ em cũng phải mang dấu ấn huấn luyện tư duy mới?
Cái tư duy công nghiệp khiến con người thành con người hiện đại, với những yếu
tố tư duy thay đổi hoàn toàn. Về sản xuất, tư duy công nghiệp thay thế lối sản xuất
cầu may bằng lối sản xuất có thiết kế sẵn và tạo ra một thứ kỷ luật sản xuất không
dựa trên roi vọt, mà là kỷ luật tự giác dựa trên sự hợp tác với nhau về kỹ thuật mà
nếu thiếu đi một khâu trong chuỗi công nghệ thì sẽ không biến được các bán thành
phẩm thành ra sản phẩm cuối cùng.
Như vậy là một ông Meiji anh minh có thể chết đi, cuộc sống cũng chẳng
cần lắm đến ông sau cũng anh minh ngang thế hoặc hơn thế, nhưng chính nền sản
xuất công nghiệp sẽ thành kẻ lãnh tụ vô hình dắt dẫn coi người liên tục đi theo con
đường hiện đại hóa.
Đến lượt mình, công cuộc giáo dục cũng phải hướng theo mục tiết hiện đại
hóa bằng cách đi theo con đường công nghiệp hóa.
Giáo dục mà cũng "công nghiệp hóa"? Có tác giả nào nói nhịu không đây?
Không! Không nói nhịu. Giáo dục phải hiện đại hóa như đất nước đang
hiện đại hóa thì những sản phẩm của giáo dục mới sống hài hòa được trong thời
đại nền văn minh công nghiệp toàn cầu này.
Toàn bộ cái văn hóa công nghiệp hóa của loài người nhiều thế kỷ qua từ
nhiều dòng chảy - những cung cách công nghiệp hóa của các khu vực không hoàn
toàn giống nhau chằn chặn - đã hợp lưu thành nền văn minh công nghiệp toàn cầu
ngày nay.
Toàn bộ cái văn hóa nằm trong hoạt động làm cho con người hoàn toàn từ