Lãnh đạo trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu Kinh nghiệm trên thế giới và bài học đối với Việt Nam - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
Lãnh đạo trong bối cảnh khủng hoảng
toàn cầu: Kinh nghiệm trên thế giới
và bài học đối với Việt Nam Họ và tên sinh viên : Hà Hải Vân
Lớp : Anh 5
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : ThS Đặng Thị Lan

Hà Nội - 11/2009
Khoá luận tốt nghiệp
Hà Hải Vân - Anh 5 - Quản trị Kinh doanh B- K44
MỤC LỤC
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƢƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO TRONG BỐI CẢNH
KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU 4

1.2. Khả năng lãnh đạo thích ứng với xu thế toàn cầu trong khủng hoảng 30
2. Tác động của khủng hoảng toàn cầu đối với hoạt động lãnh đạo của các
công ty trên thế giới 33
2.1. Hiệu suất trên phương diện sử dụng vốn 33
2.2. Hiệu suất trên phương diện các quyết định về nhân sự 36
3. Tìm hiểu các kinh nghiệm lãnh đạo thành công trong khủng hoảng của
các tập đoàn trên thế giới 38
3.1. Kinh nghiệm lãnh đạo trong khủng hoảng của tập đoàn Wal-Mart 38
3.2. Kinh nghiệm lãnh đạo trong khủng hoảng của tập đoàn IBM 43
II. Thực trạng lãnh đạo của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh
khủng hoảng toàn cầu 49
1. Đặc điểm lãnh đạo trong các doanh nghiệp Việt Nam 49
1.1. Đặc điểm doanh nghiệp Việt Nam 49
1.2. Thực trạng lãnh đạo trong các doanh nghiệp Việt Nam 53
2. Tác động của khủng hoảng toàn cầu đối với hoạt động lãnh đạo trong
các doanh nghiệp Việt Nam 58
2.1. Hiệu suất trên phương diện sử dụng vốn 59
2.2. Hiệu suất trên phương diện các quyết định về nhân sự 62
2.3. Quản lý theo mục tiêu 63
CHƢƠNG III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ LÃNH ĐẠO TRONG
BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG TOÀN CẦU 64
Khoá luận tốt nghiệp
Hà Hải Vân - Anh 5 - Quản trị Kinh doanh B- K44
I. Bài học cho chính phủ Việt Nam 64
1. Hoàn thiện các chính sách về pháp luật, cải tổ bộ máy nhà nước 64
2. Đánh giá sớm và chính xác các tác động của cuộc khủng hoảng 65
3. Tập trung giải quyết các yếu điểm của nền kinh tế trong bối cảnh khủng
hoảng 67
4. Tăng cường biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tập
đoàn 69

DN : Doanh nghiệp
DNVN : Doanh nghiệp Việt Nam
DNNVV : Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNTN : Doanh nghiệp tư nhân
DNNN : Doanh nghiệp Nhà nước
TQM : Quản lý chất lượng toàn diện
KCS : Kiểm tra chất lượng sản phẩm
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
BHTG : Bảo hiểm tiền gửi

Khoá luận tốt nghiệp
Hà Hải Vân - Anh 5 - Quản trị Kinh doanh B- K44
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. So sánh sự khác nhau giữa quản lý và lãnh đạo 9
Bảng 1.2. So sánh sự khác nhau giữa quản lý truyền thống 10
và lãnh đạo hiện đại 10
Bảng 2.1. So sánh đặc điểm DNVN và doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường 50
Bảng 2.2. Kết quả khảo sát mức độ hài lòng với môi trường làm việc của lãnh
đạo và nhân viên trong tổ chức 57

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1. Chu kì khủng hoảng kinh tế 11
Biểu đồ 2.1. Tính thanh khoản của các công ty ở Mỹ sụt giảm kỉ lục năm 2008
34
Biểu đồ 2.2. Số lượng doanh nghiệp Mỹ phá sản tính từ tháng 1/2006 đến
tháng 11/2008 35
Biểu đồ 2.3. Lãnh đạo công ty Mỹ đối phó với khủng hoảng dựa trên các
quyết định về nhân sự 36
Biểu đồ 2.4. Tỷ lệ thất nghiệp ở Anh, Pháp, Đức và Tây Ban Nha tăng lên

không chỉ phải tìm cách vượt qua khủng hoảng kinh tế - tài chính hiện nay,
mà còn phải biết cách vượt qua khủng hoảng về năng lực kinh doanh của
chính mình. Đó cũng là hành trình bước vào một “thế giới kinh doanh” và
một “thời đại kinh doanh” hoàn toàn đổi khác.
Cuộc khủng hoảng kinh tế, không chỉ gây ra những tổn thất, mà còn
mang đến một giá trị vô hình rất lớn cho cộng đồng doanh nhân Việt Nam.
Cái “được” vô hình này lớn không kém gì so với những cái “mất” hết sức hữu
hình mà mọi người đều nhận ra. Đó chính là sự thức tỉnh ở nhiều doanh nhân
Việt Nam, rằng: một kỷ nguyên mới trong kinh doanh đã bắt đầu, kỷ nguyên
mới đòi hỏi phải có những con người với khát vọng mới, năng lực mới và văn
hóa mới. Xã hội đang chờ đợi sự “trở mình” của những doanh nhân muốn
khẳng định mình trong cuộc đua tranh toàn cầu. Xã hội đang sẵn sàng tôn
vinh những người con người dấn thân vào sự nghiệp kinh thương, để tạo dựng
những giá trị vững chắc và trường tồn cho chính mình, cho dân tộc mình và
mang nhiều giá trị cho thế giới.
Khủng hoảng - cũng là tiếng chuông báo hiệu thời đại mới đã vang lên.
Cách tốt nhất để vượt qua khó khăn là nhìn thấy cơ hội, và cách hay nhất để
thoát khỏi bế tắc là nhận ra con đường dài phía trước. Một nền kinh doanh mới
đang chờ đợi chúng ta. Việt Nam đang thực sự cần những nhà lãnh đạo dẫn dắt
Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

2
những doanh nghiệp trong hành trình chinh phục kinh tế. Với lý do như vậy,
người viết lựa chọn đề tài khóa luận là : “Lãnh đạo trong bối cảnh khủng
hoảng toàn cầu: Kinh nghiệm trên thế giới và bài học đối với Việt Nam”
2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, tìm hiểu những lý thuyết, quan điểm liên quan đến lãnh đạo
và lãnh đạo trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu để có cái nhìn vĩ mô mang

các doanh nghiệp Việt Nam thuộc hai mảng nhà nước, tư nhân và những biện
pháp mang tính đối phó với cuộc khủng hoảng tại các doanh nghiệp này nói
chung.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được lựa chọn để thực hiện khóa luận này là
phương pháp nghiên cứu tình huống. Việc nghiên cứu tại bàn sẽ được tiến
hành trên cơ sở thu thập nhiều nguồn tài liệu: sách, báo, tạp chí và mạng
Internet. Bước này sẽ giúp người viết có cái nhìn toàn diện về thực trạng lãnh
đạo trong bối cảnh khủng hoảng trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Phương pháp xử lý thông tin là tổng hợp phân tích và đánh giá.
5. Kết cấu khóa luận
Chương 1: Lý luận chung về lãnh đạo trong bối cảnh khủng hoảng
toàn cầu
Chương 2: Thực trạng về lãnh đạo trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu
Chương 3: Bài học kinh nghiệm về lãnh đạo trong khủng hoảng đối với
Việt Nam
Đây là một đề tài còn rất mới đồng thời vẫn còn những tồn tại mà thế
giới phải đối phó trong bối cảnh khủng hoảng do đó khóa luận không thể
tránh khỏi sai sót và hạn chế về mặt cập nhật thông tin. Em hy vọng sẽ nhận
được sự góp ý từ các thầy cô, các nhà lãnh đạo và bạn đọc quan tâm để đề tài
được hoàn thiện và mang giá trị thực tiễn cao hơn.
Cuối cùng, em xin cảm ơn trường ĐH Ngoại Thương , khoa Quản trị
kinh doanh đã tạ o điề u kiệ n cho em viế t khó a luậ n nà y , đặc biệt cảm ơn Thạc
sỹ Đặng Thị Lan, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành khóa
luận. Bên cạnh đó, em cũng muốn gửi lời cảm ơn đến tác giả các tài liệu em
tham khảo và hi vọng khóa luận của em sẽ góp phần là tiền đề cho các công
trình nghiên cứu sau này. Khoá luận tốt nghiệp

1
1
Stogill, R. M. (1974), Handbook of leadership: A survey of theory, and research - The Free Press, 81, New
York.
Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

5
Robert House định nghĩa rằng: “Lãnh đạo là khả năng gây ảnh hưởng,
kích thích và khuyến khích người khác đóng góp vào các hoạt động có hiệu
quả và thành công của tổ chức họ trực thuộc”.
2

Maxwell định nghĩa: “Lãnh đạo là khả năng gây ảnh hưởng đến người
khác”.
3
Trong bất cứ tình huống nào, một nhóm từ hai người trở lên luôn luôn
có một người có ảnh hưởng nổi bật, người đó là lãnh đạo. Vì vậy mỗi chúng
ta đều gây ảnh hưởng và bị ảnh hưởng từ người khác. Điều này có nghĩa là:
tất cả chúng ta lãnh đạo người khác trong một vài lĩnh vực; ngược lại ở một
số lĩnh vực khác chúng ta được người khác dẫn dắt. Không ai nằm ngoài quy
luật này: hoặc là nhà lãnh đạo hoặc là người bị lãnh đạo.
Nhà lãnh đạo có thể xuất hiện ở mọi vị trí từ những người có chức vụ
quan trọng đến những người có vị trí bình thường như chủ tịch nước, tổng
thống, vua, các bộ trưởng, chủ tịch các tập đoàn đa quốc gia, giám đốc, kế
toán trưởng, trưởng phòng, nhân viên, thuyền trưởng, cha xứ, giáo chủ một

đến tự nhiên xuất phát từ con người họ chứ không phải từ cái gì bên ngoài họ.
Kể từ thập niên cuối cùng của thế kỷ 20, các kiểu lãnh đạo - quản lý đã
đi theo hướng tập trung vào việc hoàn thành công việc, nhấn mạnh vào giá trị,
lòng tin cá nhân và sự hỗ trợ trong công tác nhằm đảm bảo các thành viên
đang đi theo đúng hướng đã quy định dưới tác động của hệ thống mở do ảnh
hưởng của các yếu tố chính trị - xã hội bên ngoài. Bên trong một tổ chức là
một hệ thống các văn hóa cá nhân và văn hóa nhóm cùng tồn tại cộng sinh và
tác động mạnh mẽ lên văn hóa tổ chức và khả năng hoàn thành công tác mà
trong đó lãnh đạo đóng vai trò là người điều khiển và hướng dẫn các hoạt
động của nhóm bằng cách sử dụng quyền lực chính trị ở cấp vi mô (và vĩ mô)
của mình.
Điều quan trọng trong khái niệm “lãnh đạo” là người được lãnh đạo
thông thường sẽ thừa nhận quyền lực hợp pháp và khả năng thực thi quyền
lực này của lãnh đạo. Lãnh đạo sẽ không thể là lãnh đạo nếu không thể gây
ảnh hưởng lên người khác và quyền lực này sẽ được thể hiện qua nhiều hình
thức như tiền thưởng, địa vị, phạt tiền, cảnh cáo, đuổi việc, để khiến người
khác phải làm điều mà lãnh đạo muốn làm.
2. Đặc điểm của lãnh đạo
Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy “lãnh đạo” nhìn chung có các
đặc điểm sau:
 Thứ nhất, lãnh đạo là một tiến trình hay một chuỗi các tiến trình
gây ảnh hưởng đến người khác trong các hoạt động có tổ chức để đạt được
Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

7
mục tiêu nhất định. Như vậy, để có lãnh đạo, nhất thiết phải có người được
(hoặc bị) lãnh đạo và nhóm phải có mục tiêu hoạt động cụ thể nào đó.
 Thứ hai, người lãnh đạo phải có năng lực dẫn đầu và hướng dẫn

Trong doanh nghiệp, hoạt động của nhà lãnh đạo được xác định từ vị
trí, nhiệm vụ và hoạt động của họ đối với doanh nghiệp. Nhà lãnh đạo có thể
xuất hiện ở mọi cấp trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, như lãnh đạo toàn
bộ doanh nghiệp có tổng giám đốc, giám đốc, lãnh đạo phòng có trưởng
phòng, lãnh đạo nhóm làm việc có trưởng nhóm. Càng ở vị trí cao, nhà lãnh
đạo càng có quyền lực chức vị và trách nhiệm công việc càng lớn. Lãnh đạo
cao nhất của doanh nghiệp là tổng giám đốc hoặc giám đốc. Họ là người đại
diện cho doanh nghiệp trước pháp lý, trước lợi ích chung của doanh nghiệp và
kết quả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được đồng thời duy trì và phát triển
doanh nghiệp trong môi trường kinh tế cạnh tranh, ảnh hưởng đến tính hiệu
quả của tài chính, cách phát sinh tiền lời cho đơn vị, nâng cao năng suất và
hiệu quả lao động, sự hài lòng của nhân viên và khách hàng. Khi lãnh đạo một
doanh nghiệp cụ thể, nhà lãnh đạo doanh nghiêp thường thực hiện những hoạt
động sau:
 Xác định tầm nhìn rõ ràng, chính xác cho doanh nghiệp và lịch
trình để đạt được mục tiêu đó.
 Huy động và thúc đẩy cấp dưới thực hiện mục tiêu, tập trung vào
yếu tố con người đồng thời kêu gọi, lôi kéo những người dưới quyền đi theo
mình hướng tới thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp.
 Liên kết giữa các bộ phận trong doanh nghiệp và giữa doanh
nghiệp với hệ thống bên ngoài.
 Thực hiện công việc của một nhà quản lý cấp cao thông qua xây
dựng, thực thi chiến lược, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực của công ty, kiểm
tra và đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
3. Sự khác nhau giữa quản lý và lãnh đạo
Lãnh đạo và quản lý là hai khái niệm khác nhau, tuy nhiên đã có nhiều
quan điểm đồng nhất giữa hai khái niệm này. Peter Ferdinand Drucker, cha đẻ
của quản trị kinh doanh hiện đại cho rằng: Quản lý là làm việc đúng cách, còn
Khoá luận tốt nghiệp


 Thúc đấy cho doanh nghiệp thay
đổi để phát triển
 Lấy con người làm gốc, động
viên, khuyến khích và liên kết với
nhân viên tạo thành một tập thể
đồng thuận và tích cực.
(Nguồn: Bài giảng của TS. Nguyễn Quốc Phồn)
Trước đây, trong quản lý người ta coi giám sát và đánh giá là trọng tâm
của quản lý truyền thống. Còn lãnh đạo chỉ xem là thứ yếu trong quản lý
truyền thống. Hiện nay và sau này, lãnh đạo trở nên có vai trò nổi trội; nó
không tách ra khỏi quản lý truyền thống, mà trở thành một chức năng quan
trọng mới trong quản lý doanh nghiệp hiện đại. Sự kết hợp giữa khái niệm
mới về lãnh đạo hiện đại với lý luận quản lý truyền thống, sẽ hình thành nên
một lý luận mới, phương pháp mới về quản lý hiện đại. (Bảng 1.2.) 4
Peter F.Drucker, Quản lý trong thời đại bão táp, Nguyễn Minh Tú dịch, NXB Chính trị Quốc Gia, 1993
Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

10
Bảng 1.2. So sánh sự khác nhau giữa quản lý truyền thống
và lãnh đạo hiện đại
Quản lý truyền thống
Lãnh đạo hiện đại
 Chú trọng vào việc giám sát, đánh giá
 Chú trọng vào việc duy trì trật tự
 Chú trọng vào chế độ và tổ chức

 Quan tấm đến sự sinh tồn và phát
triển của doanh nghiệp
 Quan tâm đến mục đích đằng sau quy
hoạch sách lược, có nghĩa là quan tâm
đến lý do vì sao phải đưa ra quyết định
này, vì sao phải vạch ra sách lược kia
Người lãnh đạo hiện đại học cách làm
người huấn luyện, người phụ trách, người
giáo viên, ngoài ra còn:
+ Tạo môi trường làm việc thuận lợi cho
nhân viên cấp dưới.
+ Cung cấp sự phục vụ mà nhân viên cấp
dưới cần
 Lấy con người, nhân viên, khách hàng,
hiệu quả và giá trị làm gốc.
Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

11
( Nguồn: Bài giảng của Giáo sư Nguyễn Hữu Phồn)
Quản lý hiện đại: thực ra chính là quản lý theo loại hình lãnh đạo
Phương pháp quản lý hiện đại = Cách quản lý truyền thống + Lãnh đạo hiện đại
II. Lý luận về khủng hoảng toàn cầu
1. Khái niệm và chu kì khủng hoảng
1.1. Khái niệm
Khủng hoảng được hiểu như là một giai đoạn hay một trạng thái không
ổn định đặc biệt là khi có những thay đổi nghiêm trọng ngoài mong đợi hay
những tình huống đã đến giai đoạn nguy kịch do những mâu thuẫn chưa giải
quyết được. Đôi khi khủng hoảng diễn ra theo chu kì, trong khoảng thời gian

mới hàng loạt tư bản cố định.
- Độ dài của CKKTSXTBCN khoảng 8 - 10 năm. Bắt đầu từ những
năm 70 thế kỉ 19, CKKTSXTBCN được rút ngắn lại khoảng 7 - 8 năm. Trong
điều kiện của chủ nghĩa tư bản hiện đại, CKKTSXTBCN có tính chất lạm
phát - suy thoái. Những biện pháp điều tiết của nhà nước đối với nền kinh tế
tư bản chủ nghĩa tuy có ảnh hưởng nhất định, nhưng không thủ tiêu được hiện
tượng khủng hoảng kinh tế.
6

2. Một số loại khủng hoảng về mặt kinh tế
2.1. Khủng hoảng tài chính
2.1.1. Khái niệm
Khủng hoảng tài chính (KHTC) là sự thất bại của một hay một số nhân
tố của nền kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của
mình gây ra trạng thái chấn động của hệ thống tài chính, từ hệ thống lưu
thông tiền tệ, tín dụng, đến tài chính nhà nước.
2.1.2. Nguyên nhân
- KHTC bắt nguồn từ sự thiếu hụt ngân sách do đề phòng và chuẩn bị
chiến tranh, tăng cường lực lượng quân sự, hoặc do chi tiêu vào phúc lợi xã 6

Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

13
hội quá sức chịu đựng của nền kinh tế, hoặc đầu tư nhiều mà không có hiệu
quả, tất cả đều có thể dẫn đến KHTC.


Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

14
b. Diễn biến
Cuộc khủng hoảng châu Á mang mầu sắc của một cuộc khủng hoảng
có nguồn gốc tài chính. Ði ngược với những mô hình khác, quá trình kinh tế
bùng lên ở châu Á trong những năm 80 không dựa vào các thị trường tài
chính để đánh giá các đề án đầu tư. Đầu tư của các doanh nghiệp đã được tài
trợ bằng cách vay vốn ngân hàng. Khi những quốc gia, đặc biệt ở khu vực
Đông Á, bắt đầu nới lỏng các quy định với thị trường tài chính vào đầu những
năm 1990, một làn sóng vay dâng lên rất cao, trong đó, hoạt động cho vay tín
dụng với các khu vực kinh doanh phi tài chính tư nhân đặc biệt tăng nhanh.
Nhân một cuộc khủng hoảng về bất động sản ở Thái Lan, các ngân hàng, do
thiếu hụt vốn đồng thời phải gánh nhiều nợ nần khả nghi, đã mất khả năng
thanh toán. Một đợt đầu cơ phá giá đồng bath Thái lập tức diễn ra, kéo theo
việc phá giá các đồng tiền khác trong vùng. Nền kinh tế Nhật Bản đã phải
chịu hậu quả nặng nề vì các nước trên thuộc về vùng kinh tế của Nhật không
còn sức mua để nhập hàng. Với một mức lãi suất gần bằng không và những
chương trình khởi động lại kinh tế qua ngân sách nhà nước, Nhật Bản đã tìm
cách gia tăng cầu trên thị trường bên trong song không bù đắp được giảm sút
về cầu trên thị trường bên ngoài ở Đông Nam Á.
2.2. Khủng hoảng kinh tế
2.2.1. Khái niệm
Khủng hoảng kinh tế (KHKT) là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo
dài và trầm trọng hơn cả suy thoái trong chu kỳ kinh tế. Trong đó, suy thoái
kinh tế được định nghĩa trong Kinh tế học vĩ mô là sự suy giảm của Tổng sản
phẩm quốc nội thực trong thời gian hai hoặc hơn hai quý liên tiếp trong năm.

đó tăng tỷ suất giá trị thặng dư, khi đó nền kinh tế tư bản đối mặt với vấn đề
thường xuyên là nhu cầu tiêu dùng không tương xứng với quy mô sản xuất và
tổng cầu không tương xứng với tổng cung.
 Sức ép lợi nhuận từ lao động: Tích tụ tư bản có thể đẩy nhu cầu
thuê mướn tăng lên và làm tăng tiền lương. Nếu tiền lương tăng cao sẽ ảnh
hưởng đến tỷ suất lợi nhuận và khi đạt đến một mức độ nhất định sẽ gây ra
suy thoái kinh tế.
9
8

9

Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

16
2.2.4. Đại Suy thoái (1929 – 1933)
a. Nguyên nhân
Cuộc Đại Khủng hoảng của Mỹ năm 1929-1933 có nguyên nhân lớn từ
sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Vào những năm 1920, nền kinh tế Mỹ vận
hành với chủ trương trở thành nhà băng của thế giới, thành nhà sản xuất
lương thực, sản xuất đồ dùng cho toàn thế giới nhưng sẽ mua ít nhất có thể
những gì mà phần còn lại của thế giới sản xuất ra. Điều này tạo nên trạng thái
cán cân thương mại rất có lợi cho Mỹ, những nó không thể tồn tại lâu. Mỹ
thiết lập nhiều rào cản thương mại để bảo vệ hoạt động kinh doanh của những
doanh nghiệp Mỹ, nhưng nếu Mỹ không muốn mua hàng từ đối tác Châu Âu

3. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay
3.1. Nguyên nhân
3.1.1. Nguyên nhân sâu xa
Thứ nhất là do chu kỳ phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản và bản
chất của kinh tế thị trường: Từ sau cuộc đại suy thoái kinh tế ở thập niên 40
cho đến cuối thế kỷ 20, thị trường tài chính toàn cầu hình thành và phát triển
rất mạnh. Với chính sách tự do hóa tài chính, Mỹ và các nước Tây Âu đã tạo
ra được một hệ thống thị trường tài chính sôi động, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển nhanh chóng - đó là mặt tích cực. Trên thị trường, người ta giao dịch các
công cụ tài chính truyền thống như cổ phiếu, trái phiếu thì ít, giao dịch các
công cụ phái sinh mang nặng tính đầu cơ thì nhiều. Giá giao dịch của các
công cụ tài chính trên các thị trường đã bỏ xa giá trị thực của nó, hình thành
một nền tài chính bong bóng. Quả bong bóng tài chính đã bị xẹp xuống khi
nền kinh tế có vấn đề và lạm phát xuất hiện.
Thứ hai là do khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ những bất ổn
trong nền kinh tế tài chính mà chính phủ không kiểm soát được các định chế
này: Trong vòng 20 năm trở lại đây, nền kinh tế thế giới phát triển theo
khuynh hướng khuếch đại vai trò của kinh tế tài chính, làm xuất hiện một tầng
lớp rất đặc trưng là các nhà tư bản tài chính. Tầng lớp các nhà tư bản tài chính
càng ngày càng lớn lên cả về số lượng, cả về chất lượng của sự giàu có. Các
định chế tài chính và các quỹ tài chính mà đứng đằng sau là các nhà tư bản tài
Khoá luận tốt nghiệp

Hà Hải Vân - Lớp Anh 5 - QTKDB - K44

18
chính đó đã xuất hiện một cách vô chính phủ. Chính phủ Mỹ hay bất kỳ chính
phủ nào cũng không đủ năng lực để giám sát các quỹ tài chính này và nó trở
thành những kẻ du canh, du cư trên toàn bộ nền kinh tế tài chính thế giới. Sự
khủng hoảng của kinh tế thế giới hiện nay thực chất là sự khủng hoảng của

đưa ra những quyết định liều lĩnh với tiền của doanh nghiệp. Trong trường hợp
thành công, CEO có thể lĩnh hàng trăm triệu USD tiền thưởng, còn nếu thất
bại, họ cũng chẳng phải gánh chịu hậu quả, có chăng chỉ là tiền thưởng ít đi.
Thậm chí trong trường hợp CEO khiến doanh nghiệp đổ vỡ, CEO vẫn ra đi với
những gói bồi thường thôi việc khổng lồ. Cách trả lương thưởng như vậy được
xem là một nguyên nhân quan trọng của cuộc khủng hoảng tại Mỹ hiện nay.
Nghiên cứu cho thấy, những doanh nghiệp áp dụng hình thức trả thù lao trong
đó quyền chọn cổ phiếu chiếm phần chính trong gói lương thưởng của CEO
thường chịu những khoản lỗ lớn bất thường nhiều hơn so với những doanh
nghiệp trả cho CEO chủ yếu bằng tiền mặt hay cổ phiếu.
Thứ tư là do sự thiếu quản lý tốt của hệ thống tài chính: Các tập đoàn
tài chính sáng tạo quá cao trong việc phát triển những cơ cấu và công cụ mới
để phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận cao của giới đầu tư. Những công
cụ này mang tính rủi ro cao hơn những gì người ta có thể hình dung về chúng.
Quá lạc quan về sự gia tăng tiếp theo của giá tài sản, các nhà đầu tư không
chịu nhìn gần vào bản chất của loại tài sản mà họ đã mua. Thay vào đó, họ
dựa vào những phân tích mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cung cấp. Trong
khi đó, trong một số trường hợp, các tổ chức đánh giá này thậm chí còn bán
lời khuyên về việc làm thế nào để có thể “bịt mắt” hệ thống xếp hạng tín
nhiệm. Hệ thống giám sát tài chính tỏ ra lỏng lẻo, bất lực và có quy mô quá
hạn chế. Hệ thống tài chính phi ngân hàng - một mạng lưới có độ ràng buộc
lẫn nhau cực cao, gồm các ngân hàng đầu tư, các quỹ đầu cơ, các tổ chức cho
vay địa ốc - lại không nằm dưới sự giám sát của các quy chế chặt chẽ. Sự sụp
đổ của một đối tượng nào đó có thể dẫn tới sự đổ vỡ dây chuyền khiến tất cả
các đối tượng trong hệ thống mất niềm tin nghiêm trọng vào nhau và sự tháo
chạy của giới đầu tư khỏi toàn bộ thị trường tài chính phái sinh và chứng
khoán hóa. Khi đó, các công ty làm ăn tốt và người tiêu dùng có khả năng trả

Trích đoạn Tăng cường biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tập Tăng cường công tác dự báo ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế Tổ chức và điều hành doanh nghiệp hợp lý và linh hoạt Xây dựng chiến lược thương hiệu và hệ thống phân phối mạnh để giành Xem xét lại toàn bộ các hoạt động của doanh nghiệp, ưu tiên cho các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status