Khủng hoảng nợ công trên thế giới và bài học đối với việt nam - Pdf 13

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO
TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2011
Mã số: B11-10 KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI
VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM Cơ quan chủ trì: Viện Kinh tế
Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Nguyễn Hữu Thắng
Thư ký đề tài: ThS Phí Thị Hằng

TuanHA
13. TS Hà Văn Tuấn Viện Kinh tế, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
TungNgTr
14. ThS Nguyễn Trí Tùng Viện Kinh tế, Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh
2

TỪ VIẾT TẮT

BIS Ngân hàng Thanh toán quốc tế
CDS
Thị trường hợp đồng hoán đổi rủi ro tín dụng
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
ECB Ngân hàng Trung ương châu Âu
EMS Cơ chế bình ổn châu Âu
EU Liên minh Châu Âu
FESF Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
HIPC Các nươc nghèo nặng nợ
HIPCs Các nước nghèo nặng nợ
ICOR Chỉ số đầu vào - đầu ra
IMF Quỹ Tiền tệ quốc tế
NHNN Ngân hàng nhà nước
NSNN Ngân sách nhà nước
OECD Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế
SNA Hệ thống tài khoản quốc gia
UBND Ủy ban nhân dân

VIỆT NAM TỪ BÀI HỌC VỀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI

82
3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến nợ công của Việt Nam 82
3.2. Một số giải pháp phòng, chống khủng hoảng nợ công ở Việt Nam từ bài
học về khủng hoảng nợ công trên thế giới 96
Kết luận và kiến nghị
103
Tài liệu tham khảo
113
Phụ lục
118
. 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1. Nợ công của các nước OECD 52
Bảng 2.2. Nợ công của một số nước châu Á 56
Bảng 2.3. Cho vay của các ngân hàng đối với chính phủ các nước Mỹ Latinh
giai đoạn 1982 - 1988 59
Bảng 2.4. Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của các nước EU trước và sau
khủng hoảng tài chính toàn cầu 68
Bảng 2.5 Tỷ lệ nợ công so với GDP của một số nước EU 71
Bảng 3.1. Luồng vốn ròng vào các nước đang phát triể
n theo khu vực 84
Bảng 3.2. Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 - 2010 92
Bảng 3.3. Một số chỉ số đo lường hiệu quả quản lý nợ công của Việt Nam

thành phổ biến không chỉ ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam mà
ở cả những quố
c gia phát triển như Mỹ, Đức; không chỉ ở các quốc gia với
tiềm lực tài chính mỏng mà còn ở các quốc gia có dự trữ tài chính hàng đầu thế
giới như Nhật Bản, Trung Quốc
Tuy nhiên, nếu việc vay nợ và sử dụng các khoản nợ vay này không
hợp lý và kém hiệu quả sẽ dẫn đến mất khả năng trả nợ và khủng hoảng nợ
công thì nó không chỉ làm tăng n
ợ quốc gia, để lại gánh nặng nợ cho nhiều
thế hệ mai sau, mà còn làm giảm thu nhập, tăng thất nghiệp, lạm phát cao,
dẫn đến đổ vỡ, khủng hoảng kinh tế - xã hội và chính trị nặng nề.
Thực tế trên thế giới cho thấy, khủng hoảng nợ công đã xẩy ra từ lâu
như khủng hoảng nợ công ở Pháp năm 1826, khủng hoảng nợ công diễn ra
tạ
i 16 nước Mỹ Latinh những năm 1982 - 1985, trong đó điển hình là
Mêhicô, Achentina, Braxin. Đỉnh cao của cuộc khủng hoảng này là vào
tháng 8/1982, khi Bộ trưởng Tài chính Mêhicô tuyên bố nước này không
thể trả nợ đến hạn và đã gây ra phản ứng dây chuyền tại các nước trong khu 2

vực. Đây là cuộc khủng hoảng nợ nghiêm trọng nhất tại khu vực này từ
trước đến nay. Cuộc khủng hoảng đã gây nên những tổn thất nặng nề cho
các quốc gia này: thu nhập giảm mạnh, tăng trưởng kinh tế bị đình trệ, thất
nghiệp và lạm phát tăng cao. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, tăng
trưởng GDP của ba nước lớn là Achentina, Braxin và Mêhicô giảm m
ạnh từ
mức gần 10% trước năm 1980 xuống -4% đến -6% năm 1981 và -5% đến -
8% năm 1985; lạm phát (theo CPI) tăng từ mức trên 100% năm 1982 lên trên

nợ, Chính phủ Hy Lạp phải thắt chặt mạnh chi tiêu, cắt giảm lương và tăng
thuế vì thế đ
ã làm dấy lên làn sóng biểu tình và bạo lực với hàng chục nghìn
người tham gia. Để tránh rơi vào vỡ nợ, Hy Lạp đã phải nhận gói cứu trợ lên
tới 110 tỷ Euro (tương đương 146 tỷ USD) của Liên minh Châu Âu (EU) và
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) với ba điều kiện ngặt nghèo như: cắt giảm thâm hụt
ngân sách xuống mức 3% vào năm 2014, cắt giảm chi tiêu công theo hướng
“thắt lưng, buộc bụng” và tă
ng thuế, chịu sự giám sát tài chính quốc tế.
Khủng hoảng nợ công cũng đang diễn ra ở các nước khác thuộc EU
như Airơlen, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Tại Airơlen, tỷ lệ nợ quốc gia so
với GDP cao nhất thế giới (lên tới 310%). Khủng hoảng nợ công ở các nước
châu Âu không chỉ ảnh hưởng nặng nề đến từng quốc gia này mà còn làm
xáo trộn, chấn động mạnh tới EU và cả
thế giới.
Với các gói kích thích kinh tế khổng lồ nhằm đối phó với Đại khủng
hoảng kinh tế 2007-2009, nợ quốc gia ở nhiều nước tăng lên rất lớn. Theo Tạp
chí Business Week, nhiều nước có nợ quốc gia ở mức nguy hiểm, trong đó có
các nền kinh tế hàng đầu thế giới với tỷ lệ nợ/ GDP và thâm hụt ngân sách so
GDP tương ứng như sau: Mỹ 93,6% và -9,9%; Nhật Bản 227% và -10,2%;
Italia 120,7% và -5,6%; Aixơlen 310% và -9,9%;
Ấn Độ 88,9% và -6,9%;
Đức 84,5% và -4,6%, Pháp 82,6% và -7,1% Mới đây, trên cơ sở nghiên
cứu tình hình nợ nước ngoài tại 75 nước trên thế giới, Hãng tin tài chính
CNBC đưa ra kết quả gây sửng sốt cho cả thế giới: hiện có 15 nước có mức
nợ quốc gia (bao gồm cả nợ công và nợ của khu vực tư nhân) cao hơn nhiều 4

5

gia, đặc biệt là nợ nước ngoài. Vì vậy, nếu không kiểm soát tốt nợ công thì
Việt Nam rất có thể rơi vào “bẫy nợ” và khủng hoảng nợ công như các
nước Nam Mỹ và một số nước khác. Do vậy, việc nghiên cứu khủng
hoảng nợ công trên thế giới để rút ra những bài học nhằm phòng, tránh
khủng hoảng nợ và hạn chế tác động xấu nếu khủng hoảng nợ xẩ
y ra là
vấn đề rất bức xúc. Đó cũng là lý do của việc lựa chọn đề tài nghiên cứu:
"Khủng hoảng nợ công trên thế giới và bài học rút ra cho Việt Nam"
nhằm góp phần nào giải quyết những vấn đề cấp bách nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Khủng hoảng nợ công đã từng xẩy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới. Do
vậy, vấn đề này đã được nhi
ều tổ chức quốc tế, nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa
học ở nhiều nước quan tâm và nghiên cứu. Hiện có không ít công trình
nghiên cứu về nợ công và khủng hoảng nợ công, đặc biệt là ở nước
ngoài. Dưới đây là tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan
tới đề tài.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, tình trạng vỡ nợ và khủng hoảng nợ đã diễn ra từ lâu.
Đại khủng hoảng kinh tế
1929 - 1933 xuất phát từ khủng hoảng nợ ngân
hàng của khu vực tư nhân ở Mỹ đã gây ra những đổ vỡ trầm trọng ở nhiều
nước trên thế giới. Sau khủng hoảng, chính phủ nhiều nước tăng cường can
thiệp vào nền kinh tế, vay nợ để đầu tư phát triển. Đặc biệt là sau Đại chiến
thế giới lần thứ hai, chính phủ nhiều nước phải vay n
ợ để khôi phục nền

triển - “thế giới thứ nhất”, bao gồm từ lịch sử khủng hoảng nợ trên thế giới
những năm 1970, làm rõ nguồn gốc của khủng hoảng nợ, tình hình nợ công
và nguy cơ khủng hoảng nợ của Anh và Mỹ, nhấn mạnh tính pháp lý và
khía cạnh đạo đức của các khoản nợ.
Từ Bắc chí Nam: khủng hoảng nợ và các chính sách đ
iều chỉnh cơ
cấu (From North to South: Debt crisis and structural adjustment policies),
của tác giả Eric Tousaint (1998) - Chủ tịch Uỷ ban Xử lý nợ đối với các 7

nước thế giới thứ ba. Với dung lượng 396 trang, cuốn sách làm rõ những
vấn đề cơ bản về nợ quốc gia, nợ công, tình hình nợ công và khủng
hoảng nợ công ở các nước “thế giới thứ ba”, đặc biệt là khủng hoảng nợ
công tại các nước Nam Mỹ và Đông Âu giai đoạn 1980-1990. Tác giả
tổng hợp và đánh giá các chính sách điều chỉnh cơ cấu sau khủng hoảng
n
ợ ở các nước này.
Khủng hoảng nợ ở Vương quốc Anh - hướng dẫn thực hiện các luật
phá sản mới (Britain’s debt crisis - a practical guide to the new Bankruptcy
laws), của tác giả Tom Slator (2005). Với 272 trang, cuốn sách làm rõ
những vấn đề cơ bản về khủng hoảng nợ, các quy định pháp lý về khủng
hoảng nợ và phá sản ở Vương quốc Anh, hướng dẫn thực hành về phá sản,
vỡ nợ theo các luật về
phá sản ở Vương quốc Anh, đưa ra những chỉ dẫn để
tránh rơi vào tình trạng phá sản, vỡ nợ và khắc phục nhanh tác động của
chúng nếu gặp phải.
Khủng hoảng nợ quốc tế từ bối cảnh lịch sử (The International debt
crisis in Historical perspective), của nhiều tác giả do Barry Eichengreen và

ủng hoảng nợ ở các nước trên thế giới: các
nước Nam Mỹ, các nước có tỷ lệ nợ cao ở châu Phi (HIPC). Điều quan trọng là
bài viết này phần nào làm rõ nguyên nhân của các cuộc khủng hoảng nợ, trong
đó nguyên nhân chủ yếu là kiểm soát vay nợ và sử dụng nợ yếu kém.
Ngoài ra, có hàng chục cuốn sách và hàng trăm bài viết khác về
khủng hoảng nợ dưới nhiều giác độ: toàn cầu, quốc tế, khu vực, nhóm nướ
c
và của một quốc gia. Chẳng hạn, các nghiên cứu dưới đây:
- Bài học phía sau khủng hoảng nợ Hy Lạp, của giáo sư Paul
Krugman, Tạp chí New York Time, ngày 10/4/2010.
- Khủng hoảng nợ tại Hàn Quốc (South Koreans in the debt crisis),
của tác giả Jesook Song (2009).
- Nguyên nhân của khủng hoảng nợ, của tác giả Anup Shah (2007),
Tạp chí Global Issues. 9

- Thị trường có giải quyết được khủng hoảng nợ công? (Has the Market
solved the sovereign debt crisis), của tác giả Michael Bowe và Jame Deans
(1997), Princeton University, New Jersey.
- Khủng hoảng nợ tại châu Phi (The African Debt Crisis), của Trevor
W.Parfitt và Stephen P.Riley (1989).
Đặc biệt là từ khi diễn ra khủng hoảng nợ công tại các nước châu
Âu (như Aixơlen, Hy Lạp), có rất nhiều bài viết, bản tin phân tích, đưa
tin về khủng hoảng nợ công của các nước này và ở nhiều nước phát
triển khác. Chẳng hạ
n như:
- Nợ công - “Bom hẹn giờ” sau bầu cử ở Anh quốc? Tạp chí Tài
chính JRJ, Trung Quốc, ngày 5/5/2010 (tài liệu dịch từ tiếng Trung Quốc).

rủi ro đối với nợ công, cải cách hệ thống kế toán để bảo đảm kiểm soát tốt
vay và sử dụng nợ công
Thống kê nợ nước ngoài - hướng dẫn đối với người vay và ng
ười sử
dụng vốn vay (External Debt Statistics - guide for Compilers and Users),
của IMF (2003), Washington D.C. Sách gồm 309 trang với 4 phần và 19
mục, không đơn thuần là số liệu thống kê mà đưa ra những quy định liên
quan tới nợ nước ngoài: khái niệm, cách đo lường, phân loại nợ nước ngoài;
vay nợ, nguồn vay và các nguyên tắc vay nợ nước ngoài; sử dụng có hiệu
quả nợ vay.
Ba là, các hoạt động thực tiễn liên quan tới kiểm soát nợ, ngăn ngừa
kh
ủng hoảng nợ.
Từ sau khủng hoảng nợ những năm 1980, các tổ chức tài chính quốc
tế như WB, IMF tăng cường kiểm soát khủng hoảng nợ trên thế giới, đưa ra
chính sách kiểm soát vay nợi đối với các nước có tỷ lệ nợ cao và có nguy cơ
khủng hoảng nợ. Từ năm 1996, các chủ nợ lớn trên thế giới đưa ra danh
sách các nước nghèo nặng nợ (HIPC) và đề xuất m
ột số sáng kiến nhằm 11

kiểm soát nguy cơ khủng hoảng nợ từ những nước này.
Một trong các hoạt động thực tiễn có ý nghĩa cảnh báo và ngăn ngừa
khủng hoảng nợ là việc cung cấp thông tin về tình hình nợ quốc gia của tất
cả các nước. Theo đó, các tổ chức tài chính quốc tế đã hình thành mạng
truyền thông thông tin về nợ quốc gia tại nhiều trang thông tin điện tử
(Website) như: publicdebtnet.org,
jedh.org/jedh_dbase v.v Theo đó, nợ

nước ngoài nói riêng cũng đã nổi lên và đã được dàn xếp ổn thỏa với WB, IMF,
CHLB Nga và các nước khác. Từ đó đến nay, nợ công của Việt Nam luôn được
duy trì ở mức an toàn. Do vậy, việc nghiên cứu khủng hoảng nợ công chưa thật
sự
được chú trọng. Tuy vậy, đã có một số công trình nghiên cứu, một số tài liệu
liên quan đề tài, trong đó chủ yếu tập trung vào hai mảng lớn: nợ công và quản
lý nợ công ở Việt Nam ; khủng hoảng nợ công ở nước ngoài.
Về nợ công và quản lý nợ công, các nghiên cứu đã công bố bao gồm
các đề tài khoa học, một số bài viết. Một số bài cụ thể như sau:
- Quản lý nợ
công ở Việt Nam, Đề tài khoa học do Trường đại học
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh thực hiện, TP Hồ Chí Minh 2007. Kết quả
nghiên cứu này làm rõ được một số vấn đề về nợ công và quản lý nợ công,
đánh giá được phần nào thực trạng nợ công và đề xuất được một số giải
pháp nhằm hoàn thiện quản lý nợ công ở nước ta. Tuy nhiên, do khung khổ
có hạn nên nhiều vấn đề
về nợ công và khủng hoảng nợ công chưa được đề
cập thỏa đáng.
- Quản lý tài chính công ở Việt Nam, của tác giả Vũ Thị Nhài (2007),
NXB Tài chính, Hà Nội. Công trình này bàn về quản lý tài chính công và có
đề cập một phần đến nợ công.
- Tình hình nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam, của tác giả Mai
Thu Hiền và Nguyễn Thị Như Nguyệt (2011), Tạp chí Ngân hàng, số 14 (7-
2011). Trong bài viết này, các tác giả đã đ
iểm lại thực trạng nợ công của
Việt Nam đến tháng 10-2011, đánh giá khả năng trả nợ và mức an toàn về 13



14

- Một thế giới nợ nần, của tác giả Phạm Quốc Trụ, trang thông tin
điện tử của Bộ Ngoại giao, ngày 27/4/2010.
- Bẫy nợ nần - lối thoát nào cho các nước nghèo, của tác giả Nguyễn
Thị Hoa, Tạp chí Cộng sản, số 97/2005.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác được đăng tải dưới dạng các đề
tài khoa học, sách tham khảo, các bài viết đăng báo Tuy nhiên, phần lớn
các công trình nghiên cứ
u chủ yếu tập trung vào liệt kê nợ công, chưa có
nhiều công trình nghiên cứu khủng hoảng nợ công. Trong bối cảnh đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu
và khả năng vay vốn của Nhà nước tăng lên rất lớn, tỷ lệ nợ công tăng
nhanh trong những năm tới. Do vậy, cần chú trọng nghiên cứu khủng
hoảng nợ của các nướ
c để rút ra bài học cho Việt Nam để phòng, tránh
khủng hoảng nợ là vấn đề rất cấp thiết hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan tới khủng hoảng nợ công để rút ra bài học và đề xuất
giải pháp nhằm góp phần phòng tránh khủng hoảng nợ công ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó, các mục tiêu cụ thể và nhiệm vụ đặt ra là:
- Hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận về khủng hoảng nợ
công: bao gồm khái niệm, nguyên nhân, tác động của khủng hoảng nợ công
và phương thức phòng tránh, xử lý khủng hoảng nợ công.
- Đánh giá thực trạng khủng hoảng nợ công ở một số nước, nhóm
nước trên thế giới, làm rõ những nguyên nhân chủ yếu, những phương thức
xử lý khủng hoảng nợ công và rút ra một số bài học thực tế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phòng, chố

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung Báo cáo tổng hợp được kết
cấu thành 3 chương, 8 tiết. 16

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỢ CÔNG
VÀ KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG

1.1. Nợ công và vai trò của nợ công đối với phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nợ công

Khái niệm nợ công
Vay nợ là hoạt động bình thường trong nền kinh tế nhằm thu hút
nguồn vốn nhàn rỗi từ các cá nhân và tổ chức trong xã hội để đáp ứng nhu
cầu về vốn của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế. Từ việc vay nợ
hình thành nên nghĩa vụ trả nợ, bao gồm cả gốc, lãi vay và chi phí liên quan
tới món vay. Việc vay vốn của các chủ thể kinh doanh là điều bình thường
và xu
ất hiện từ rất lâu trong lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, việc vay nợ của
chính phủ ở các quốc gia được hình thành muộn hơn, gắn với nhu cầu chi
tiêu trong các thời kỳ có chiến tranh, hoặc sau các cuộc khủng hoảng tài
chính - kinh tế. Nghiên cứu của hai chuyên gia về nợ công là Carmen M.
Reinhart - Viện Kinh tế quốc tế Petersen và Kenneth S. Rogoff - Trường đại
học Harvard, chuyên gia của IMF, nợ công đã xuất hiện từ rất lâu trên thế
giới. Trong công trình
Thập niên của nợ [61] hai chuyên gia này đã lựa
chọn và nghiên cứu nợ công tại hơn 20 nước gồm Mỹ, Anh, Tây Ban Nha,
Hy Lạp và một số nước khác. Kết quả cho thấy, nợ công bình quân của các

lại, nếu doanh nghiệp trả được nợ bình thường thì khoản vay này không
phải là nợ chính phủ. Do các khoản nợ tiềm tàng này rất khó xác định (lúc
nào thì trở thành nợ và lúc nào thì không) nên nói đến nợ công, người ta
thường tách bạch ra nợ công và nợ do khu vực công bảo lãnh. Điều này thể
hiện rõ trong Luật Quản lý nợ công năm 2009 hay trong thống kê nợ công
của Việt Nam hiện nay, đồng th
ời đó cũng là quy định của một số tổ chức
tài chính quốc tế như WB và IMF.
Thứ hai, cần phân biệt giữa nợ công và nợ chính phủ (trung ương), nợ
của chính quyền địa phương, nợ của NHNN, nợ của DNNN và nợ của các
tổ chức nhà nước khác. 18

- Nợ chính phủ: là một bộ phận cơ bản của nợ công, do chính phủ
trung ương hoặc do cơ quan nhà nước được chính phủ ủy quyền vay trực
tiếp trong và ngoài nước. Luật Quản lý nợ công 2009 của Việt Nam quy
định: “Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,
nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính
phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền
phát hành theo quy định củ
a pháp luật” [37].
Nợ chính phủ được sử dụng để (i) đầu tư phát triển; (ii) bù đắp thiếu
hụt tạm thời NSNN; (iii), cơ cấu lại nợ; (iv) cho vay lại; (v) mục đích khác.
Nợ chính phủ được hình thành thông qua: phát hành công cụ nợ (tín phiếu,
hối phiếu, trái phiếu, công trái ) và thông qua thỏa thuận vay (gồm cả hiệp
định, hợp đồng vay) trong và ngoài nước.
- Nợ của chính quyền địa phương: cũng là một bộ phậ
n của nợ công,

Thứ ba, khái niệm nợ công của các tổ chức quốc tế cũng không hoàn
toàn giống nhau. Chẳng h
ạn, theo Tổ chức Hợp tác phát triển kinh tế
(OECD), nợ công là tổng các khoản nợ của tất cả các định chế công.
Định nghĩa này cũng được sử dụng trong Hệ thống Tài khoản quốc gia
(SNA) 1993 và Hệ thống Tài khoản châu Âu 1995 [
51]. Theo quan niệm
như vậy, nợ của DNNN và tất cả các tổ chức kinh tế khác của nhà nước
đều là nợ công.
Định nghĩa về nợ công như vậy khác với quy định trong Hiệp ước
Maastrichs của EU ký kết năm 1991. Theo đó, có hai điểm khác biệt trong
quy định về nợ công theo Hiệp ước này: (i) Nợ công không bao hàm tín
dụng thương mại và các chi phí phát sinh liên qua đến khoản vay; (ii) Khi tính
nợ công thì trái phiếu chính phủ được định theo giá chuẩ
n khác với định giá
theo thị trường như quy định của SNA nói trên.
Trong khuôn khổ của WB và IMF, nợ công được coi là một bộ phận
của nợ quốc gia, bao gồm nợ công và nợ được bảo lãnh bởi khu vực công;
do nhà nước, ngân hàng nhà nước trung ương và các doanh nghiệp nhà 20

nước vay trong và ngoài nước; gồm cả các khoản vay ngắn và dài hạn;
dưới các hình thức như trái phiếu, tín phiếu, các khoản vay, tiền mặt và
giấy tờ có giá, vay thương mại và các nghĩa vụ nợ khác [
52].
Như vậy, hầu hết các tổ chức tài chính quốc tế đều quan niệm nợ
công theo nghĩa rộng. Theo đó, nợ công là tổng các khoản nợ của khu
vực công, của tất cả các định chế công.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status