NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CƯ DÂN VÀ VĂN HÓA VÙNG VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN - Pdf 21

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM
CƯ DÂN VÀ VĂN HÓA VÙNG VEN BIỂN VÀ HẢI ĐẢO:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

GS.TS. Tô Duy Hợp - Ths. Đặng Vũ Cảnh Linh

Bài viết gồm 4 phần: Phần mở đầu giải thích ý nghĩa các từ khóa như "
Đặc điểm cư dân", "Đặc điểm văn hóa", "Con người và văn hóa", " vấn đề lý
luận cơ bản". Nội dung chính bao gồm 3 phần sau: (1) Đặc điểm cư dân và
văn hóa vùng ven biển, hải đảo: khái quát hóa bằng con đường quy nạp,
hướng tới khung mẫu khinh - trọng; phát hiện tính phổ quát và phổ dụng của
các khung mẫu hỗn hợp phân biệt khinh - trọng có mức độ. (2) Đặc điểm cư
dân và văn hóa vùng ven biển, hải đảo: cụ thể hóa bằng con đường diễn dịch
từ hướng tiếp cận lý thuyết khinh - trọng. Lý thuyết khinh - trọng cho phép
suy ra nhiều khung mẫu khinh - trọng mà người ta có thể kiểm tra bằng thực
nghiệm hoặc kiến tạo bằng hoạt động thực tiễn. (3) Định hướng mô hình phát
triển cư dân và văn hóa vùng ven biển, hải đảo - tầm nhìn 2020 và xa hơn nữa
(2050). Một phác thảo chiến lược biến đổi vùng ven biển và hải đảo bền vững
từ hướng tiếp cận lý thuyết khinh - trọng. GS.TS. Tô Duy Hợp ThS. Đặng Vũ Cảnh Linh
Thế kỷ XXI được các nhà khoa học dự báo là "Thế kỷ của đại dương",
bởi cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và nhu cầu của cuộc sống con
người, các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên đất liền đang có xu hướng cạn kiệt,
sẽ không còn đủ sức để đáp ứng những đòi hỏi ngày càng tăng của con người.
Trong bối cảnh đó, vùng kinh tế ven biển có một tầm quan trọng đặc biệt. Các
quốc gia có biển thế giói hiện nay đều hướng tới ưu tiên xây dựng các chiến lược
về biển nhằm khai thác và phát huy nguồn tài nguyên phong phú này.
Việt Nam là một quốc gia ven biển. Trong quá trình hình thành và phát triển
đất nước, con người Việt Nam từ xa xưa đã có sự gắn kết chặt chẽ với biển bởi địa

những mục tiêu cụ thể mang tính thực tiễn, trước mắt. Hơn nữa, do cách tiếp cận
khác nhau vì thế mà kết quả thu được cũng còn những mặt hạn chế. Cho đến nay,
chúng ta vẫn chưa có một công trình quy mô, mang tính hệ thống, liên ngành đi
sâu vào lĩnh vực con người và văn hoá cư dân ven biển, hải đảo, nhất là tổng kết
một cách hệ thống những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về miền
đất, con người và văn hoá của khu vực đặc biệt này. Chúng ta cũng chưa có điều
kiện đi sâu phân tích để đưa chiến lược phát triển vùng ven biển, hải đảo gắn liền
với chiến lược phát triển văn hoá và con người.

Mở Đầu
Trong đầu đề bài viết có một số từ khóa (key words) cần được giải thích. Đó là
các cụm từ như " Đặc điểm cư dân", "Đặc điểm văn hóa", "Con người và văn hóa",
" vấn đề lý luận cơ bản".
1. Từ mọi góc độ tiếp cận của khoa học, những đặc điểm cư dân bao hàm ý
nghĩa của một cộng đồng người sinh sống trong một khu vực được xác định dựa
trên các yếu tố lịch sử, địa lý, quá trình tiếp xúc với thiên nhiên, lao động sản xuất,
từ đó tạo nên nếp sống sinh hoạt, phong tục tập quán, các mối quan hệ gia đình,
xóm làng, giữa các nhóm và tầng lớp xã hội trong những nét khái quát và tương
đồng về văn hóa, giá trị. Đặc điểm của cư dân luôn được xem xét dưới góc độ cơ
cấu dân số, lao động, việc làm chịu sự chi phối của phương thức sản xuất và trình
độ phát triển chung, đồng thời luôn biến đổi qua các thời kỳ lịch sử. Biến đổi có
nhiều mức độ khác nhau, kể từ sự biến dạng (tức là sự thay đổi trạng thái, thay đổi
hình dạng, hoặc thay đổi hình thức) đến biến chất (tức là sự thay đổi tính chất,
thay đổi quan hệ, mà căn bản hơn là sự thay đổi bản chất của sự vật, hiện tượng).
Biến đổi có nhiều loại khác nhau, kể từ sự tăng trưởng (tức là sự thay đổi theo
chiều hướng gia tăng số lượng, mở rộng quy mô) hoặc sụt giảm (tức là sự thay đổi
theo chiều hướng giảm trừ số lượng, thu hẹp quy mô) đến phát triển. Phát triển là
một dạng biến đổi đặc biệt, đó là sự thay đổi về chất, không chỉ theo hướng tiến
hóa, tiến bộ (nghĩa là đi từ thấp đến cao, từ không hoàn thiện đến hoàn thiện) mà
còn theo hướng đa dạng hóa (tức là đi từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn thể đến

đưa ra định nghĩa về văn hóa khá phổ quát như sau: Văn hóa nên được đề cập đến
như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm
của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học
và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền
thống và đức tin. [1] Định nghĩa này đã cho phép xác định những đặc điểm văn
hóa của một cộng đồng dân cư.
Thực tế cho thấy, trong một nền văn hóa tồn tại nhiều tiểu văn hóa. Văn hóa
không chỉ đơn giản là cơ sở đối với nhận thức của con người về thế giới mà trong
quá trình tương tác, giao lưu văn hóa giữa các nhóm xã hội, giữa các nền văn hóa,
văn hóa còn là cơ sở đánh giá đúng, sai; tốt, xấu, tích cực, tiêu cực Các nhà xã
hội học phân biệt hai cách ứng xử của cá nhân/ nhóm đối với những mẫu văn hóa
khác:
Chủ thuyết vị dân tộc (ethno-centrism): là thông lệ đánh giá văn hóa khác bằng
tiêu chuẩn văn hóa của chính dân tộc mình. Khuynh hướng vị tộc là do một cá
nhân/ nhóm đã gắn bó mật thiết với các yếu tố văn hóa của dân tộc mình. Điều này
tạo ra sự đánh giá bất công hoặc sai lệch một mẫu văn hóa khác bởi lẽ những gì
được đánh giá có ý nghĩa khác nhau trong những nền văn hóa khác nhau. Chủ
nghĩa vị tộc cũng có hai chiều, nếu một cá nhân/nhóm đánh giá một nền văn hóa,
một mẫu văn hóa khác theo cách tiêu cực thì ngược lại, cá nhân/nhóm đó cũng có
thể bị đánh giá như thế. Các nhà xã hội học, nhân chủng học thường có quan điểm
phản đối thuyết vị chủng vì đó là cách phản ứng tiêu cực và bất công, sai lệch đối
với những nền văn hóa, mẫu văn hóa khác nhau.
Chủ thuyết tương đối văn hóa (cultural relativism): là quan điểm đánh giá văn
hóa khác bằng tiêu chuẩn của chính mình hay một cách nói khác là đánh giá văn
hóa khác trong cảnh quan văn hóa của chính nó. Đánh giá theo cách này có thể
hạn chế hoặc loại trừ được những bất công, sai lệch cũng như phản ứng tiêu cực
trước văn hóa khác biệt nhưng lại là thái độ khó đạt được. Muốn đánh giá văn hóa
khác bằng tiêu chuẩn của chính bản thân mình, phải hiểu được giá trị, tiêu chuẩn
của văn hóa khác cũng như không bị lệ thuộc bởi những giá trị, tiêu chuẩn của nền
văn hóa của chính mình. Thuyết này cũng nhấn mạnh rằng các bối cảnh xã hội

quan hệ giữa con người và văn hóa, đặc điểm cư dân và đặc điểm văn hóa là mối
quan hệ động, biện chứng, không ngừng biến đổi và chuyển hóa lẫn nhau : con
người nằm trong văn hóa và văn hóa nằm trong con người. Tuy nhiên về cơ bản
mối quan hệ này phải được xem xét trong bối cảnh tình huống cụ thể, đồng thời
quan trọng nhất là phải lấy tiếp cận phát triển làm cơ sở cho những đánh giá, nhận
định.
4. Vấn đề lý luận cơ bản là loại vấn đề lý luận liên quan đến cơ sở lý luận, tức
là liên quan đến những khái niệm cơ bản (các phạm trù) và những tiền đề cơ bản
(các nguyên lý, tiên đề, định đề, ) hoặc các luận đề xuất phát của tư duy lý luận
(tổng quát hoặc chuyên biệt).

I- Đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển, hải đảo: Sự khái quát hóa bằng
con đường quy nạp [2], hướng tới khung mẫu [3] khinh - trọng [4]

* Đặc điểm cư dân :
Những biến đổi về đặc điểm cư dân ở Việt Nam từ những năm đổi mới đến nay
được đánh dấu bằng quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, nghề nghiệp, trên
phạm vi toàn quốc. Đặc trưng cơ bản, chủ đạo của quá trình chuyển dịch cơ cấu
dân số và lao động - nghề nghiệp là đi theo xu hướng tăng cường phi nông nghiệp
hóa nói riêng, gia tăng phi nông hóa nói chung.
Từ trong lịch sử, cư dân ven biển và hải đảo có phương thức sinh sống chủ yếu
dựa trên nền tảng của ngư nghiệp kết hợp với nông nghiệp và các ngành buôn bán,
dịch vụ có liên quan đến khai thác tiềm năng kinh tế biển. Hãy lấy người lao động
với tư cách là đơn vị phân tích nhỏ nhất của cơ cấu xã hội để quy về khung mẫu
khinh - trọng thì ta thấy có ít nhất là 4 khung mẫu phổ biến và phổ dụng sau đây:
1. Có 2 khung mẫu khinh - trọng thái quá, nghĩa là có 2 nhóm người
lao động lựa chọn cực đoan, hoặc là dựa trên lao động truyền thống như thuần
nông/ thuần ngư (chỉ làm nông nghiệp, ngư nghiệp, hỗn hợp nông nghiệp và ngư
nghiệp theo phương thức truyền thống) hoặc là lao động hiện đại liên quan đến
công nghiệp, buôn bán, dịch vụ và ngư nghiệp ( Khai thác tiềm năng kinh tế biển

kinh nghiệm dân gian đều xác nhận tình trạng tương tự như cấp độ người lao động.
Nghĩa là cũng có 4 khung mẫu khinh - trọng phổ biến và phổ dụng, tuy nhiên vẫn
có sự tham gia và chi phối của biến số điều kiện là ngư nghiệp. Như vậy từ sự tác động của ngư nghiệp và các tiềm năng kinh tế biển có thể
thấy khung mẫu khinh - trọng phổ biến và phổ dụng của các hộ gia đình cư dân
ven biển có thể biến đổi thành :
1. Hộ thuần nông, hộ thuần ngư, hộ hỗn hợp trọng nông, hộ hỗn hợp trọng
ngư, hộ hỗn hợp trọng phi nông, hộ phi nông
2. Có thể thêm hai loại : hộ hỗn hợp trọng nông, ngư và hộ hỗn hợp trọng
phi nông, ngư.
Cấp độ cộng đồng làng - xã trong thực tế hiện nay chỉ cho thấy rõ 2 khung
mẫu khinh - trọng phổ biến và phổ dụng. Đó là làng - xã hỗn hợp trọng nông và
làng - xã hỗn hợp trọng phi nông. Khi có sự can thiệp của ngư nghiệp tạo thành 3
khung mẫu : làng - xã hỗn hợp trọng nông, ngư; làng - xã hỗn hợp trọng ngư và
làng - xã hỗn hợp trọng phi nông, ngư. ( Nếu những khu vực được xác định là ven
biển mà không tiếp giáp với biển thì sẽ tính thêm mô hình có làng - xã hỗn hợp
trọng nông và làng xã hỗn hợp trọng phi nông).
Không có vùng miền ven biển nào thuần nông, thuần ngư cũng không có
vùng miền phi nông, phi ngư hoàn toàn. Nhìn chung, chỉ có một khung mẫu khinh
- trọng điển hình, phổ biến và phổ dụng ở mọi cấp độ của khu xã tam nông, đó
chính là khung mẫu hỗn hợp trọng nông. Trong khi đó ở khu vực đô thị là trọng
phi nông. Tuy nhiên nếu đặt trong việc phân tích các đặc điểm cư dân ven biển và
hải đảo mối quan hệ này lại dựa trên nền tảng của mô hình trọng ngư ( Khác với
khu vực miền núi quan hệ này lại phải dựa trên nền tảng của mô hình trọng lâm
nghiệp).
* Đặc điểm văn hóa :
Tương tự như đặc điểm cư dân, nếu áp dụng khung mẫu khinh - trọng phổ
biến và phổ dụng phân tích những đặc điểm văn hóa vùng ven biển và hải đảo, ta

và văn hóa. Toàn thể các khung mẫu khinh - trọng phù hợp với nguyên lý thống
nhất đa dạng, thừa nhận độ đa dạng nhất định của các khung mẫu khinh - trọng
song trên cơ sở thống nhất bản chất và phạm vi khuôn khổ vùng ven biển và hải
đảo.
II- Đặc điểm cư dân và văn hóa vùng ven biển, hải đảo: cụ thể hóa bằng con
đường diễn dịch [5] từ hướng tiếp cận toàn thể luận [6] khinh - trọng

Các khung mẫu khinh - trọng không chỉ được khái quát hóa bằng con
đường quy nạp, mà hơn thế nữa, còn có thể cụ thể hóa bằng con đường diễn dịch.
Con đường diễn dịch ở đây sẽ xuất phát từ cơ sở lý thuyết toàn thể khinh - trọng.
Cơ sở lý thuyết toàn thể khinh - trọng được xây dựng mô phỏng theo khung
mẫu lý thuyết tiên đề hóa, bao gồm 2 thành tố: một là các khái niệm cơ bản và hai
là các định đề xuất phát. Dưới đây là một phương án cơ sở lý thuyết toàn thể khinh
- trọng.
1. Các khái niệm cơ bản của Toàn thể luận khinh - trọng
1.1. Toàn thể [7]
1.2. Khinh - trọng [8]
2. Các định đề xuất phát của toàn thể luận khinh - trọng (tứ diệu đề)
2.1. Cái toàn thể là một thực thể phổ biến (tính toàn thể là thuộc tính
hoặc/và quan hệ phổ biến).
2.2. Toàn thể là hệ thống mâu thuẫn biện chứng giữa tổng thể (phức thể) và
nhất thể (chỉnh thể), giữa toàn thể và phi toàn thể.
2.3. Toàn thể có lưỡng tính khinh - trọng, là quá trình toàn đồ khinh - trọng,
tức là phân biệt hoặc/và không phân biệt, điều chỉnh hoặc/và không điều chỉnh,
thay đổi hoặc/và không thay đổi khinh - trọng.
2.4. Chủ thể là một toàn thể tự chủ khinh - trọng; khách thể là một toàn thể
tự nó khinh - trọng; quan hệ chủ thể - khách thể là một toàn thể khinh - trọng.
Cơ sở toàn thể luận khinh - trọng là thành phần lập thuyết. Để có thể triển
khai các thành phần luận thuyết và dụng thuyết ta phải chuyển đổi các nguyên tắc
thành quy tắc thao tác. Quy tắc thao tác cơ bản ở đây là khung mẫu toàn đồ khinh -

mẫu khinh - trọng, đó là: 1/ Khung mẫu nguyên hợp bất phân khinh- trọng văn hóa
nông nghiệp/ văn hóa công nghiệp; 2/ Khung mẫu hỗn hợp cân bằng khinh - trọng
văn hóa nông nghiệp/ văn hóa công nghiệp và 3/ Khung mẫu tích hợp bất phân
khinh - trọng văn hóa nông nghiệp/ văn hóa công nghiệp . Ta có thể và cần phải
kiểm tra các hệ quả lý thuyết nêu trên bằng nghiên cứu thực địa, thực nghiệm
hoặc/và kiến tạo bằng hoạt động thực tiễn. Khung mẫu nguyên hợp bất phân khinh
- trọng văn hóa nông nghiệp/ văn hóa công, thương nghiệp có thể kiểm tra qua các
nguồn tài liệu lịch sử tam nông hoặc/và kiểm tra qua nghiên cứu các trường hợp
tàn dư ở các cơ sở hoặc địa phương mà ở đó còn đậm nét cổ truyền. Khung mẫu
hỗn hợp cân bằng khinh - trọng văn hóa nông nghiệp/ văn hóa công nghiệp có thể
phát hiện trong thực tế, kể từ cấp độ phức thể hơn. Khung mẫu tích hợp bất phân
khinh - trọng văn hóa nông nghiệp/ văn hóa công nghiệp khác với khung mẫu
nguyên hợp bất phân khinh - trọng văn hóa nông nghiệp/ văn hóa công nghiệp ở
trình độ phát triển cao so với trình độ phát triển thấp hoặc chưa phát triển.
Việc tính đến trình độ phát triển sẽ làm phức tạp thêm sơ đồ phân tích
khung mẫu khinh - trọng. Lược đồ 7 khung mẫu khinh - trọng nêu trên chưa thể
hiện dưới dạng tường minh các trình độ phát triển của mỗi một khung mẫu khinh -
trọng. Chẳng hạn như khung mẫu văn hóa nông nghiệp đã có lịch sử từ cổ đại đến
hiện đại, từ phương Đông đến phương Tây Tuy nhiên. từ khóa "văn hóa nông
nghiệp" cho đến nay thường hàm ý là ở trình đồ kém phát triển. Do đó, phù hợp
với trình độ phát triển cao, ta cần phải có thuật ngữ khác tương ứng.

III- Bàn về định hướng mô hình đặc điểm cư dân và văn hóa văn hóa vùng
ven biển hải đảo bền vững [11] - tầm nhìn 2020 và xa hơn nữa (2050)
Tổng - tích hợp kết quả khái quát hóa bằng con đường quy nạp và cụ thể
hóa từ hướng tiếp cận lý thuyết toàn thể khinh - trọng vận dụng vào song đề - nan
đề cơ bản của đặc điểm cư dân và văn hóa ven biển, hải đảo ta sẽ thấy rõ hơn định
hướng mô hình phát triển vùng ven biển, hải đảo Việt Nam bền vững - tầm nhìn
gần (2020) và xa hơn (2050).
Cơ sở lý luận khoa học chung là Toàn thể luận khinh - trọng vận dụng

biến kép thì tất cả các khung mẫu khinh - trọng về nguyên tắc đều khả dĩ và trên
thực tế đều khả dụng, khả thi. Các phương án lựa chọn có thể là:
1. Theo nguyên tắc được cái này thì mất cái kia, đó là theo khung mẫu
khinh - trọng thái quá, hoặc là chuyên nông, ngư (với đặc điểm cư dân), văn hóa
thiên về nông nghiệp, truyền thống (với đặc điểm văn hóa) hoặc là chuyên phi
nông, khai thác tiềm năng biển (văn hóa thiên về công nghiệp, hiện đại).
2. Theo nguyên tắc hơn cái này thì thiệt cái kia, đó là theo khung mẫu
khinh - trọng có mức độ, hoặc là hỗn hợp trọng nông, ngư (văn hóa trọng nông
nghiệp, truyền thống) hoặc/và hỗn hợp trọng phi nông (văn hóa trọng công nghiệp,
hiện đại).
3. Theo nguyên tắc vẹn cả đôi đường, đó là khung mẫu cân bằng khinh -
trọng hoặc bất phân khinh - trọng, có thể là được cả hai trong mối quan hệ với lợi
thế khai thác niềm năng biển (nông và phi nông, văn hóa truyền thống và văn hóa
hiện đại) nhưng ở trình độ phát triển thấp kém, hoặc là được cả hai nhưng ở trình
độ phát triển trung bình, hoặc là được cả 2 nhưng ở trình độ phát triển cao.
Nguyên tắc toàn thể khinh - trọng, tức là nguyên tắc toàn thể có phân biệt
hoặc/và không phân biệt, có điều chỉnh hoặc/và không điều chỉnh, có thay đổi
hoặc/và không thay đổi khinh - trọng hướng dẫn sự lựa chọn hợp lý và cả hợp tình
giữa các khung mẫu khinh - trọng khả dĩ, khả dụng, khả thi; tránh cố chấp, không
nhất thành bất biến mà linh hoạt, ứng vạn biến. Từ đó suy ra rằng không thể quy
giản dòng chủ lưu của biến đổi con người và văn hóa về quá trình chuyển đổi từ
lao động nông nghiệp, ngư nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ, khai thác niềm năng
kinh tế biển, từ nền văn hóa nông nghiệp sang văn hóa công nghiệp hoàn toàn
hoặc từ hỗn hợp khuynh hướng trọng nông sang hỗn hợp trọng phi nông. Bởi lẽ
bản chất của sự biến đổi con người và văn hóa là mâu thuẫn biện chứng nội tại và
bên ngoài giữa các thành tố, không đơn tuyến, không tuyến tính, không đơn điệu
như thành kiến nêu trên.
Nguyên tắc toàn thể khinh - trọng cũng hướng dẫn sự lựa chọn hợp lý và cả
hợp tình trình độ phát triển khi Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình ĐTH, CNH,
HĐH. Đối với song đề - nan đề truyền thống (kém phát triển) và hiện đại (phát

biển, hải đảo Việt Nam bền vững, tầm nhìn gần (2020) chủ yếu sẽ phải hóa giải
các song đề - nan đề nông - phi nông, tam nông - phi tam nông, truyền thống -
hiện đại; trong khi đó định hướng tầm nhìn xa hơn (2050 chẳng hạn) sẽ phải hóa
giải nhiều song đề - nan đề mới, chẳng hạn như song đề - nan đề tuần tự - nhảy vọt
nằm trong tam đề - nan đề phức tạp hơn, đó là truyền thống - hiện đại - hậu hiện
đại hay là cổ đại - cổ điển - phi cổ điển.
Toàn thể luận khinh - trọng nói chung là cơ sở lý luận khoa học cho việc
thấu hiểu và hóa giải các song đề, tam đề nêu trên, sẽ hướng dẫn các phương án
lựa chọn hợp lý và cả hợp tình trong hoạt động thực tiễn của biến đổi con người và
văn hóa vùng ven biển, hải đảo bền vững. Tuy nhiên, sự sáng tạo ra cái mới thật sự
trong hành động cách mạng bao hàm cả yếu tố thử và sai đòi hỏi việc tổng kết
thực tiễn đổi mới để bổ sung cơ sở lý luận, thậm chí thay đổi cả cơ sở lý luận, nếu
điều đó là cần thiết./.
Tài liệu tham khảo
1. A. Toffler, 1996. Đợt sóng thứ ba. Nxb KHXH. Hà Nội.
2. Andrew Shepherd, 1997. Sustainable Rural Development. Macmillan Press Ltđ;
London.
3. Ban, S.H and Moon, P.Y, 1980. Rural Development. Harvard University Press.
Harvard.
4. Bennedict J.Tria Kerkvliet, 2005. The power of Everyday politics. How
Vietnamese peasants transformed national policy. Cornell University Press.
Ithaca and London.
5. Bernstein, 2000. Rural Livelihoods: crises and responses. Oxford University
Press. Oxford.
6. Bob Warner, 2001. Rural Development and off farm employment. UNDP. Hà
Nội.
7. Cao Xuân Phổ, Văn hoá biển Đông Nam á, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam á,
số 4, 1999.
8. D.Bell, 1973. The coming of post - industrial society. New York.
9. Đỗ Kim Chung, 1998. Biến đổi xã hội nông thôn trong quá trình CNH, HĐH.

Khảo cổ học, số 4, 1995.
22. Nguyễn Khắc Sử, Văn hoá biển tiền sử Việt Nam. Một mơ hình giả thuyết, Tạp
chí Khảo cổ học, số 3, 1997.
23. Nguyễn Khắc Sử, Yếu tố núi biển trong thời tiền sử bắc Việt Nam, Tạp chí
Khảo cổ học, số 1, 1999.
24. Nguyễn Đình Tấn và Lê Tiêu La, Vai trò của nam chủ hộ ngư dân ven biển
trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999.
25. Philippe Papin - Oliver Tessier (chủ biên), 2002. Làng ở vùng châu thổ sông
Hồng, vấn đề còn bỏ ngỏ. Trung tâm KHXH và NVQG. Hà Nội.
26. Piere Gourou, 1936. Người nông dân đồng bằng Bắc bộ. Paris.
27. Samuel L. Popkin, 1979. The Rational peasant. The polotical Economy of
Rural Society in Vietnam. University of California Press, Ltđ.
28. Tô Duy Hợp (chủ biên), 1993. Tam Sơn - truyền thống và hiện đại. Nxb Chính
trị quốc gia. Hà Nội.
29. Tô Duy Hợp (chủ biên), 1997. Ninh Hiệp - truyền thống và phát triển. Nxb
KHXH. Hà Nội.
30. Tô Duy Hợp (chủ biên), 2000. Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở
đồng bằng sông Hồng. Nxb KHXH. Hà Nội.
31. Tô Duy Hợp (chủ biên), 2002. Luận cứ khoa học cho việc điều chỉnh chính
sách xã hội nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày nay. Nhiệm cụ cấp
Bộ. Hà Nội.
32. Tô Duy Hợp (chủ biên), 2003. Định hướng phát triển làng - xã đồng bằng
sông Hồng ngày nay. Nxb KHXH. Hà Nội.
33. Tô Duy Hợp, 1996. Đặc điểm tiếp cận hệ thống trong Xã hội học. Tạp chí Xã
hội học, số 4/1996.
34. Tô Duy Hợp, 1999. Nông thôn Việt Nam trong tiến trình đổi mới: thành tựu,
vấn đề, chiến lược phát triển. Trong sách: "Nông thôn trong bước quá độ sang
kinh tế thị trường". Thông tin KHXH, chuyên đề. Hà Nội.
35. Tô Duy Hợp, 2001. Lý thuyết hệ thống. Nguyên lý và vận dụng. Tạp chí Triết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status