CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC: “DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 1 THEO CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC” - Pdf 21

TƯ LIỆU GIÁO DỤC HỌC.

CHUYÊN ĐỀ
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TIỂU HỌC:
“DẠY HỌC TIẾNG VIỆT LỚP 1
THEO CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC VÀ
KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC”

HẢI DƯƠNG – NĂM 2014
LỜI NÓI ĐẦU
Công nghệ hóa quá trình giáo dục, CGD coi giáo dục
là một quá trình sản xuất đặc biệt. Quá trình dạy học là
quá trình làm ra sản phẩm là khái niệm khoa học. Người
học - học sinh - là chủ thể của quá trình, tự làm nên sản
phẩm (khái niệm) do thầy giáo tổ chức hướng dẫn thông
qua mối quan hệ phân công hiệp tác trong “dây chuyền
công nghệ”: Thầy thiết kế - Trò thi công! Điều đó làm
nên ý tưởng đậm chất kỹ thuật của CGD, sau này được gọi
như một khái niệm mới về mặt học thuật là Công nghệ
Học (có thể gọi đó là cái lõi của công nghệ giáo dục).
Bản chất của công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát
quá trình dạy học bằng một Quy trình kỹ thuật được xử lý
bằng giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm.Trong
dạy học, CGD quan tâm đến Cái và Cách. Thay cho mệnh
đề thông thường là dạy học cái gì và dạy học như thế nào,
CGD coi Cái/Cách là cốt lõi của nghiệp vụ sư phạm hiện
đại. Cái vốn là của có sẵn trong xã hội đương thời. Nghiệp
vụ sư phạm chỉ việc chọn lựa, nhặt ra và sắp xếp lại theo
định hướng lý thuyết theo 3 nguyên tắc: Phát triển-Chuẩn
mực-Tối thiểu. Cái là hình thái tồn tại của Đối tượng cũng
đồng thời là Sản phẩm. Cách là quá trình chuyển hóa

VIỆT 1 CGD VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
CĂN BẢN TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VIỆT
NAM
III.HỆ THỐNG VIỆC LÀM TRONG QUY
TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1
CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
IV.VÍ DỤ VỀ ÁP DỤNG KỸ THUẬT DẠY
HỌC TÍCH CỰC
V.Yêu cầu dạy học công nghệ đối với các bậc
cha mẹ.
I.BẢN CHẤT CỦA VIỆC DẠY HỌC
TIẾNG VIỆT LỚP 1.
Về lý luận và thực tiễn
Với tư tưởng Công nghệ hóa quá trình giáo dục, CGD coi
giáo dục là một quá trình sản xuất đặc biệt. Quá trình dạy học
là quá trình làm ra sản phẩm là khái niệm khoa học. Người
học - học sinh - là chủ thể của quá trình, tự làm nên sản phẩm
(khái niệm) do thầy giáo tổ chức hướng dẫn thông qua mối
quan hệ phân công hiệp tác trong “dây chuyền công
nghệ”: Thầy thiết kế - Trò thi công! Điều đó làm nên ý tưởng
đậm chất kỹ thuật của CGD, sau này được gọi như một khái
niệm mới về mặt học thuật là Công nghệ Học (có thể gọi đó là
cái lõi của công nghệ giáo dục).
Bản chất của công nghệ giáo dục là tổ chức và kiểm soát quá
trình dạy học bằng một Quy trình kỹ thuật được xử lý bằng
giải pháp nghiệp vụ hay nghiệp vụ sư phạm.Trong dạy học,
CGD quan tâm đến Cái và Cách. Thay cho mệnh đề thông
thường là dạy học cái gì và dạy học như thế nào, CGD coi
Cái/Cách là cốt lõi của nghiệp vụ sư phạm hiện đại. Cái vốn là
của có sẵn trong xã hội đương thời. Nghiệp vụ sư phạm chỉ

dạy học. Cách là Phương pháp-Kỹ thuật dạy học. Chúng ta có
thể so sánh để thấy được sự khác biệt cả về mặt phương pháp
và mặt kỹ thuật giữa “Thầy giảng giải- Trò ghi nhớ” với một
đằng là “Thầy thiết kế-Trò thi công”.
Bộ sách tiếng Việt lớp 1- Công nghệ giáo dục
2. Về nội dung và nguyên tắc xây dựng chương trình
Môn Tiếng Việt lớp 1.CGD là sự chắt lọc thành tựu từ 3 lĩnh
vực khoa học (triết học, ngữ âm học, tâm lí học). CGD xác
định đối tượng lĩnh hội trong môn Tiếng Việt lớp 1.CGD là
Cấu tạo ngữ âm của tiếng Việt. Để chiếm lĩnh đối tượng một
cách hiệu quả, CGD đã đặt đối tượng trong một môi trường
thuần khiết- chân không về nghĩa. CGD đã xuất phát từ Âm
(Âm thanh, âm vị) để đi đến chữ (kí mã), rồi từ chữ quay về
âm ( giải mã). Dựa trên những thành quả khoa học hiện đại
nhất về ngữ âm học của tác giả Đoàn Thiện Thuật (1977),
CGD đã chắt lọc những vấn đề cơ bản nhất nhằm mang đến
cho trẻ em không chỉ những kiến thức và kĩ năng cần thiết mà
còn giúp trẻ lần đầu tiên đến trường được làm việc một cách
khoa học, phát triển khả năng tối ưu của mỗi cá thể, phát triển
năng lực làm việc trí óc, năng lực sử dụng tiếng Việt hiện đại
một cách có văn hóa thông qua các hoạt động kích thích khả
năng tư duy và khái quát hóa .
Đối tượng của môn Tiếng Việt lớp 1.CGD được chiếm lĩnh
theo con đường từ trừu tượng đến cụ thể, từ đơn giản đến phức
tạp. Bản chất việc dạy Tiếng Việt lớp 1. CGD cho học sinh là
dạy cho học sinh hệ thống khái niệm của một môn khoa học
nhằm giúp các em chiếm lĩnh được tri thức ngữ âm cơ bản
và hình thành các kĩ năng Nghe- Nói- Đọc- Viết tương ứng.
Lần đầu tiên học sinh biết tiếng là một khối âm thanh toàn vẹn
như một “khối liền” được tách ra từ lời nói. Tiếp đó, bằng phát

hình thức tổ chức dạy học hợp lý.
Về phương pháp dạy học: Quy trình Công nghệ bao gồm hai
công đoạn là công đoạn Lập mẫu và công đoạn Dùng mẫu.
Lập mẫu là quá trình T tổ chức cho HS chiếm lĩnh khái niệm
trên một vật liệu xác định. Dùng mẫu là luyện tập với vật liệu
khác trên cùng một chất liệu với công đoạn Lập mẫu. Để thực
hiện quy trình này, T phải sử dụng phương pháp Mẫu. T phải
xuất phát từ Mẫu, phân tích Mẫu và vận dụng Mẫu. Mỗi mẫu
cơ bản trên tương ứng với quy trình của một tiết Lập mẫu.
Dựa trên quy trình của tiết Lập mẫu đó có thể xây dưng nhiều
tiết Dùng mẫu.
Bên cạnh phương pháp Mẫu còn phải kể đến một phương
pháp đặc trưng xuyên suốt quá trình dạy học theo quy trình
công nghệ - phương pháp Việc Làm. Đây là phương pháp dạy
học hoàn toàn mới, xây dựng trên cơ sở sự hợp tác mới giữa
Thầy và Trò. Trong đó, T tổ chức việc học của HS (T không
giảng, chỉ giao việc, hướng dẫn, theo dõi, điều chỉnh) thông
qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các
em tự làm lấy. Điều này thể hiện rất rõ qua toàn bộ thiết kế
TV1.CGD.
Về kĩ thuật dạy học: Kĩ thuật dạy học đã được chuyển giao
thành công nghệ mới. Công nghệ mới chính là quá trình có thể
kiểm soát được. Quá trình này cho ra những sản phẩm đồng
loạt, bảo đảm độ tin cậy một cách chắc chắn.
Đặc biệt quá trình này có thể thực hiện được ở mọi nơi khác
nhau bởi tính phân hoá ưu việt của chương trình và cách kiểm
soát triệt để tới từng cá thể HS.
4. Về cơ chế thức tổ chức và kiểm soát quá trình dạy học
Khác với nền giáo dục cổ truyền, CGD đã xây dựng một quy
trình lôgic, có sự kiểm soát chặt chẽ thông qua hệ thống Việc

Có 4 mức độ đánh giá đối với quá trình chiếm lĩnh đối tượng
của HS:
- Mức 1: làm được
- Mức 2: làm đúng
- Mức 3: làm đẹp
- Mức 4: làm nhanh
Mức 1, 2 là yêu cầu cơ bản, tối thiểu cần đạt cho 100% học
sinh. Mức 3,4 thể hiện sự phân hóa HS rõ nét trong quá trình
dạy học.

II. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA MÔN TIẾNG VIỆT
1 CGD VÀO CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI CĂN BẢN
TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VIỆT NAM
Thực tiễn triển khai đã khẳng định giải pháp Tiếng Việt 1
CGD cho học sinh dân tộc là một giải pháp có kết quả
tốt. Giải pháp này không chỉ cho học sinh mà còn có giá trị
như một giải pháp đổi mới phương pháp giáo dục và
phương pháp quản lý cho giáo viên. Với học sinh, kết quả
học tập không chỉ là Tiếng Việt, mà còn là phương pháp tư
duy ngôn ngữ và các quan hệ học tập hiện đại. Môn Tiếng
Việt lớp 1. CGD thực sự đã có những đóng góp cơ bản vào
công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt
Nam, cụ thể:
1. Một hướng đi- cách làm
CGD đã xác định Hướng đi của mình là Hiện đại hóa nền giáo
dục, với cách làm là Công nghệ hóa. Công nghệ hóa được thể
hiện cụ thể và tường minh bằng việc tổ chức một quy trình dạy
học có kiểm soát cho ra những sản phẩm đồng loạt đảm bảo
yêu cầu mục đích của nền giáo dục hiện đại.CGD đã được
triển khai theo Đề cương 9 điểm nhằm mục đích tạo một cái

dục (vấn đề kĩ thuật). Vấn đề kĩ thuật được chuyển giao thành
công nghệ mới với hai đặc điểm cốt lõi đó là: Ai cũng làm
được và Ai làm cũng có kết quả như nhau. Vì vậy, CGD có
thể thực hiện hiệu quả ở các vùng miền khác nhau từ những
vùng khó với HSDTTS đến HS ở vùng thuận lợi như HS
Thành phố, thị trấn, thị xã…
3. Tiếng nói từ cuộc sống thực tiễn
Đã hơn 35 năm hình thành và phát triển ( 1978- 2013), CGD
đã đi một chặng đường dài đầy thăng trầm. Có thể nói con
đường đó là con đường của những nhà khoa học đầy tâm
huyết, đó là con đường của rất nhiều CBNC và giáo viên say
sưa với sự nghiệp giáo dục. Đó cũng chính là con đường dẫn
đến thành công của bao nhiêu thế hệ học trò CGD. Điểm lại
những điểm mốc chính của hành trình trên con đường CGD,
chúng ta không thể không lắng nghe Tiếng nói từ cuộc sống
thực tiễn, thành quả của môn TV1.CGD là công sức của cả
một tập thể nhà nghiên cứu kiên trì, bền bỉ vì sự nghiệp đổi
mới giáo dục:
Ngay từ năm 1978, khi thành lập cơ sơ nghiên cứu thực
nghiệm phổ thông, môn Tiếng Việt 1.CGD đã được đưa vào
triển khai thực nghiệm mẫu tại trường Thực Nghiệm của
Trung tâm Công nghệ giáo dục. Sau 5 năm thực nghiệm, môn
Tiếng Việt 1.CGD đã đạt được sự ổn định cả về nội dung và
phương pháp.Thành quả đó là cơ sở để Trung tâm CGD thử
nghiệm áp dụng ở các địa phương ( đầu tiên là 12 tỉnh sau đó
mở rộng tới 42 tỉnh và nếu kể cả thực nghiệm ở trung tâm là
43 tỉnh thành).
Tính đến năm 2000, Tiếng Việt 1.CGD đã được tái bản( có
điều chỉnh) tới 17 lần. Số lượng phát hành năm cao nhất chiếm
25% sách lớp 1 cho HS toàn quốc. Sau năm 2000, Tiếng Việt

III.HỆ THỐNG VIỆC LÀM TRONG QUY
TRÌNH DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1
CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
A. CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC
Công nghệ giáo dục(CGD) được GS.TS Hồ Ngọc Đại diễn đạt
bằng công thức:
A ® a
Trong đó: A là thành tựu nền văn minh hiện đại
a là nhân cách trẻ em
® là quy trình công nghệ
Để biến nội dung “A” của nền văn minh hiện đại ở bên ngoài
trẻ em thành cái “a” trong mỗi học sinh, CGD đã phân giải
qúa trình giáo dục (quá trình học tập) làm 3 thành tố:
1. Chủ thể giáo dục (chủ thể học tập): học sinh
2. Đối tượng giáo dục (đối tượng học tập): môn học
3. Hành động giáo dục (hành động học tập): hệ thống việc
làm
Chủ thể học sinh (HS) phát huy tính chủ động, tích cực của
mình dưới sự hướng dẫn của thầy.Từ đó tự hình thành tính
cách cá nhân: nhiệt tình, năng động, tự tin…
Đối tượng học tập là những tri thức phổ thông về toàn bộ
những thành tựu của nền văn hoá nhân loại đạt được ở trình độ
đương đại như khoa học, nghệ thuật, lối sống.
Hành động học tập là hệ thống tuyến tính các Việc làm và các
Thao tác mà trẻ em phải tự mình thực hiện dưới sự hướng dẫn
của thầy để chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng hàm chứa trong mỗi
khái niệm cần học.

B. HỆ THỐNG VIỆC LÀM (HTVL) TRONG QUY
TRÌNH DẠY HỌC CỦA CGD

V4 = T1+ T2+ T3 + + Tn
Sự tường minh không chỉ thể hiện ở cấu trúc của HTVL mà nó
còn thể hiện ở ngay trong kết quả của mỗi Việc làm. Sản phẩm
giáo dục của việc 1 lại là cơ sở, là nền tảng cơ bản để tạo ra
sản phẩm giáo dục cho việc 2. Sản phẩm giáo dục của việc 2
là dựa trờn kết quả của việc 1. Sản phẩm của việc 3 lại là sự
kiểm tra, đánh giá lại kết quả cuẩ sản phẩm trong việc 1 và
việc 2. Sản phẩm cuẩ việc 4 là tổng hợp kết quả cuẩ cả 3 việc
trên. Như vậy, tự trong bản thân mỗi việc làm đã thể hiện sự
kế thừa và phát triển của các khái niệm khoa học.
2. HTVL thể hiện cách xử lý mối quan hệ giữa tính đồng
loạt và tính cá thể
Theo GS.TS Hồ Ngọc Đại: Giải pháp đồng loạt là một bước
tiến của lịch sử giáo dục. Tuy nhiên nếu chỉ xử lí đồng loạt thì
sẽ không phát triển được năng lực của từng cá thể học sinh.
CGD xử lý đồng thời mối liên hệ giữa đồng loạt và cá thể
bằng HTVL do thầy thiết kế, trò thi công tự mình làm ra sản
phẩm giáo dục.
Hình thành khái niệm khoa học hiện đại bằng HTVL được
triển khai bằng hệ thống Thao tác đó cũng là cách vừa đạt
được tri thức khoa học, vừa hình thành cho học sinh năng lực
làm việc trí óc.
HTVL trong quy trình dạy học của CGD được tác giả và nhà
thiết kế xây dựng với mục đích phát huy khả năng trí óc của
từng học sinh. Thông qua các thao tác vật chất (thao tác bằng
tay), các khái niệm được đưa vào đầu óc học sinh một cách
đơn giản, tự nhiên để tư duy (thao tác bằng trí óc).
Trong mỗi việc làm, tác giả và nhà thiết kế phải tính đến khả
năng thực thi của tất cả HS để đảm bảo những kiến thức cơ
bản, tối thiểu cần cung cấp cho cỏc em . Đồng thời họ cũng

Hệ thống khái niệm khoa học được thực hiện bằng một
phương pháp tối ưu dựa trên HTVL và thao tác của chính trẻ
em dưới sự hướng dẫn của giáo viên nhằm đạt tới sự phát triển
cao nhất ở mỗi cá nhân.
Xây dựng HTVL chính là lựa chọn một phương án duy nhất
nhằm đạt được kết quả cao nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status