MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANG MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương I. TỔNG QUAN 2
1.1. Giới thiệu chung về cây Quất 2
1.1.1. Nguồn gốc và phân bố 2
1.1.2. Các vùng ở Việt Nam trồng nhiều Quất 2
1.1.3. Đặc điểm thực vật 2
1.1.4. Công dụng của cây Quất 3
1.2. Tổng quan về tinh dầu 4
1.2.1. Khái niệm về tinh dầu 4
1.2.2. Phân loại các thành phần có trong tinh dầu 4
1.2.3. Tính chất vật lý và hóa học chung của tinh dầu 7
1.2.4. Vai trò của tinh dầu trong đời sống thực vật 7
1.2.5. Sinh tổng hợp tinh dầu trong cơ thể thực vật 10
1.2.6. Ứng dụng của tinh dầu 13
1.3. Các phương pháp sản xuất tinh dầu 13
1.3.1. Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước 14
1.3.2. Các phương pháp khác 17
1.3.2.1. Phương pháp chiết 17
1.3.2.2. Phương pháp ướp 18
1.3.2.3. Phương pháp ngâm 18
1.3.2.4. Phương pháp ép 19
1.4. Các dạng sản phẩm trong quá trình tách chiết tinh dầu 19
1.5. Tình hình nghiên cứu về tinh dầu họ Citrus 20
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 20
3.8.1. Mô tả tính chất cảm quan sản phẩm 41
3.8.2. Kết quả xác định các chỉ số hóa- lý của sản phẩm 42
3.9. Kết quả xác định thành phần hóa học của tinh dầu 43
3.10. Tính toán sơ bộ giá thành sản phẩm trong phòng thí nghiệm 46
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
1. Kết luận 47
2. Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
-i-
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong Khoa Công Nghệ
Thực Phẩm đã hết lòng giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến thức cơ bản về lĩnh
vực công nghệ thực phẩm – là hành trang giúp em trở thành kỉ sư làm việc trong lĩnh
vực công nghệ thực phẩm.
Em vô cùng biết ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô phụ trách Bộ môn
Hóa, phòng thí nghiệm Hóa Cơ bản.
Em xin chân thành cảm ơn TS. Hoàng Thị Huệ An, TS. Vũ Duy Đô đã tận tình
hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện
đề tài NCKH và thầy Vũ Duy Đô trong quá trình làm đồ án tốt nghiệp.
Qua đây, em cũng gởi lời cảm ơn chân thành tới các anh chị - chuyên viên ở
Trung tâm Phân tích thí nghiệm thực hành, Đường số 2 Nguyễn Văn Thủ, Q.1, TP. Hồ
Chí Minh.
Xin cảm ơn gia đình và bạn bè em đã luôn động viên, giúp đỡ và đóng góp
nhiều ý kiến quý báu, giúp em hoàn thiện tốt hơn đề tài tốt nghiệp này.
Nha Trang, ngày 20 tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
PHAN ANH QUỐC
-ii-
DANG MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
-iii-
DANH MỤC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
HÌNH TRANG
Hình 1.1. Hình ảnh cây Quất. 3
Hình 1.2. Hình hoa Quất. 3
Hình 1.3. Cấu trúc phân tử isopren và bộ khung cơ bản của các terpenoid 4
Hình 1.4. Công thức hóa học của một số hợp chất thường có trong tinh dầu.
6
Hình 1.5. Hình ảnh sự tập trung của tinh dầu trong lá. 12
Hình 1.6. Thiết bị chưng cất lôi cuốn hơi nước cổ điển. 14
Hình 2.1. Lá Quất. 22
Hình 2.2. Sơ đồ quy trình dự kiến tách chiết tinh dầu từ lá Quất. 25
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tỉ lệ nuối bổ sung trong nước
ngâm, chiết.
26
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tỉ lệ nước bổ sung. 28
Hình 2.5. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian ngâm nguyên liệu. 29
Hình 2.6. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian chưng cất. 30
Hình 3.5. Quy trình hoàn thiện tách chiết tinh dầu từ lá Quất. 38
ĐỒ THỊ TRANG
Đồ thị 3.1. Ảnh hưởng của tỉ lệ nước/lá Quất đến thể tích và tỉ lệ khối
lượng tinh dầu lá thu được.
33
Đồ thị 3.2. Thể tích và tỉ lệ khối lượng tinh dầu lá thu được khi dùng
này không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự chỉ bảo của quý thầy cô cũng
như sự góp ý kiến từ các bạn sinh viên để đề tài này được hoàn thiện hơn.
Nha Trang, ngày 20 tháng 6 năm 2012
Sinh viên thực hiện
PHAN ANH QUỐC
-2-
Chương I. TỔNG QUAN
1.1. Giới thiệu chung về cây Quất [19]
Quất ở Miền Nam Việt Nam gọi là tắc, danh pháp hai phần: Citrus japonica
(Japonica) là một giống Kim Quất, và là giống hay được trồng nhất trong các giống
Kim Quất.
1.1.1. Nguồn gốc và phân bố [19]
Cây có nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản và chủ yếu được trồng trong chậu
để làm cảnh trong dịp tết cổ truyền của một số nước Châu Á như: Việt Nam, Trung
Quốc, Nhật Bản…
1.1.2. Các vùng ở Việt Nam trồng nhiều Quất
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nên thích hợp cho cây Quất phát triển.
Cây Quất được trồng với mục đích là làm cây cảnh trong ngày Tết cổ truyền của VIệt
Nam. Nó tượng trưng cho sự no ấm, đầy đủ, thịnh vượng nên được nhiều người mua về
làm cảnh trong những ngày Tết.
Có thể nói cây Quất được trồng phổ biến khắp cả nước Chẳng hạn:
- Các tỉnh ở phía Bắc: Hà Nội, Hưng Yên, Nam Định, Hải Phòng, Quãng
Ninh…
- Các tỉnh miền Nam Trung Bộ: Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên…
- Các tỉnh ở Tây Nam Bộ: TP.Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang…
1.1.3. Đặc điểm thực vật [18]
- Cây gỗ nhỏ, phân cành nhiều,có thể tạo dáng dễ dàng.
- Lá đơn, hình tròn hay ovan, nhẵn bóng, hình nêm ở gốc, có thu hẹp hay lõm ở
(như hạt, rễ, củ, vỏ cây, hoa, lá, quả, dầu, nhựa cây) hay động vật (túi tinh dầu). Tinh
dầu có trong các nguồn nguyên liệu trên với nồng độ rất khác nhau, có thể thay đổi từ
phần triệu đến phần trăm. Khối lượng phân tử của các hợp chất có trong tinh dầu vào
khoảng 300 amu. Khác với các loại dầu không bay hơi (glycerid, acid béo), tinh dầu
tương đối dễ bay hơi.
Đa số thành phần chính của các loại tinh dầu đều là các hợp chất terpenoid được
cấu tạo từ các đơn vị isopren (C
5
H
8
) nối với nhau theo quy tắc “đầu nối với đuôi”.
Terpenoid đơn giản nhất được cấu tạo từ 2 đơn vị isopren được gọi là monoterpenoid.
Nếu có nhiều hơn 2 đơn vị isopren thì được gọi là sesquiterpenoid (ứng với 3 đơn vị
isopren), diterpenoid (ứng với 4 đơn vị isopren), triterpenoid (ứng với 6 đơn vị
isopren ). b) Bộ khung terpenoid cơ bản a) Phân tử isopren
Hình 1.3. Cấu trúc phân tử isopren và bộ khung cơ bản của các terpenoid
1.2.2. Phân loại các thành phần có trong tinh dầu
Thành phần tinh dầu được phân loại theo các cách sau:
1.2.2.1. Phân loại theo hàm lượng [5]
Theo cách phân loại này các thành phần trong tinh dầu được chia thành 3 nhóm:
-5-
- Thành phần chính: là thành phần có hàm lượng trên 1%. Thành phần chính
là tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá chất lượng tinh dầu.
- Thành phần phụ: là thành phần có hàm lượng từ 0,1-1%.
- Thành phần vết: là thành phần có hàm lượng không quá 0,1% trong toàn bộ
tinh dầu.
0
ở 25
0
C, nhiệt độ sôi,
năng suất quay cực, màu sắc.
Hầu hết tỷ trọng của các loại tinh dầu thường nhỏ hơn 1, do vậy chúng thường
nhẹ hơn nước. Tuy nhiên, cũng có một vài tinh dầu có khối lượng riêng lớn hơn nước
(như tinh dầu quế, tinh dầu đinh hương…).
Tinh dầu không tan hoặc rất ít tan trong nước nhưng chúng hòa tan tốt trong đa
số các dung môi hữu cơ như eter, cồn
Mặc dù thành phần hóa học của mỗi loại tinh dầu là khác nhau, nhưng nhìn
chung chúng có nhiệt độ sôi khoảng 100
0
C – 200
0
C, dễ bay hơi và có mùi thơm.
Về màu sắc, tinh dầu thường không màu hoặc có màu vàng nhạt. Một số ít tinh
dầu có màu (ví dụ: tinh dầu ngải cứu có màu xanh lơ, tinh dầu quế có màu nâu sẫm) là
do sự có mặt của các hợp chất có màu được lôi kéo theo tinh dầu trong quá trình chiết
xuất (ví dụ: màu xanh do có chlorophyll, màu vàng do có carotenoid,…). Còn mùi và
vị của tinh dầu chủ yếu gây ra do các cấu tử bị oxy hóa.
1.2.3.2. Tính chất hóa học
Các thành phần trong tinh dầu là các hợp chất terpenoid (tức các hydrocarbon
không no) nên chúng dễ bị thủy phân (nhất là ở nhiệt độ cao) và bị phân hủy bởi ánh
sáng thành các hợp chất khác. Vì vậy, người ta thường bảo quản tinh dầu trong những
lọ sẫm màu, có miệng nhỏ và đậy nút kỹ.
1.2.4. Vai trò của tinh dầu trong đời sống thực vật [16]
Vấn đề về vai trò của tinh dầu trong đời sống của cây đã được đề cập tới trong
rất nhiều công trình nghiên cứu. Theo quan niệm được trình bày trong các công trình
khác nhau, vai trò của tinh dầu được quy tụ trong các nội dung sau đây:
-9-
gia tích cực vào quá trình trao đổi chất của cây; do vậy thành phần hóa học của tinh
dầu ở trong cây luôn luôn được đổi mới.
Những năm gần đây, vai trò sinh lý của tinh dầu trong đời sống thực vật được
thống nhất trong hầu hết các tài liệu đã công bố. Tuy nhiên, chức năng cụ thể của từng
hợp chất còn phải được nghiên cứu sâu hơn.
Qua các bằng chứng thực nghiệm, có thể khẳng định chắc chắn rằng, nhiều
thành phần hóa học của tinh dầu, ví dụ một số acid có phân tử lượng thấp, rượu, các
aldehid mạch vòng…là những nguyên liệu khởi đầu để tổng hợp hàng loạt các chất có
hoạt tính sinh học. Trong thành phần của tinh dầu, có thể gặp hàng loạt các chất khởi
nguyên nói trên: các acid hữu cơ thường gặp gồm: acid acetic, acid valerianic, acid
isovalerianic …, và các rượu tương ứng với chúng; ngoài ra còn thường gặp các
aldehid, các ester, một số terpenoid như geraniol, linalool, pharnesol, nerolydol… Đó
là những hợp chất liên quan tới nhiều kiểu cấu trúc hóa học khác nhau và tham gia vào
các hệ thống đồng hóa khác nhau. Trong thành phần tinh dầu còn thường thấy các hợp
chất có nhân thơm như aneton, pheniletilnol, benzaldehid, vanilin, thậm chí cả các hợp
chất có chứa nitơ và lưu huỳnh. Vì vậy không thể lý giải vai trò của tinh dầu một các
chung chung hoặc nhìn nhận vấn đề chỉ trong một vài giả thuyết cụ thể nào đó. Để
đánh giá chính xác vai trò của tinh dầu trong hoạt động sống ở cây, cần phải tiến hành
nghiên cứu từng thành phần riêng lẻ của tinh dầu hoặc các hợp chất có cấu trúc gần
nhau.
Hiện nay, các bằng chứng xác đáng chủ yếu tập trung vào sự tham gia của các
thành phần tinh dầu trong quá trình trao đổi chất, có nghĩa là tinh dầu tham gia vào các
quá trình sinh lý hóa bên trong tế bào. Và nhiều kết quả nghiên cứu gần đây đã chứng
minh rằng, một số dạng terpenoid của tinh dầu như các geraniol, linalool, farnesol …
thường có mặt trong hầu hết các cơ thể sống ở tất cả các mức độ tiến hóa khác nhau, từ
các vi sinh vật, các loài thực vật bậc thấp, thực vật bậc cao, đến cả động vật cũng như
con người. Các terpen được hình thành từ 2,3 hoặc nhiều phân tử isopren (C
5
H
nghiên cứu nào nghi ngờ giả thuyết này, tuy nhiên không ít vấn đề liên quan còn chưa
được sáng tỏ hoàn toàn. Trước hết, khi thừa nhận vai trò sinh học của tinh dầu trong
-11-
đời sống thực vật, đồng thời cũng thừa nhận có sự vận chuyển tinh dầu từ trong cấu
trúc tiết ra các mô xung quanh để tham gia vào các quá trình chuyển hóa, vậy tại sao
không có sự vận chuyển ngược lại?.
Nhiều năm trở lại đây, hầu hết các nhà nghiên cứu theo hướng này đều tập trung
làm sáng tỏ sự định khu của các phản ứng. Vấn đề dễ thừa nhận là sự tổng hợp tinh dầu
là một quá trình bao gồm hàng loạt các phản ứng hóa học. Tùy theo mức độ phức tạp
của cấu trúc, mỗi hợp chất có thể phải trải qua nhiều phản ứng hóa học khác nhau.
Mỗi phản ứng cần một hệ thống men xác định, vì vậy nghiên cứu sự có mặt của
các hệ men cụ thể ở các cơ quan khác nhau có thể là cơ sở để nghiên cứu sự định khu
của các phản ứng. Cho đến nay, vẫn tồn tại hai quan điểm về sự định khu của các phản
ứng tổng hợp:
- Đa số các tác giả khi nghiên cứu quá trình sinh tổng hợp tinh dầu đã cho rằng
mỗi hợp chất được tổng hợp ở một cơ quan nhất định. Điều đó có nghĩa là ở mỗi cơ
quan tử có thể bao gồm một hệ thống men đảm bảo cho một loạt phản ứng xảy ra.
- Một số tác giả khác lại đề xuất giả thuyết “dây chuyền phản ứng”. Theo quan
điểm này, mỗi hợp chất trước khi được đưa vào tích lũy trong khoang chứa cần phải
qua các phản ứng ở nhiều cơ quan tử khác nhau. Giả thuyết này dựa trên sự có mặt rất
hạn chế các hệ men ở các cơ quan khác nhau. Từ những số liệu trên, các nhà nghiên
cứu cho rằng mỗi cơ quan tử chỉ phụ trách một hoặc một số ít các phản ứng hóa học
xác định và quá trình tổng hợp các hợp chất xảy ra theo một dây chuyền liên tục từ cơ
quan tử này sang một cơ quan tử khác.
Mặc dù các vấn đề được đặt ra còn có nhiều bất đồng, song những nghiên cứu
đều khẳng định rằng, tất cả các phản ứng tổng hợp đều xảy ra trên bề mặt của màng các
cơ quan tử và tế bào. Đồng thời cũng thống nhất rằng, hệ thống ống nội bào có nhiệm
vụ thu hồi và vận chuyển các hợp chất tinh dầu tới khoang chứa.
Ở mỗi cơ quan của thực vật, trong các giai đoạn phát triển khác nhau, các quá
trình tổng hợp và biến đổi của tinh dầu xảy ra không như nhau. Điều này giải thích sự
trị bệnh cũng khác nhau, có loại tác dụng lên hệ thần kinh trung ương, có loại lại kích
thích dịch tiêu hóa, dịch dạ dày, dịch ruột và dịch mật. Vì vậy, chúng được điều chế
thành thuốc chữa trị các bệnh về đường hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, chữa đau bụng,
nôn mửa, xoa bóp các chỗ đau, giảm mệt mỏi và kích thích hoạt động của cơ bắp. Ví
dụ: tinh dầu bạc hà có hàm lượng mentol cao có tác dụng kích thích các đầu dây thần
kinh, gây cảm giác lạnh và giảm đau tại chỗ do đó được dùng làm chế phẩm cao xoa,
dầu xoa; tinh dầu hương nhu cung cấp eugenol dùng làm thuốc sát trùng, thuốc giảm
đau, chất dùng trong việc trám răng tạm thời; tinh dầu thuộc họ cam quýt dùng làm
thuốc kích thích tiêu hóa, trị cảm
1.2.6.3. Trong công nghiệp sản xuất mỹ phẩm
Ngày nay, ngành công nghiệp mỹ phẩm phát triển rất mạnh, tinh dầu không
những được sử dụng trực tiếp trong các spa cao cấp mà chúng còn là nguồn nguyên
liệu chủ yếu để sản xuất các sản phẩm như: nước hoa, kem đánh răng, xà phòng thơm,
dầu gội đầu, các loại kem dưỡng da, son môi
1.3. Các phương pháp sản xuất tinh dầu [4, 5, 14]
Hiệu suất và chất lượng tinh dầu cần tách phụ thuộc vào đặc tính lý-hóa của tinh
dầu cần tách, bộ phận mà chất thơm chứa trong nguyên liệu và phương pháp chiết xuất.
-14-
Các phương pháp chiết xuất tinh dầu thông dụng là chưng cất, chiết, ướp ngâm và ép.
1.3.1. Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước (Hydrodistillation)
1.3.1.1. Nguyên lí của phương pháp
Đây là phương pháp đầu tiên được dùng để tách tinh dầu ra khỏi nguyên liệu
thực vật. Cơ sở của phương pháp này là nhiệt độ sôi của hỗn hợp sẽ thấp hơn nhiệt độ
sôi của các cấu tử thành phần. Do đó, khi chưng cất hơi nước các cấu tử tinh dầu sẽ
được tách ra ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ sôi của nước, vì vậy sẽ hạn chế sự biến tính
hóa học (sự oxy hóa, nhiệt phân ) các cấu tử tinh dầu. Trong quá trình chưng cất, hơi
nước sẽ được thẩm thấu vào các mô nguyên liệu, sau đó sẽ hòa tan, khuếch tán và lôi
cuốn theo các hợp chất hữu cơ trong thành phần tinh dầu. Dịch chưng cất sẽ gặp lạnh
tại ống sinh hàn và được ngưng tụ và phân tách thành 2 lớp (lớp tinh dầu bên trên và
lớp nước ở bên dưới) trong hệ thống ngưng tụ. Sự khuếch tán sẽ dễ dàng khi tế bào
quả chưng cất ngược lại.
b) Sự thủy phân
Những cấu phần este trong tinh dầu dễ bị thủy phân cho ra acide và alcol khi
đun nóng trong một thời gian dài với nước. Do đó, để hạn chế hiện tượng này, sự
chưng cất hơi nước phải được thực hiện trong một thời gian càng ngắn càng tốt.
c) Nhiệt độ
-16-
Nhiệt độ cao sẽ làm phân hủy tinh dầu. Do đó, khi cần thiết phải dùng hơi nước
quá nhiệt (trên 100
0
C) nên thực hiện việc này trong giai đoạn cuối cùng của sự chưng
cất, sau khi các cấu phần dễ bay hơi đã lôi cuốn đi hết. Thực ra, hầu hết các tinh dầu
đều kém bền dưới tác dụng của nhiệt nên vấn đề là làm sao cho thời gian chịu nhiệt độ
cao của tinh dầu càng ngắn càng tốt.
Tóm lại, dù 3 ảnh hưởng trên được xem xét độc lập nhưng thực tế thì chúng có
liên quan với nhau và quy về ảnh hưởng của nhiệt độ. Khi tăng nhiệt độ, sự khuếch tán,
thẩm thấu sẽ tăng, sự hòa tan tinh dầu trong nước sẽ tăng nhưng sự phân hủy cũng tăng
theo.
1.3.1.3. Ưu nhược điểm của phương pháp
a. Ưu điểm
- Phương pháp này đơn giản dễ làm.
- Thiết bị rẻ tiền, gọn và dễ chế tạo.
- Phù hợp với những cơ sở sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ít.
- Quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản.
- Không đòi hỏi vật liệu phụ như các phương pháp tẩm trích, hấp thụ.
- Thời gian chưng cất tương đối nhanh.
b. Nhược điểm
Phương pháp này có nhược điểm như:
- Hiệu suất thấp.
- Chất lượng tinh dầu không cao do nguyên liệu tiếp xúc trực tiếp với thiết bị
Không có tác dụng hóa học với tinh dầu.
Không biến chất khi sử dụng lại nhiều lần.
Hoàn toàn tinh khiết, không có mùi lạ, không độc, không ăn mòn thiết bị,
không tạo thành hỗn hợp nổ với không khí và có độ nhớt kém.
Nhiệt độ sôi thấp vì khi chưng cất dung dịch ly trích để thu hồi dung môi,
nhiệt độ sôi cao sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu.
-18-
Ngoài ra, cần có thêm những yếu tố phụ khác như: giá thành thấp, nguồn
cung cấp dễ tìm, …
Thường thì không có dung môi nào thỏa mãn tất cả những điều kiện kể trên.
Người ta sử dụng cả dung môi không tan trong nước (như dietyl ete, ete dầu hỏa,
hexan, cloroform…) lẫn dung môi tan trong nước (như etanol, axeton…). Trong một số
trường hợp cụ thể, người ta còn dùng một hỗn hợp dung môi.
b. Ưu và nhược điểm của phương pháp
- Ưu điểm: Sản phẩm thu được theo phương pháp này thường có mùi thơm tự
nhiên. Hiệu suất sản phẩm thu được thường cao hơn các phương pháp khác.
- Khuyết điểm: Yêu cầu cao về thiết bị, thất thoát dung môi, quy trình tương đối
phức tạp.
1.3.2.2. Phương pháp ướp (Enfleurage)
Cơ sở của phương pháp dựa trên hiện tượng hấp phụ chất thơm bởi các chất béo
dạng lỏng hay rắn (vaselin, parafin, dầu oliu hoặc mỡ động vật) đã tinh chế. Người ta
dùng các khay sâu 8cm, rộng 60cm, dài 100cm đáy là mặt kính có phủ lớp chất béo để
hấp phụ chất thơm. Các khay có thể xếp chồng lên nhau, trên mặt khay xếp đều nguyên
liệu để trích hương và để yên trong khoảng từ 12-72 giờ tùy từng loại nguyên liệu, sau
đó thay lớp nguyên liệu mới và để hấp phụ từ 10-15 lần cuối cùng thu được chất béo có
mùi thơm. Đem lắc chất béo với etanol cao độ để trích ly tinh dầu, sau đó để lạnh -
10
0
C để loại bỏ hết chất béo bị kéo theo rồi cô đuổi etanol dưới áp suất thấp để thu tinh
dầu. Kỹ thuật này thuờng được dùng để chiết hương thơm của các loài hoa để thu sản
1.4. Các dạng sản phẩm trong quá trình tách chiết tinh dầu
- Tinh dầu dạng cô kết (Concrete oil): thu được từ phương pháp ngâm chiết
tĩnh, chủ yếu là dùng để sản xuất tinh dầu thô. Đây là sản phẩm chưa loại sáp và chất
béo, có dạng sệt có thể được sử dụng trực tiếp.
- Tinh dầu tinh khiết (Absolute oil): được thu bằng cách chiết kiệt những sản
phẩm cô kết bằng một lượng etanol vừa đủ rồi làm lạnh đột ngột (-5 đến -10
0
C) để tủa
và lọc để loại sáp và chất béo. Phần dịch thu được đem cô quay chân không loại etanol
thu được tinh dầu tinh khiết.