BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
KHOA CƠNG NGHỆ THỰC PHẨM
NGUYỄN THỊ HẰNG NGHIÊN CỨU TÁCH CHIẾT TINH DẦU TỪ
LÁ CHANH BẰNG PHƯƠNG PHÁP
CHƯNG CẤT LÔI CUỐN HƠI NƯỚC ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chun Ngành: CƠNG NGHỆ THỰC PHẨM
GVHD: TS. MAI THỊ TUYẾT NGA Nha Trang, tháng 07 năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi tới Ban giám hiệu Trường Đại Học Nha Trang, Khoa Công Nghệ
Thực Phẩm, Phòng đào tạo Trường Đại Học Nha Trang sự kính trọng, lòng biết ơn
1.2. Tổng quan về tinh dầu - 4 -
1.2.1. Khái niệm về tinh dầu - 4 -
1.2.2. Phân loại các thành phần có trong tinh dầu - 5 -
1.2.1.1. Phân loại theo hàm lượng - 5 -
1.2.2.2. Phân loại theo tính chất vật lý - 6 -
1.2.2.3. Phân loại theo bản chất hóa học - 6 -
1.2.3. Tính chất vật lý và hóa học của tinh dầu - 8 -
1.2.3.1. Tính chất vật lý - 8 -
1.2.3.2. Tính chất hóa học - 8 -
1.2.4. Vai trò của tinh dầu trong cuộc sống thực vật - 8 -
1.2.5. Sinh tổng hợp tinh dầu trong cơ thể thực vật - 11 -
1.2.6. Hoạt tính sinh học và công dụng của tinh dầu - 13 -
1.3. Các phương pháp trích ly tinh dầu - 15 -
1.3.1. Phương pháp cơ học - 15 -
1.3.2. Phương pháp tẩm trích. - 16 -
1.3.3. Phương pháp hấp thụ - 16 -
ii
1.3.4. Phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước - 16 -
1.3.4.1. Lý thuyết chưng cất - 16 -
1.3.4.2. Những ảnh hưởng chính trong sự chưng cất lôi cuốn hơi nước - 17 -
1.3.4.3. Ưu nhược điểm của phương pháp - 18 -
1.3.5. Các phương pháp mới trong trích ly tinh dầu - 19 -
1.3.5.1. Dung môi dioxit cacbon - 19 -
1.3.5.2. Vi sóng - 19 -
1.4. Các dạng sản phẩm trong quá trình tách chiết tinh dầu - 20 -
1.5. Tình hình nghiên cứu về tinh dầu họ Citrus…………………………… 21 -
1.5.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới - 21 -
1.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước - 21 -
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - 23 -
3.7. Kết quả xác định tỷ lệ khối lượng tinh dầu - 44 -
3.8. Kết quả đánh giá tính chất cảm quan và xác định các chỉ số hóa lý của sản
phẩm - 45 -
3.8.1. Tính chất cảm quan của sản phẩm - 45 -
3.8.2. Kết quả xác định các chỉ số hóa - lý của sản phẩm - 45 -
3.9. Kết quả xác định thành phần hóa học của tinh dầu - 46 -
3.10. Tính toán sơ bộ chi phí nguyên vật liệu - 48 -
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ - 49 -
1. Kết luận - 49 -
2. Kiến nghị - 49 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 50 -
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT
TIẾNG ANH
TIẾNG VIỆT
GC
Gas chromatography
Sắc kí khí
GC-MS
Gas chromatography-Spectroscpy
Sắc kí khí ghép phối
phổ
Min
Minute
Phút
v/w
phòng thí nghiệm - 48 -
vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH
TRANG
Hình 1.1. Cây Chanh - 2 -
Hình 1.2. Cấu trúc phân tử isopren và bộ khung cơ bản của terpenoid - 5 -
Hình 1.3. Công thức hóa học của một số hợp chất thường có trong tinh dầu……- 7 -
Hình 2.1. Lá Chanh - 23 -
Hình 2.2. Sơ đồ quy trình dự kiến tách chiết tinh dầu từ lá Chanh - 25 -
Hình 2.3. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tỷ lệ muối bổ sung trong nước ngâm
chiết - 26 -
Hình 2.4. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định tỷ lệ nước bổ sung - 28 -
Hình 2.5. Sơ đồ bố trí thí nghiệm xác định thời gian ngâm nguyên liệu - 29 -
Hình 2.6. Sơ đồ bố trí thì nghiệm xác định thời gian chưng cất - 30 -
Hình 3.1. Ảnh hưởng của nồng độ muối NaCl trong nước ngâm, chiết tới thể tích
tinh dầu lá thu được - 33 -
Hình 3.2. Ảnh hưởng của tỷ lệ nước/lá Chanh đến thể tích tinh dầu thu được - 35 -
Hình 3.3. Ảnh hưởng của thời gian ngâm mẫu đến thể tích tinh dầu lá thu được- 37 -
Hình 3.4. Tỷ lệ khối lượng tinh dầu thu được trong các thời gian chưng cất khác
nhau - 39 -
Hình 3.5. Quy trình hoàn thiện tách chiết tinh dầu từ lá Chanh - 41 -
- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
Tinh dầu thiên nhiên hiện nay là một sản phẩm khá thông dụng trên thị trường.
Chanh là một loài cây nhỏ, cao từ 1m đến 3m. Thân có nhiều cành, có gai. Lá
nhỏ hình trứng , có màu xanh lục dài từ 3cm đến 8cm, rộng từ 3cm đến 5cm mép lá
hình răng cưa hoặc trơn. Hoa có màu trắng mọc đơn độc hoặc từng chùm từ 3 đến
10 hoa. Quả có đường kính từ 3cm đến 6cm có hình ovan. Vỏ quả có màu xanh, khi
chín có thể chuyển màu vàng. Quả có múi, dịch quả có vị rất chua, hột có diệp tử
trắng. Trong vỏ và lá Chanh chứa nhiều tinh dầu. Hình 1.1. Cây Chanh
1.1.2. Phân bố và đặc điểm sinh thái, sinh trƣởng [20]
Cây Chanh Citrus aurantifolia Swingle có nguồn gốc từ miền bắc Ấn Độ và
vùng tiếp giáp với Myanma và phía bắc Malaysia, Trung Quốc. Hiện nay Chanh
được trồng phổ biến trên thế giới đặc biệt là các nước có khí hậu nhiệt đới.
Về mặt sinh thái học cây Chanh cũng như hầu hết các loài trong họ Citrus đều
không chịu được giá rét. Chúng ưa khí hậu nóng ẩm, lượng mưa hay lượng nước
- 3 -
tưới đủ lớn. Chanh được trồng nhiều trên các vùng đất ẩm, trên các vùng đất thấp
hoặc trên các khu vực đồi núi cao hơn 1000m so với mực nước biển. Chanh rất
nhạy cảm với vùng đất lạnh nhưng lại có sức chống chịu rét rất khỏe. Chanh có thể
sinh trưởng trên các vùng đất nghèo chất dinh dưỡng và có sức chống chịu khỏa
hơn một số cây trong họ Citrus như cam, quýt…Chanh là cây có tán lá rộng và
không rụng lá theo mùa. Chúng ra hoa vào mùa xuân và tạo quả trong một thời gian
ngắn sau đó, quả chín vào mùa thu hoặc đông.
Chanh mọc từ hạt thường sinh trưởng khỏe hơn so với Chanh chiết từ cành
của cây Chanh mẹ, nhưng với Chanh mọc từ hạt thì thường trồng 5 năm mới ra hoa,
kết trái. Các chồi mọc từ rễ hoặc chồi vượt thường có nhiều gai dài, nhọn. Hoa
thường thụ phấn bằng côn trùng, đặc biệt là ong mật, chúng cũng có thể tự thụ phấn
song hiệu quả không cao. Thời gian từ khi hoa nở đến khi thụ phấn và cho quả thu
hoạch khoảng từ 5 tháng đến 6 tháng. Tại các tỉnh phía Bắc nước ta Chanh thường
ăn ngon miệng và giúp tinh thần con người sảng khoái. Dịch Chanh có tác dụng
thanh nhiệt, chống viêm, lợi tiểu, cầm máu, chữa cảm sốt, thiếu vitamin C, ngậm
Chanh với nước muối có tác dụng chống ho, giải rượu…Dịch nước quả Chanh còn
được dùng trong sản xuất axit citric, trong ngành công nghệ thực phẩm, tinh dầu vỏ
Chanh được ứng dụng nhiều trong y học, thực phẩm…
Hạt Chanh: chứa dầu béo và chất đắng lemonin. Có thể góp phần chữa các
bệnh về ho, táo bón, rắn cắn…
Hoa Chanh: hoa Chanh được sử dụng nhiều trong y học, có tác dụng long
đờm, lợi tiểu, giải nhiệt, trị các cơn đau co thắt và thuốc giúp ăn ngon miệng, dễ tiêu
hóa, an thần. Chính vì thế hoa Chanh được sử dụng để chữa các bệnh đau đầu, cảm
cúm, ho, căng thẳng thần kinh.
1.2. Tổng quan về tinh dầu [2, 6, 8, 10, 16, 17]
1.2.1. Khái niệm về tinh dầu
Tinh dầu là hỗn hợp của các hợp chất hữu cơ có đặc tính chung là dễ bay hơi,
thường có mùi thơm, có nguồn gốc chủ yếu từ một số bộ phận của thực vật (như
hạt, rễ, củ, vỏ cây, hoa, lá, quả, dầu, nhựa cây) hay động vật (túi tinh dầu), tinh dầu
có thể thu được bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn theo hơi nước. Vai trò của
- 5 -
tinh dầu đối với cây cỏ chưa được biết rõ, nhưng đáng chú ý là những cây có tinh
dầu đều không có ancaloit và ngược lại. Từ đó người ta cho rằng tinh dầu có vai trò
như là chất thải để giải độc cho cây và góp phần bảo vệ cây cũng như ancaloit. Tinh
dầu trong mỗi nguyên liệu khác nhau thì cũng có nồng độ khác nhau.
Đa số thành phần chính của các loại tinh dầu đều là các hợp chất terpenoid
được cấu tạo từ các đơn vị isopren (C
5
H
8
) nối với nhau theo quy tắc “đầu nối với
đuôi”. Terpenoid đơn giản nhất được cấu tạo từ 2 đơn vị isopren được gọi là
Các hợp chất trong tinh dầu được chia thành các nhóm:
- Monoterpen mạch hở (ví dụ: myrcen, ocimen).
- Monoterpen mạch vòng (ví dụ: p-cymen, pinen, sabinen).
- Monoterpen mạch hở bị oxy hóa (như farnesol, linalool, neral).
- Monoterpen mạch vòng bị oxy hóa (như terpineol, geraniol).
- Sesquiterpen mạch hở (ví dụ: farnesen).
- Sesquiterpen mạch vòng (ví dụ: copaen, humulen).
- Sesquiterpen mạch hở bị oxy hóa (như nerolidol).
- Sesquiterpen mạch vòng bị oxy hóa (như nootkaton, spathulenol).
- Các hợp chất thơm (ví dụ: indol).
- Các hydrocarbon mạch dài (như tetradecanal, dodecanal).
- 7 -
Hình 1.3. Công thức hóa học của một số hợp chất thƣờng có trong tinh dầu
- 8 -
1.2.3. Tính chất vật lý và hóa học của tinh dầu [6, 16]
1.2.3.1. Tính chất vật lý
Để xác định tính chất vật lý của tinh dầu, thông thường người ta tiến hành xác
định các chỉ số như tỷ trọng, chiết suất, tỷ lệ hòa tan trong cồn 90
O
ở 25
O
C, nhiệt độ
- Biến đổi sức căng bề mặt của nước trong cây, thúc đẩy sự vận chuyển nước,
tăng hiệu quả của các phản ứng enzim.
Theo Charabot cho rằng tinh dầu đóng vai trò như các chất dự trữ trong cây,
nó có khả năng vận chuyển đến các phần khác nhau của cây, tại đây tinh dầu được
sử dụng như một nguồn năng lượng hay tạo thành các sản phẩm mới có cấu trúc gần
với nó.
Theo quan điểm của Tschirch (1925) trong đời sống của cây, tinh dầu giữ vai
trò quan trọng (tuy nhiên, theo tác giả chưa thể biết rõ đó là vai trò gì) và vì vậy
không nên xếp tinh dầu vào nhóm các chất tiết một cách tuyệt đối.
Khác với Charabot, Tschirch cho rằng đôi khi tinh dầu được “lưu giữ lại”
trong các bể chứa tinh dầu và không tham gia vào các phản ứng tiếp theo.
Theo Coxtrisep X. P. (1937) cho rằng tinh dầu có thể được xếp vào 2 nhóm
chức năng:
- Nhóm các tinh dầu có chức năng sinh lý được cây sử dụng trong quá trình
sinh trưởng.
- Nhóm các tinh dầu không có chức năng sinh lý, không được cây sử dụng,
chúng đơn thuần chỉ là các chất tiết của cơ thể và được tích lũy trong các bể chứa
tinh dầu.
Như vậy, theo quan điểm này, các thành phần của tinh dầu được tích lũy trong
tuyến tiết không có vai trò sinh lý trong hoạt động sống của cây. Trong khi đó theo
quan điểm thông thường, tinh dầu thực vật chính là sản phẩm của quá trình tổng
hợp và tích lũy do các cơ quan tiết đảm nhiệm.
Những năm sau này, khi dùng carbon đánh dấu để nghiên cứu quá trình
chuyển hóa tinh dầu trong cơ thể sống, Mutxtiatse (1985) đã chứng minh rằng, các
thành phần tinh dầu được tích lũy trong tuyến tiết không phải là các chất tiết cố định
mà còn tham gia tích cực vào quá trình trao đổi chất của cây; do vậy thành phần hóa
học của tinh dầu ở trong cây luôn luôn được đổi mới.
Những năm gần đây, vai trò sinh lý của tinh dầu trong đời sống thực vật được
- 10 -
- 11 -
chứng minh được các chuỗi carbon trong các phân tử geraniol, linalool, farnesol và
nerolidol là những sản phẩm trung gian chủ yếu trong quá trình sinh tổng hợp các
terpenoid có hoạt tính sinh học như các phyton, hocmon steroid, acid mật, các
vitamin D, vitamin K, vitamin E, các carotenoid, các chất kích thích sinh trưởng
thuộc nhóm giberilin…Một số hợp chất thường gặp trong thành phần của tinh dầu
như linalool, farnesol, nerolidol…luôn có mặt trong hầu hết các hoạt động sống của
cây.
1.2.5. Sinh tổng hợp tinh dầu trong cơ thể thực vật [18]
Hiện tồn tại hai giả thuyết về quá trình tổng hợp và tích lũy tinh dầu:
- Một số tác giả cho rằng tinh dầu được tổng hợp ở các tế bào không phụ thuộc
cấu trúc tiết và chuyển dần vào tuyến tiết. Theo quan điểm này, cấu trúc tiết được
coi như cơ quan đảm nhận vai trò tích lũy sản phẩm. Cơ sở của giả thuyết trên chủ
yếu dựa trên các kết quả quan sát thấy sự có mặt của một số giọt tinh dầu và một số
men tham gia vào quá trình tổng hợp tinh dầu ở các tế bào nằm ngoài tuyến tiết.
Liên quan tới giả thuyết nói trên, nhiều nhà khoa học đã chứng minh mối liên quan
trực tiếp giữa tinh dầu với các hợp chất hữu cơ khác trong mô thực vật: lignin,
glucosid …
- Những năm sau này, với các phương tiện nghiên cứu hiện đại, hầu hết các tác
giả đã thừa nhận rằng, cấu trúc tiết là cơ quan chuyên hóa làm nhiệm vụ tổng hợp
và tích lũy tinh dầu. Theo quan điểm này, các tế bào tiết (nằm trong thành phần cấu
trúc tiết) làm nhiệm vụ tổng hợp tinh dầu, và theo một cơ chế nào đó, tinh dầu được
vận chuyển, tập trung ở cấu trúc chuyên biệt gọi là khoang chứa tinh dầu. Bằng
chứng của giả thuyết này được các tác giả nêu ra bởi sự có mặt đầy đủ tất cả các hệ
men tham gia tổng hợp tinh dầu trong các tế bào của cấu trúc tiết. Cho đến nay hầu
như không có nhà nghiên cứu nào nghi ngờ giả thuyết này, tuy nhiên không ít vấn
đề liên quan còn chưa được sáng tỏ hoàn toàn. Trước hết, khi thừa nhận vai trò sinh
học của tinh dầu trong đời sống thực vật, đồng thời cũng thừa nhận có sự vận
chuyển tinh dầu từ trong cấu trúc tiết ra các mô xung quanh để tham gia vào các quá
Quá trình tổng hợp tinh dầu được điều khiển chặt chẽ bởi hệ thống gen, tuy
nhiên hoạt hóa các tổ hợp gen lại có mối liên quan khá chặt chẽ với điều kiện ngoại
- 13 -
cảnh. Vì vậy, quá trình tổng hợp tinh dầu trong cây là kết quả của hiệu ứng “kiểu
gen –môi trường”. Nguyên liệu cho quá trình sinh tổng hợp tinh dầu trong cây từ
lâu đã được thừa nhận là các sản phẩm của quá trình quang hợp và sự tổng hợp tinh
dầu cũng chỉ xảy ra trong điều kiện được chiếu sáng. Song gần đây, người ta cũng
đã chứng minh được rằng quá trình tổng hợp tinh dầu cũng có thể xảy ra cả trong
điều kiện không có ánh sáng và trong trong trường hợp này rõ ràng nguyên liệu cho
quá trình tổng hợp là các sản phẩm trung gian của quá trình hô hấp.
Sự tổng hợp tinh dầu trong cây là một quá trình vô cùng phức tạp và đây cũng
là vấn đề còn nhiều tranh cãi và cần phải nghiên cứu tiếp tục trong thời gian tới.
1.2.6. Hoạt tính sinh học và công dụng của tinh dầu [8, 19, 20]
Hoạt tính sinh học của tinh dầu bao gồm hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm,
kháng oxi hóa, kháng sự nảy mầm của khoai tây đã được nghiên cứu rất nhiều trên
các loại tinh dầu khác nhau.
Tinh dầu được dùng làm hương liệu trong công nghiệp thực phẩm, dược phẩm
và mỹ phẩm. Ví dụ: Tinh dầu Bạch đàn Chanh được sử dụng trong kỹ nghệ nước
hoa. Menthol có trong tinh dầu bạc hà (Mentha arvensis L., thuộc họ Hoa môi -
Lamiaceae) trong y học dùng làm thuốc giảm đau, chữa chứng đau nửa đầu, chữa
cảm lạnh, nóng sốt, chống buồn nôn do say tàu xe. Kháng viêm, khử trùng mạnh.
Thanh lọc không khí, khử mùi. Xua đuổi muỗi và côn trùng. Trong công nghiệp
tinh dầu bạc hà dùng vào thành phần của các mỹ phẩm giúp da mịn màng, làm se lỗ
chân lông. Tinh dầu hoa hồng làm mỹ phẩm phục hồi làn da bị lão hóa, giảm các
nếp nhăn. Làm da trắng sáng hơn. Cung cấp độ ẩm cho làn da khô. Làm thuốc giảm
cơn đau đầu, căng thẳng, giảm nhức mỏi cơ. Giúp ngủ ngon, ngủ sâu, tăng cường trí
nhớ. Kháng viêm, khử trùng, khử mùi. Campho trong cây Long não hay Dã hương
(Cinnamomum camphora), cây Đại bi (Blumea balsamifera) được dùng làm thuốc
trợ tim, để điều trị bong gân, sưng và viêm. Các hợp chất tritecpen trong cây Đinh
những hiệu quả về mặt sinh lý hóa, từ đó có thể làm cho mức độ căng thẳng giảm
xuống một cách đáng kể. Linalool còn dùng để diệt Bọ chét, Gián…
Các hợp chất secquitecpen lacton trong tinh dầu chiếm một vị trí quan trọng
trong lĩnh vực nghiên cứu do tác dụng độc tế bào, kháng ung thư, kháng trùng, diệt
côn trùng và diệt nấm của chúng. Đa số có vị đắng và có mùi khó chịu nên động vật
ăn cỏ và sâu bọ không ưa thích.
Artemisinin trong cây thanh hao hoa vàng (Artemisia annua) đã được sử dụng
để điều trị nhiễm ký sinh trùng đường ruột, trĩ chống viêm và làm thuốc chống sốt rét.
- 15 -
Tinh dầu Chanh được ứng dụng rộng rãi trong các ngành thực phẩm (như sản
xuất nước giải khát, bánh kẹo, đồ hộp, gia vị…), dược phẩm, hương liệu…Các cấu
phần dễ bay hơi trong tinh dầu Chanh đóng vai trò hàng đầu trong công nghệ sản
xuất các loại nước hoa và xà phòng thơm nổi tiếng trên thế giới như nước hoa
English Lavander, Chanel No.5. Trong các loại nước giải khát có gas, các loại thức
uống nhẹ đề không thể thiếu được mùi vị của tinh dầu Chanh, tinh dầu Chanh cũng
được sử dụng như một thành phần không thể thiếu trong các sản phẩm dưỡng da,
giữ ẩm da…
Tinh dầu vỏ Chanh và lá Chanh chứ limonen, citral là tiền chất quan trọng để
bán tổng hợp ra các chất có giá trị hơn trong ngành hương liệu như carvon,
ionon…tinh dầu Chanh cũng được sử dụng trong các sản phẩm gia đình như nước
rửa chén, nước khử mùi…
Trong tinh dầu họ Citrus ngoài các hợp chất chính là terpen cùng một số hợp
chất khác thuộc nhóm sesquiterpen trong tinh dầu của nhiều loại Cam, Chanh, Quýt
còn có một số hợp chất chứa oxigen (acol, adehit, ester). Các hợp chất chứa oxigen
dễ hòa tan trong nước và rượu có độ cồn thấp đồng thời có vị mát dịu, hấp dẫn của
hoa quả tươi. Do đó được sử dụng nhiều trong các lĩnh vực sản xuất nước hoa, kem
đánh răng, xà phòng thơm, dầu chải tóc, nguyên liệu dược phẩm và thực phẩm…
Ngoài tinh dầu trên các cơ quan thực vật của các loài thuộc giống Citrus còn
có một loại tinh dầu có tên gọi là “petitgrain”. Tinh dầu này được sản xuất từ lá và
chất của các chất béo động vật hay thực vật có khả năng hấp thụ những chất có khả
năng dễ bay hơi trên bề mặt của chúng. Do đó khi cho hoa tiếp xúc với các chất béo
trong khoảng thời gian nhất định, hương thơm của hoa sẽ được các chất béo hấp thụ.
Phương pháp hấp thụ động học: khi thổi không khí vào giữa các lớp hoa, tinh
dầu trong hoa sẽ bốc thơi theo không khí. Nếu không khí này được dẫn ngang qua
một cột chứa than hoạt tính (than gỗ hoặc than xương), hơi tinh dầu sẽ bị hấp thụ.
Thường xác hoa sau đó được tiếp tục tẩm trích bằng dung môi hữu cơ để lấy thêm
các cấu phần khó bay hơi.
1.3.4. Phƣơng pháp chƣng cất lôi cuốn hơi nƣớc
1.3.4.1. Lý thuyết chƣng cất
- 17 -
Phương pháp này dựa trên sự thẩm thấu, hòa tan, khuếch tan và lôi cuốn hơi
nước của những hợp chất hữu cơ trong tinh dầu chứa trong các mô khi tiếp xúc với
hơi nước ở nhiệt độ cao.
Khi chưng cất hơi nước các cấu tử tinh dầu sẽ được tách ra ở nhiệt độ thấp hơn
nhiệt độ sôi của nước, vì vậy sẽ hạn chế sự biến tính hóa học (sự oxy hóa, nhiệt
phân ) các cấu tử tinh dầu. Trong quá trình chưng cất, hơi nước sẽ được thẩm thấu
vào các mô nguyên liệu, sau đó sẽ hòa tan, khuếch tán và lôi cuốn theo các hợp chất
hữu cơ trong thành phần tinh dầu. Dịch chưng cất sẽ gặp lạnh tại ống sinh hàn và
được ngưng tụ và phân tách thành 2 lớp (lớp tinh dầu bên trên và lớp nước ở bên
dưới) trong hệ thống ngưng tụ. Sự khuếch tán sẽ dễ dàng khi tế bào chứa tinh dầu
trương phồng do nguyên liệu tiếp xúc với hơi nước bão hòa trong một thời gian nhất
định. Trường hợp mô thực vật có chứa nhựa, sáp, axit béo dây dài mạch thẳng thì
cần nhiều hơi nước hơn và sự chưng cất phải được thực hiện trong thời gian dài vì
những hợp chất này làm giảm áp suất hơi chung của hệ thống và làm cho sự khuếch
tán trở lên khó khăn.
1.3.4.2. Những ảnh hƣởng chính trong sự chƣng cất lôi cuốn hơi nƣớc
a. Sự khuếch tán
Ngay cả khi nguyên liệu được làm vỡ vụn thì chỉ có một số mô chứa tinh dầu