i
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy TS. Nguyễn Văn Duy đã
giúp đỡ và giới thiệu tôi thực tập tại Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra nước miền
Trung. Bên cạnh đó, trong quá trình thực tập thầy đã hướng dẫn, thôi thúc và tận
tình chỉ bảo những kinh nghiệm quý báu để tôi hoàn thành tốt đồ án tốt nghiệp này.
Cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Ngô Tuấn Tú, Ths. Nguyễn Ton
cùng với các cán bộ trong Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra nước miền Trung đã
quan tâm hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt
thời gian thực tập đồ án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ của tất cả quý thầy cô Viện Công
nghệ sinh học và Môi trường đã giúp tôi có được những kiến thức chuyên ngành cơ
bản, cần thiết khi ra trường.
Cuối cùng, lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất xin gửi tới gia đình, bạn bè tôi,
những người luôn sát cánh và động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Nha Trang, ngày 30 tháng 6 năm 2012
Sinh viên
Võ Thị Thanh Lịch
ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.2.4.2. Trữ lượng nước dưới đất 30
1.2.4.3. Nước nóng – nước khoáng 33
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.1. Vùng nghiên cứu 40
2.2. Phạm vi nghiên cứu 40
2.3. Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1. Tổng quan và phân tích tài liệu 41
2.3.2. Khảo sát thực địa 41
2.3.3. Lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu môi trường 42
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 43
3.1. Hiện trạng chất lượng nước dưới đất trên địa bàn thành phố Nha
Trang 43
3.1.1. Hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất 43
3.1.1.1. Hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất 43
3.1.1.2. Quản lý khai thác sử dụng nước dưới đất 45
3.1.2. Hiện trạng chất lượng nước dưới đất 45
3.1.2.1. Chỉ tiêu vật lý 45
3.1.2.2. Chỉ tiêu hóa học 45
3.1.2.3. Chỉ tiêu vi sinh 51
3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước dưới đất trên địa bàn
thành phố Nha Trang 56
iv
3.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mực nước 56
3.2.1.1. Yếu tố tự nhiên 56
3.2.1.2. Yếu tố nhân tạo 58
3.2.2. Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất 59
3.2.2.1. Nước thải sinh hoạt 60
3.2.2.2. Nước thải công nghiệp 61
3.2.2.3. Nước thải nông nghiệp 62
3.3. Đề xuất biện pháp bảo vệ tài nguyên nước dưới đất phục vụ cho
14 QĐ Quyết định
15 TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
16 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
17 UBND Ủy ban nhân dân
18 WHO Tổ chức y tế thế giới
19 XDQH & SD Xây dựng quy hoạch và sử dụng vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Trữ lượng động tự nhiên của tầng chứa nước Holocen (qh): 31
Bảng 1.2. Trữ lượng tĩnh tự nhiên của tầng chứa nước Holocen (qh) 31
Bảng 1.3. Trữ lượng khai thác tiềm năng của tầng chứa nước Holocen (qh) 31
Bảng 1.4. Trữ lượng động tự nhiên của các tầng chứa nước khe nứt (k, j3) 32
Bảng 1.5. Trữ lượng tĩnh tự nhiên của tầng chứa nước khe nứt (k, j3) 32
Bảng 1.6. Trữ lượng khai thác tiềm năng các tầng chứa nước khe nứt (k, j3) 32
Bảng 1.7. Kết quả phân tích mẫu vi lượng 33
Bảng 1.8. Kết quả phân tích mẫu toàn diện và phóng xạ 34
Bảng 1.9. Kết quả phân tích mẫu toàn diện và vi sinh 36
Bảng 1.10. Kết quả phân tích mẫu vi lượng 37
Bảng 1.11. Kết quả phân tích mẫu toàn diện 38
Bảng 3.1. Kết quả phân tích mẫu nước dưới đất trên địa bàn thành phố Nha Trang 51
vii
DANH MỤC HÌNH
là nguồn tài nguyên nước dưới đất. So với nước mặt thì nước dưới đất thường có
chất lượng tốt hơn và ít chịu ảnh hưởng của các tác động từ con người. Đây là một
nguồn tài nguyên cần được quan tâm để khai thác một cách hiệu quả và bền vững.
Ngày nay, với sự phát triển của công nghiệp, đô thị và sự gia tăng dân số thì nhu
cầu dùng nước cũng theo đó tăng lên. Bên cạnh đó, sự phát triển này cũng gây ra
nhiều hậu quả nghiêm trọng. Các nguồn nước tự nhiên đã và đang bị cạn kiệt, ô
nhiễm kéo theo những tác động tiêu cực đến đời sống của con người.
Đối với thành phố Nha Trang, mặc dù nhiều năm nay đã có nguồn nước máy
song nhiều cơ quan, doanh nghiệp, hộ gia đình ở các phường đặc biệt là ở các xã
ven thành phố (Vĩnh Lương, Vĩnh Phương, Phước Đồng,…) vẫn sử dụng đáng kể
nguồn nước dưới đất.
Để sử dụng tốt hơn nguồn nước dưới đất của thành phố Nha Trang, góp phần
vào sự phát triển kinh tế - xã hội thì cần thiết phải đánh giá đầy đủ trữ lượng, chất
lượng của chúng, cũng như cần có biện pháp quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý
và bảo vệ nguồn tài nguyên quý báu này.
2
Với mong muốn góp phần giải quyết vấn đề trên tôi đã chọn thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng chất lượng nước dưới đất, đề xuất biện pháp khắc phục và
bảo vệ tài nguyên nước dưới đất phục vụ sinh hoạt trên địa bàn thành phố Nha
Trang”.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm và biện pháp bảo vệ nước dưới đất
1.1.1. Đặc điểm nước dưới đất
Nước dưới đất là nước tồn tại trong các lỗ rỗng và khe nứt của đất đá dưới mặt
đất, dễ dàng di chuyển dưới tác dụng của trọng lực. Nước dưới đất được hình thành
định, có khi là các loại khoáng hóa chữa bệnh.
Tầng nước khe nứt là tầng chứa nước hình thành trong đá cứng nứt nẻ hoặc
có độ hang hốc lớn như đá vôi karst hóa, đá chịu phong hóa vật lý mạnh, đá bị các
tác dụng kiến tạo. Nước khe nứt có thể có áp lực hoặc không áp lực. Một đặc tính
quan trọng của tầng nước khe nứt là nước dễ bị nhiễm bẩn và phân bố không đồng
đều.
Khác với nước mặt, do tiếp xúc trực tiếp với đất đá, nước dưới đất là một dung
dịch hóa học phức tạp. Nó chứa hầu hết các nguyên tố có trong vỏ quả đất. Tuy
nhiên các nguyên tố và ion đóng vai trò chủ yếu thì không nhiều, chỉ khoảng 10 loại
là: Cl
-
, HCO
3
-
, SO
4
2-
, CO
3
2-
, Ca
2+
, Mg
2+
,
Na
+
, K
+
Xác định chính xác trữ lượng nước dưới đất có thể khai thác.
Triển khai quy hoạch quản lý nước tổng quát, trong đó vạch ra tiêu chí sử
dụng kết hợp nước mặt và nước dưới đất.
1.1.2.3. Bảo tồn nguồn nước dưới đất
Nước dưới đất là một tài nguyên đặc biệt quý giá, cơ quan quản lý cần phải
thực hiện tất cả các biện pháp hợp lý để đảm bảo hiệu quả sử dụng nước, cần
khuyến khích bảo tồn nước, ngăn cản lãng phí, đặc biệt đối với việc sử dụng nước
dưới đất để tưới.
6
1.1.2.4. Bảo vệ chất lượng nước
Khác với nước mặt, nước dưới đất khó bị nhiễm bẩn hơn nhưng một khi đã
nhiễm bẩn rất khó xử lý và nếu xử lý được thì cũng rất tốn kém. Vì vậy bảo vệ chất
lượng nước dưới đất, ngăn ngừa nhiễm bẩn là rất quan trọng.
1.1.2.5. Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Xây dựng một kế hoạch khai thác nước dưới đất toàn diện để không chỉ bảo
vệ lợi ích cho người sử dụng nước dưới đất mà còn phát triển bền vững tài nguyên
thiên nhiên.
Xây dựng các phương án sử dụng kết hợp nước mặt và nước dưới đất vừa
đảm bảo nhu cầu cấp nước vừa bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
1.1.2.6. Thu thập và phân tích số liệu
Duy trì một chương trình thu thập và phân tích số liệu mực nước hàng năm
tại các mạng quan trắc.
Duy trì một chương trình thu thập số liệu khí tượng thủy văn tại các trạm khí
tượng và thủy văn.
Triển khai và sử dụng các khả năng của GIS (hệ thống thông tin địa lý) để
thể hiện đồ thị các số liệu không gian.
Hàng năm chuẩn bị một báo cáo về mực nước, chất lượng nước, lượng bổ
cập, lượng khai thác và lưu lượng các sông suối.
1.1.2.7. Thông tin cộng đồng và giáo dục
Triển khai và thực hiện một chương trình xây dựng mối quan hệ với cộng đồng.
2
, bao gồm
các núi sót và dãy núi có độ cao từ 183 m (Hòn Sạn) đến 650 m (núi Chúa). Các dãy
núi thường có đỉnh nhọn, sườn dốc 30
0
đến 40
0
, đi lại khó khăn. Chúng phân bố chủ
yếu ở phía Bắc và Nam thành phố Nha Trang. Ngoài ra, các đảo Hòn Tre, đảo Trí
Nguyên, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Lao,… chủ yếu thuộc dạng địa hình này. Chúng
là bức bình phong vừa che bão tố, vừa là nơi tham quan kỳ thú.
b. Địa hình đồng bằng ven biển
Có bề mặt địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Tây sang Đông và bị phân
cắt bởi các dòng mặt. Độ cao địa hình thay đổi từ 3 đến 6,5 m. Điều kiện đi lại khá
thuận tiện. Chúng phân bố ở phần diện tích còn lại của thành phố Nha Trang, ở các
8
phường thuộc trung tâm thành phố, xã Vĩnh Ngọc, xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phương
(phần canh tác nông nghiệp) và một số dải cát hẹp quanh đảo Hòn Tre.
1.2.1.3. Đặc điểm khí hậu
Nha Trang nằm trong miền khí hậu gió mùa cận xích đạo, nhưng khô ráo, chịu
ảnh hưởng của khí hậu đại dương nên mát mẻ, ôn hòa và có thể chia ra làm hai
mùa:
Mùa mưa: từ tháng 9 đến tháng 12, lượng mưa thường tập trung trong tháng
10 và tháng 11, vào thời gian này nhiệt độ không khí thay đổi từ 25,5
0
C đến 27,1
0
C,
lượng mưa thay đổi từ 91,0 mm/tháng đến 338 mm/tháng, lượng bốc hơi từ 85,6
mm/tháng đến 148,2 mm/tháng. Độ ẩm bình quân đạt 84%.
12 là 695,0 m
3
/s, nhỏ nhất vào các tháng 7, 8, 9 thay đổi trong khoảng từ 5,39 m
3
/s
(9/8/2005) đến 13,5 m
3
/s (30/8/2004). Vào mùa mưa, lưu lượng đỉnh lũ của sông có
thể đạt tới 4.583,0 m
3
/s (trạm Đồng Trăng, năm 1999).
Đoạn chảy qua Nha Trang theo hướng từ Tây sang Đông và đổ ra biển ở cửa
Nha Trang với chiều dài khoảng 13 km. Lòng sông rộng từ 40 đến 60 m, đoạn hạ
lưu tới 250 m, có mức độ uốn khúc trung bình. Độ dốc bình quân 22,9%.
Phần thượng lưu của sông Cái Nha Trang có rất nhiều thác. Từ cửa sông Chò
trở lên thì có thác Đồng Trăng, thác Ông Hào, thác Đá Lửa, thác Nhét, thác Mòng,
thác Võng, thác Nai, thác Rùa, thác Hòm,
Sông Cái Nha Trang là nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, du
lịch của thành phố Nha Trang và cho họat động nông nghiệp, lâm nghiệp ở các
huyện Diên Khánh, Khánh Vĩnh.
Hình 1.1. Sông Cái Nha Trang đoạn chảy qua Tháp Bà Ponaga
10
Sông Quán Trường
Sông Quán Trường bắt nguồn từ huyện Diên Khánh, chảy qua các xã Vĩnh
Thạnh, Vĩnh Thái,… và chảy ra biển theo hướng Tây Nam tại Cửa Bé. Lưu vực của
sông rộng khoảng 16 km
2
. Mùa khô nước sông hầu như không chảy, dòng chảy chỉ
tồn tại sau mỗi trận mưa. Nước sông đã bị nhiễm mặn hoàn toàn bởi nước thủy
, dung tích hữu ích 119.100 m
3
. Hồ
cung cấp nước sinh hoạt cho khoảng 5000 dân thuộc khu vực Bích Đầm, Đầm Bấy,
Hòn Mun, Vũng Ngán. Hệ thống cấp nước gồm tuyến ống nước thô dài 1.153 m,
với lưu lượng cấp khoảng 9,3 l/giây; bể lọc có 4 đơn nguyên, với dung tích là 66
m
3
.
11
c. Biển
Thành phố Nha Trang có bờ biển chạy dài từ Bắc đến Nam với chiều dài
khoảng 12 km. Bờ biển Nha Trang đẹp, sóng nhỏ, có các bãi tắm rất tốt.
Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507 km² bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ,
trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, với diện tích 3.250 ha; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc
chỉ khoảng 4 ha.
Vịnh Nha Trang có chế độ thủy triều hỗn hợp, thiên về nhật triều. Mực nước
biển trung bình 1,28 m. Mực thủy triều cao nhất là 2,4 m và thấp nhất là 0,5 m.
Sóng có độ lớn cao nhất từ 1,0 đến 2,0 m (về mùa gió đông bắc) dưới dạng sóng lừng.
Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm
có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình,
quý hiếm của vùng biển nhiệt đới bao gồm: hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô,
rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh
thái bãi cát ven bờ, có giá trị kinh tế cao được xếp hạng là một trong các vịnh đẹp
nhất thế giới. Trong số các đảo trong vịnh có nhiều đảo là các thắng cảnh nổi tiếng
như: Hòn Tre, Hòn Nhiểu, Hòn Mun, Hòn Tằm, Hòn Chồng - Hòn Vợ, Hòn Nội
(Đảo Yến).
Hình 1.2. Biển Nha Trang dọc đường Trần Phú
12
xuất khẩu vẫn duy trì được tốc độ tăng cao như thủy sản đông lạnh, dệt may, nước
mắm, hàng mỹ nghệ…Đã quan tâm đến công tác khuyến công, hỗ trợ các doanh
nghiệp, khôi phục các ngành nghề truyền thống, xây dựng các cụm công nghiệp nhỏ,
phát triển công nghiệp tại các xã ngoại thành, hạn chế ô nhiễm môi trường.
- Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng bình quân
hàng năm đạt 4,7%, năm 2010 đạt 478,7 tỷ đồng. Năng suất lúa đạt khá, bình quân
đạt 56,5 tạ/ha/vụ; các loại cây trồng khác sản xuất ổn định phục vụ cho địa phương
và khách du lịch; chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư đã thu được
kết quả tốt, thông qua các dự án, mô hình nông, ngư dân đã tiếp cận được với tiến
bộ khoa học kỹ thuật, ứng dụng thành công các biện pháp kỹ thuật góp phần giảm
chi phí, tăng thu nhập và bảo vệ môi trường. Diện tích trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng
tự nhiên và rừng trồng hiện nay được 1.813 ha, độ che phủ rừng đạt 7,2%, công tác
quản lý và bảo vệ rừng có nhiều chuyển biến, mạng lưới kiểm lâm viên được bố trí
đến tận xã, phường có rừng để thường xuyên kiểm tra hạn chế nạn phá, đốt rừng.
- Năng lực khai thác thủy sản ngày càng tăng, toàn thành phố hiện có 3.150
tàu thuyền với tổng công suất 155.000 CV, trong đó có 480 chiếc có công suất lớn
(≥90 CV) với 85.000 CV, sản lượng khai thác đánh bắt đạt bình quân trên 34.400
tấn/năm (mức tăng bình quân đạt 6,4%/năm), doanh thu hàng năm đạt 400 tỷ đồng;
sản lượng nuôi trồng bình quân đạt 482 tấn/năm. Nha Trang hiện có 3 hợp tác xã và
4 cơ sở tư nhân đóng sửa tàu thuyền có trọng tải 100 tấn phục vụ đánh bắt thủy sản
xa bờ.
- Thu ngân sách luôn vượt kế hoạch hàng năm, năm 2010 thu trên 1.000 tỷ
đồng, tăng hơn 2 lần so với năm 2005 và là địa phương duy nhất trong toàn tỉnh có
khả năng tự cân đối và có đóng góp ngân sách cho tỉnh. Với kết quả thu tăng, thành
phố đã đảm bảo chi kịp thời, đầy đủ cho các khoản chi thường xuyên, chi đầu tư
phát triển, đảm bảo công tác quốc phòng - an ninh và nhu cầu an sinh xã hội. Tổng
14
chi ngân sách thành phố tăng bình quân hàng năm 14,1%, trong đó chi đầu tư phát
triển 24,5% (chiếm tỷ trọng 21,8% trong tổng chi của thành phố), thành phố đã thực
hiện tốt các chính sách an sinh xã hội và các hoạt động chính sách hỗ trợ người
3
/ngày - đêm, dự kiến đến năm 2015 đạt
125.280 m
3
/ngày - đêm.
b. Về thoát nước
Đến nay, hệ thống thoát nước đã cải tạo, nâng cấp xây dựng mở rộng khoảng
183,024 km tuyến cống, kênh mương thoát nước trên tất cả các tuyến đường, khu
dân cư trên địa bàn thành phố Nha Trang. Ngoài các tuyến công thoát nước còn có
các dòng sông chảy qua là: sông Cái, hệ thống sông Tắc – Quán Trường, sông Kim
Bồng,… và một phần của khu vực biển Nha Trang làm chức năng của các tuyến
thoát nước chính cấp I của Thành phố, đã làm tăng khả năng mạng thoát nước và
bảo đảm thông thoát thuận lợi cho các khu vực nội thành. Đã triển khai giai đoạn I
(2007-2011) dự án thoát nước từ nguồn vốn vay WB và vốn đối ứng của tỉnh với
16
tổng vốn đầu tư 76,266 triệu USD, nhằm tách riêng hệ thống thoát nước mặt với
thoát nước thải thành phố. Điều này sẽ làm giảm nguy cơ ô nhiễm nguồn nước dưới đất.
1.2.2.5. Về giáo dục , đào tạo
Toàn thành phố có 111 trường với gần 68.000 học sinh, huy động 85,3% trẻ
em trong độ tuổi mẫu giáo ra lớp (riêng trẻ 5 tuổi chuẩn bị vào lớp 1 đạt 94,5%), có
98,9% trẻ trong độ tuổi từ 6 - 10 tuổi đến trường tiểu học, 96,7% trẻ từ 11 - 14 tuổi
đến trường THCS; có 100% giáo viên công lập ở các ngành học đạt trình độ chuẩn
và 55% trên chuẩn; có 27/27 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục
tiểu học đúng độ tuổi, duy trì chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở,
đã có 27/27 trung tâm học tập cộng đồng đi vào hoạt động. Đặc biệt tính đến năm
2010 toàn tỉnh đã có 18 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (trong đó có 03 trường mần
non).
Tại thành phố tập trung nhiều trường đại học, học viện, viện nghiên cứu, các
trường cao đẳng, trường dạy nghề, các trung tâm triển khai các tiến độ kỹ thuật
chuyên ngành đã biến nơi đây thành một trung tâm khoa học - đào tạo của cả khu
ngoài ra còn có mặt tướng á núi lửa: ryolit porphyr, granophyr, andesit porphyr.
Mặt cắt của hệ tầng được chia thành 2 tập :
Tập dưới: gồm chủ yếu là andesit, andesitodacit, dacit và tuf của chúng.
Chiều dày hơn 250 m.
Tập trên: ryolit, trachyryolit, felsit porphyr, ít hơn có ryodacit porphyr với
khối lượng khá lớn các đá tuf xen kẽ có thành phần tương ứng. Chiều dày tập từ 250
đến 350 m.
Tuổi của hệ tầng được xếp vào Creta dựa trên cơ sở: các thành tạo dăm kết tuf
ở khu vực suối Mỏ Cày (Ninh Tịnh) và núi Tà Lương (Cam Phước Đông) có các
mảnh dăm thành phần là granodiorit thuộc phức hệ Định Quán (tuổi Creta sớm);
ngoài ra chúng còn bị xâm nhập phức hệ Đèo Cả và Cà Ná xuyên cắt. Chiều dày
của hệ tầng khoảng 500 – 600 m.
18
c. Hệ Đệ tứ
Thống Pleistocen (Q
1
), phụ thống thượng (Q
1
3
), trầm tích biển (mQ
1
3
)
Trầm tích Pleistocen thượng nằm chìm ở đáy đồng bằng Nha Trang. Mặt cắt
tổng hợp của tầng này gồm 2 tập từ trên xuống có đặc điểm như sau:
Tập 1: sét, sét pha màu loang lổ nâu vàng, xám tro, nén vừa đến chặt, đôi nơi
kẹp tập á cát mỏng màu xám sáng; dày trung bình 210 m, nhiều chỗ khá dày
(LK30 dày 11 m, LK31dày 24,4 m).
Tập 2: chủ yếu là cát, cát pha, cát sạn chứa cuội màu xám nâu, xám vàng
loang lổ liên kết yếu, dễ rời vụn; có chỗ xen kẹp lớp sét pha mỏng. Chiều dày trung