Trang 1
LỜI NÓI ĐẦU
Bước sang thế kỷ 21, nền kinh tế thế giới càng phát triển mạnh mẽ hơn, xu
hướng toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng ảnh hưởng sâu
sắc hơn và trở thành một xu thế tất yếu, kinh tế thế giới là sự hòa quyện của tất cả
các nền kinh tế của nhiều quốc gia chứ không phải của riêng một vài quốc gia
nào cả. Việc giao thương buôn bán giữa các quốc gia diễn ra dưới các hình thức
đa dạng và phong phú hơn. Hiếm có một quốc gia nào có thể phát triển mà lại
nằm ngoài các mối quan hệ kinh tế đan xen đó.
Như hầu hết các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực và trên thế
giới, Việt Nam cũng luôn tích cực tham gia hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu,
bắt kịp xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế thế giới là con đường
duy nhất để chúng ta không bị tụt hậu lại phía sau và để có thể tạo điều kiện đưa
nước ta sớm trở thành một nước CNH-HĐH, vươn lên sánh ngang cùng các
cường quốc năm châu. Muốn thực hiện điều này chúng ta cần phải có một lượng
vốn lớn. Và thúc đẩy xuất khẩu chính là một trong các lựa chọn hàng đầu để làm
tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước, bằng nguồn ngoại tệ ấy, chúng ta sẽ đầu tư cho
các hoạt động kinh tế phát triển đất nước.
Trong giai đoạn vừa qua, xuất khẩu Việt Nam liên tục tăng, và một trong
các ngành chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
đó chính là ngành thuỷ sản.Với những đóng góp to lớn của ngành thuỷ sản, Đảng
và Nhà nước ta đã xác định xuất khẩu thuỷ sản chính là một trong các ngành kinh
tế mũi nhọn của cả nước. Các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản ngày càng chú
trọng đầu tư cải tiến và đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng khoa học công nghệ
tiên tiến phù hợp vào chế biến, bên cạnh đó là các doanh nghiệp chế biến thuỷ
sản xuất khẩu mới ra đời, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến,
nhằm tạo ra nhiều các sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao. Để cho ngành thuỷ
sản nói chung và các doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu nói riêng có thể
phát triển ổn định và bền vững, không ngừng tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng
EU - thị trường tiềm năng lớn về nhập khẩu thuỷ sản. Nhằm mở rộng thị trường
xuất khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu của công ty, giúp Công ty hình thành một
cơ cấu thị trường xuất khẩu hợp lý, tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
mở rộng qui mô sản xuất, phát triển ổn định và bền vững.
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu về hoạt động sản xuất kinh doanh chế biến thuỷ sản xuất khẩu
tại Công ty F17.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được phân tích và đánh giá chủ yếu là thông qua các số liệu, dữ
kiện kinh doanh của Công ty cũng như quan sát phỏng vấn các đối tượng liên
quan trong Công ty trên cơ sở áp dụng các phương pháp như: phân tích thống kê,
so sánh đối chiếu, đồ thị, phỏng vấn, cùng các số liệu, tài liệu thứ cấp của các
trang web liên quan và các tạp chí chuyên ngành.
Phạm vi nghiên cứu:
Là nghiên cứu hoạt động sản xuất chế biến thuỷ sản xuất khẩu của Công
ty trong thời gian qua, trong đó đi sâu phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu của
Công ty sang thị trường EU, cũng như so sánh đối chiếu với tình hình nhập khẩu
của thị trường này (nhu cầu, thị hiếu tiêu dùng, xu hướng tiêu dùng, các rào cản
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 3
nhập khẩu), nghiên cứu về hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU
trong thời gian qua, để có được cái nhìn đầy đủ hơn và trên cơ sở đó em xin đề
xuất những biện pháp nhằm góp phần đẩy manh hoạt động xuất khẩu của Công
ty sang thị trường đầy tiềm năng – EU .
Nội dung và kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận.
Chương 2: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng hoạt
động xuất khẩu của Công ty sang EU
Chương 3: Một số biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu thuỷ sản
Trang 4
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
I – LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
1. Khái niệm xuất khẩu
Xuất khẩu là hoạt động kinh tế trong đó các chủ thể kinh doanh của các
nước bán các sản của mình cho các chủ thể kinh doanh khác ở nước ngoài trong
những điều kiện nhất định.
2.Vai trò của hoạt động xuất khẩu
2.1. Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp
hoá đất nước.
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tất
yếu để khắc phục tình trạng nghèo nàn và chậm phát triển của nước ta. Để công
nghiệp hoá đất nước trong một thờì gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn lớn để nhập
khẩu máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến.
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như:
+ Đầu tư nước ngoài.
+ Vay nợ, viện trợ.
+ Thu từ hoạt động du lịch, hoạt động thu ngoại tệ.
+ Xuất khẩu sức lao động …
Các nguồn đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ tuy quan trọng, nhưng rồi
cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này. Nguồn vốn quan
trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là nguồn vốn thu từ hoạt
động xuất khẩu.
Ở nước ta, thời kì 1986-1990 nguồn thu về từ hoạt động xuất khẩu đảm
bảo trên 55% nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, thời kì 1991- 1995 là 75,3%, thời
kì 1996-2000 là 84,5%.
Trong tương lai nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên. Nhưng mọi cơ hội đầu
tư, vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nước. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phương
tiện quan trọng để tạo ra vốn, kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt
Nam, nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới.
+ Thông qua xuất khẩu hàng hoá chúng ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh
trên thị trường thế giới về cả giá cả và chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi
chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với
thị trường.
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới công nghệ và
hoàn thiện công tác quản trị sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị
trường.
2.3. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm, cải
thiện đời sống nhân dân.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 6
Tác động của xuất khẩu đến đời sống nhân dân thể hiện ở nhiều mặt.
Trước hết xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu lao động vào làm việc vơi mức thu
nhập không thấp. Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu hàng tiêu dùng
thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một phong phú
của nhân dân.
2.4. Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ hợp tác đối ngoại của
nước ta.
Chúng ta thấy xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qua
lại phụ thuộc lẫn nhau. Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các quan hệ kinh
tế đối ngoại khác và tạo điệu kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển. Chẳng hạn
xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu
tư, mở rộng vận tải quốc tế… mặt khác chính các quan hệ đối ngoại tạo tiền đề
cho việc mở rộng các hoạt động xuất khẩu.
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là có ý nghĩa chiến lược để phát
không phải chia sẻ lợi nhuận cho các trung gian. Nhưng bên cạnh đó doanh
nghiệp cũng sẽ gặp không ít rủi ro nếu không am hiểu về thị trường xuất khẩu,
không am hiểu về khách hàng và đối thủ cạnh tranh, thiếu kinh nghiệm trong
xuất khẩu.
3.2. Xuất khẩu gián tiếp ( uỷ thác xuất khẩu )
Đây là hình thức xuất khẩu qua trung gian. Doanh nghiệp sẽ uỷ quyền cho
một doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ hàng hoá làm nghiệp vụ xuất khẩu hàng
cho mình. Bên nhận uỷ thác sẽ tiến hành ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng
xuất khẩu với bên thứ ba và nhận phí uỷ thác. Với hình thức này thì doanh
nghiệp đã chia sẻ một phần lợi nhuận cho nhà nhận uỷ thác. Hình thức này
thường phổ biến với những doanh nghiệp có qui mô sản xuất nhỏ, chưa có đủ
điều kiện để thực hiện xuất khẩu trực tiếp, hoặc không được phép xuất khẩu trực
tiếp, chưa có kinh nghiệm trong việc xuất khẩu, hoặc chưa quen biết thị trường,
khách hàng, chưa thông thạo các nghiệp vụ xuất khẩu.
4. Tổ chức công tác xuất khẩu trong một doanh nghiệp
4.1. Nghiên cứu thị trường
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành bán sản phẩm của mình tới
một thị trường nào đó thì đều phải tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu về thị trường
đó. Doanh nghiệp có thể bán hàng tại thị trường nội địa hoặc là đem xuất khẩu
hàng hoá, và việc xuất khẩu hàng là phức tạp hơn nhiều so với việc tiêu thụ tại
thị trường nội địa bởi vì xuất khẩu chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố, không
chỉ của hệ thống pháp luật, các chính sách tài chính tiền tệ, thuế quan trong
nước mà còn chịu của cả thị trường xuất khẩu.
Bên cạnh đó, nhu cầu, thị hiếu, sở thích, mức độ chi trả của thị trường
từng nước là khác nhau. Hệ thống pháp luật cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc
xuất khẩu của doanh nghiệp. Chính vì vậy các doanh nghiệp cần phải tiến hành
nghiên cứu thị trường xuất khẩu để thu thập được các thông tin cần thiết như: nhu
cầu tiêu dùng của người dân về hàng hoá của doanh nghiệp, mức thu nhập bình
quân đầu người, hệ thống kênh phân phối, đối thủ cạnh tranh, nhu cầu nhập khẩu
của nước đó, hạn ngạch, các qui định của chính phủ nước sở tại về việc nhập
thời gian giao hàng hay không?
- Và còn một số vấn đề khác.
4.4. Lập phương án kinh doanh
Công ty cần xác định rõ ràng cụ thể các vấn đề sau:
- Mục tiêu của việc kí kết hợp đồng.
- Các biện pháp cần thực hiện để đạt được mục tiêu đó.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 9
- Dự báo hiệu quả xuất khẩu để xác định có nên tiến hành giao dịch đi đến
kí kết hợp đồng hay không?
4.5. Giao dịch đàm phán
- Sau khi đã lựa chọn được khách hàng doanh nghiệp tiến hành đàm phán
để đi đến kí kết hợp đồng. Các bước giao dịch chủ yếu là:
+ Chào sản phẩm: giới thiệu cho khách hàng biết sản phẩm của mà doanh
nghiệp muốn cung cấp.
+ Chào giá: doanh nghiệp cung cấp giá bán hàng và điều kiện thương mại
cho đối tác. Qua đây hai bên sẽ tiến hành đàm phán để thống nhất giá cả.
Thoả thuận các vấn đề về khối lượng, giá cả, chất lượng, mẫu mã bao bì,
phương thức thanh toán, giao nhận, vận chuyển, các điều khoản về bảo hiểm, giải
quyết khiếu nại, tranh chấp…
- Giao dịch đàm phán có các hình thức sau:
+ Giao dịch đàm phán qua thư tín:
Ngày nay trong giao dịch quốc tế, đàm phán qua thư tín là một phuơng
thức đàm phán đơn giản và dễ thực hiện và nó là phương thức giao dịch chủ yếu
của các nhà xuất nhập khẩu. So với việc gặp gỡ trực tiếp thì hình thức này tiết
kiệm được nhiều chi phí. Trong cùng một lúc có thể giao dịch với nhiều khách
hàng ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên nó đòi hỏi nhiều thời gian
chờ đợi đôi khi cơ hội mua bán sẽ qua đi, và lời lẽ trong thư thì chúng ta không
thể đoán biết hết được ý đồ của họ một cách chính xác.
Đối với một số phương thức sau đây người bán và người mua cần có
những công việc chuẩn bị nhất định:
- Phương thức L/C: chỉ cần người bán xuất ra một bộ chứng từ đúng theo
yêu cầu thì ngân hàng sẽ trả tiền ngay cho người bán. Người bán yêu cầu người
mua mở L/C, ký quỹ tiền. Người mua sẽ lên ngân hàng mở L/C và ký quỹ. Sau
khi nhà nhập khẩu mở L/C và ngân hàng thông báo L/C cho nhà xuất khẩu thì
nhà xuất khẩu sẽ tiến hành xem xét L/C, nếu có gì chưa hợp lệ thì đề nghị tu
chỉnh L/C.
- Phương thức COD, CAD: hai phương thức này thì trước khi giao hàng
người bán yêu cầu người mua ký quỹ 100% tại ngân hàng. Khi ngân hàng bên
mua báo có thì người bán mới giao hàng.
4.6.3. Chuẩn bị hàng hoá
- Thu gom hàng hoá:
+ Đối với doanh nghiệp không sản xuất hàng xuất khẩu thì cần phải tính
toán thời gian thu mua nguyên liệu chế biến sản xuất cần thiết để đảm bảo thời
gian của hợp đồng qui định.
+ Đối với doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thì cần phải tính toán thu
mua nguyên liệu như thế nào, sản xuất như thế nào để đảm bảo thời gian của hợp
đồng quy định.
- Đóng gói bao bì: bao bì phải phù hợp với hợp đồng ngoại thương,
phương tiện vận tải, yêu cầu về bảo quản, thẩm mỹ.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 11
- Kẻ ký mã hiệu bên ngoài
4.6.4. Kiểm tra, kiểm dịch hàng hoá
Kiểm tra về số lượng, chất lượng, quy cách…của hàng hoá xuất khẩu .
Kiểm dịch xem hàng hoá có vi trùng, vi khuẩn, lây lan bệnh hay
không…thường là áp dụng đối với động thực vật.
4.6.5. Làm thủ tục hải quan
toán bằng L/C).
Bộ chứng từ gồm:
+ Hối phiếu
+ Vận đơn hoàn hảo (bản chính).
+ Đơn hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm (nếu bán theo CIF).
+ Hoá đơn thương mại
+ Giấy chứng nhận phẩm cấp hàng hoá.
+ Giấy chứng nhận số lượng.
+ Giấy chứng nhận xuất sứ hàng hoá.
+ Gấy chứng nhận kiểm dịch động thực vật.
+ Phiếu đóng gói hàng hoá.
+ Các chứng từ khác.
4.6.10. Khiếu nại
Khiếu nại người bán: khi người mua vi phạm hợp đồng.
Hồ sơ khiếu nại gồm:
+ Đơn khiếu nại.
+ Hợp đồng mua bán ngoại thương.
+ Các thư từ, điện, fax…giao dịch giữa hai bên.
4.6.11. Thanh lý hợp đồng
Sau khi đã thực hiện xong hợp đồng, nếu không có gì vướng mắc thì hai
bên tiến hành thanh lý hợp đồng
II. LÝ THUYẾT VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
1. Khái niệm về thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu là nơi tập hợp người mua và người bán có quốc tịch
khác nhau để xác định giá cá, số lượng hàng hoá mua bán giao dịch, chất lượng
hàng hoá và các điều kiện mua bán theo hợp đồng, thanh toán chủ yếu bằng
ngoại tệ và phải làm thủ tục hải quan qua biên giới.
2. Các yếu tố của thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu cũng bao gồm các yếu tố chung của thị trường là
cung, cầu, giá cả, cạnh tranh. Tuy nhiên do việc kinh doanh xuất khẩu được tiến
trường thế giới thì sự cạnh tranh diễn ra ngày càng khốc liệt hơn do có nhiều chủ
thể tham gia kinh doanh và cạnh tranh, đồng thời có nhiều chủng loại hàng hoá
hơn và có nhiều sản phẩm thay thế hơn.
3. Phân loại thị trường xuất khẩu
ü Căn cứ vào vị trí địa lý
- Thị trường châu lục
- Thị trường khu vực
- Thị trường nước và vùng lãnh thổ
ü Căn cứ vào lịch sử quan hệ
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 14
- Trị trường truyền thống: là những thị trường mà doanh nghiệp có quan
hệ làm ăn lâu năm, có uy tín và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu xuất
khẩu hàng hoá của doanh nghiệp.
- Thị trường mới: là thị trường mà doanh nghiệp mới thiệt lập quan hệ làm
ăn hợp tác.
- Thị trường tiềm năng: là những thị trường có khả năng và nhu cầu mua
sản phẩm của doanh nghiệp và doanh nghiệp cũng đang hướng tới thị trường này
trong tương lai.
ü Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trrường :
- Thị trường độc quyền mua bán.
- Thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
- Thị trường độc quyền nhóm.
ü Căn cứ vào phương thức xuất khẩu:
- Thị trường xuất khẩu trực tiếp .
- Thị trường xuất khẩu gián tiếp.
ü Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu
- Thị trường xuất khẩu theo hạn ngạch.
- Thị trường xuất khẩu không có hạn ngạch.
nghiệp tiếp cận khách hàng tiềm năng của mình.
ü Phân khúc thị trường theo kinh tế học và nhãn hiệu học
Phương pháp này dựa và các yếu tố về tuổi tác, giới tính, tỷ lệ sinh nở,
việc làm, thu nhập, mức dộ tiết kiệm…để doanh nghiệp dự đoán được sức mua
hàng hoá của từng nhóm khách hàng.
ü Phân khúc thị trường theo đặc điểm tâm sinh lý
Phương pháp này chú trọng vào các đặc điểm tâm sinh lý đặc thù của
khách hàng, từ đó biết được mối quan tâm và hành động của họ để đề ra chiến
lược thích hợp.
ü Phân khúc thị trường theo lợi ích
Phương pháp phân khúc này dựa trên việc xác định các lợi ích được khách
hàng mong đợi mà sản phẩm có thể mang lại cho khách hàng. Có những sản
phẩm được đối tượng khách hàng này đánh giá cao nhưng lại không có giá trị gì
đối với đối tượng khách hàng khác. Vì vậy doanh nghiệp cần phải xác định chính
xác những gì mà khách hàng mong đợi ở sản phẩm của mình, và sản phẩm của
mình phù hợp với đối tượng khách hàng nào.
5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh
nghiệp
5.1 Môi trường kinh doanh quốc tế
Khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường thế giới doanh nghiệp nào
cũng phải chịu sự tác động của các yếu tố do thị trường thế giới mang lại. Những
ảnh hưởng này có khi là tích cực nhưng cũng có khi là gây nhiều khó khăn cho
việc kinh doanh của các doanh nghiệp. Những điều này có tác động rất lớn đối
với các doanh nghiệp tham gia nền kinh tế toàn cầu. Những yếu tố này là khách
quan, doanh nghiệp không thể kiểm soát được, mà chỉ có thể thích nghi với
chúng. Các nhân tố này là do sự khác nhau về:
Môi trường kinh tế: Bao gồm các yếu tố về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ
lệ lạm phát, lãi suất, thu nhập bình quân đầu người…Nền kinh tế càng phát triển
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 16
trường nước ngoài doanh nghiệp phải chịu tác động của hàng rào thuế quan và
phi thuế quan, mức độ của các rào cản này phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ
giữa nước nhập khẩu và nước xuất khẩu.
Hiện nay, trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, nhiều các liên minh kinh
tế đã hình thành, điều này tạo một hành lang thông thoáng hơn cho quan hệ
thương mại giữa các quốc gia, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ thương mại khu vực
và trên thế giới thông qua một loạt các điều chỉnh. Tuy nhiên không phải quốc
gia nào cũng tham gia hoặc được tham gia vào các liên minh này, mỗi nước khác
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 17
nhau sẽ có một lợi thế khác nhau và điều này ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp.
5.2 Môi trường vĩ mô
Doanh nghiệp kinh doanh chịu ảnh hưởng của các nhân tố chính trị, pháp
luật, kinh tế…. ngay tại quốc gia mình.
ü Môi trường kinh tế tốt sẽ giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong
hoạt động kinh doanh. Các nhân tố này như là cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc ,
hệ thống ngân hàng, tốc độ phát triển kinh tế, tỷ lệ lạm phát…
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Được đánh giá thông qua GDP và mức độ
thu nhập bình quân người/năm. Tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo sự tăng trưởng
về nhu cầu, số lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ…Thu nhập bình quân
người/năm tăng lên sẽ kéo theo nhu cầu tăng và mức chi tiêu cho mua sắm hàng
hoá dịch vụ tăng lên…Những điều này sẽ tạo thời cơ cho doanh nghiệp mở rộng
qui mô sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tiêu thụ của doanh nghiệp, tăng doanh số
bán, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng, thông tin liên lạc: cơ sở hạ tầng, hệ thống thông
tin liên lạc, hệ thống giao thông, hệ thống điện nước phát triển luôn là nhân tố
được các nhà đầu tư xem xét hàng đầu khi quyết định đầu tư vào sản xuất kinh
doanh tại một địa phương nào đó.
lớn cho doanh nghiệp. Hay việc dịch chuyển dân cư từ vùng này sang vùng khác
cũng kéo theo sự dịch chuyển tiêu dùng, sự thay đổi hoặc khác biệt trong chọn
lựa mua sản phẩm.
ü Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn vào điều
kiện tự nhiên của quốc gia đó.
Sự khác nhau về tài nguyên và thái độ sử dụng tài nguyên sẽ dẫn đến sự
khác nhau về mức độ khan hiếm hay phong phú, dồi dào tài nguyên. Điều kiện tự
nhiên bao gồm nhiều yếu tố như: vị trí địa lý, địa hình, điều kiện khí hậu đất
đai…điều này đem đến lợi thế hoặc bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu, nhất
là những doanh nghiệp mà việc xuất khẩu hàng hoá là những sản phẩm phụ thuộc
rất lớn vào tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên như thuỷ sản.
ü Các chính sách công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước
Mỗi quốc gia sẽ có những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của riêng mình
để nhằm quản lý điều tiết hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động kinh doanh
xuất khẩu nói riêng. Một chính sách hạn chế hay khuyến khích xuất khẩu sẽ tạo
điều kiện thuận lợi hay khó khăn cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh
nghiệp. Các công cụ được sử dụng như thuế, hạn ngạch, tín dụng…
Thuế xuất khẩu được dùng làm công cụ điều tiết và quản lý xuất khẩu.
Nếu những hàng hoá được khuyến khích xuất khẩu thì sẽ được hưởng mức thuế
suất bằng 0 hoặc mức thuế suất ưu đãi và ngược lại. Mức thuế suất của doanh
nghiệp sẽ ảnh hưởng tới giá cả hàng hoá, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên
thị trường thế giới, và ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp.
Hạn ngạch xuất khẩu: là việc nhà nước qui định khối lượng xuất khẩu cao
nhất của một loại hàng hoá trong một thời kỳ nhất định. Hạn ngạch được dùng để
bảo vệ nền kinh tế trong nước. Khi chính phủ qui định hạn ngạch xuất khẩu đối
với một hàng hoá nào đó là muốn hạn chế việc xuất khẩu hàng hoá đó. Điều này
sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp vì chỉ được xuất khẩu một lượng nhất
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 19
hàng rào cản trở ra nhập ngành.
Khách hàng: Khách hàng sẽ mang tới cơ hội cho doanh nghiệp khi họ
mua sản phẩm, ưa chuộng, yêu thích tiêu dùng sản phẩm của mình. Nhưng ngược
lại nếu sản phẩm của doanh nghiệp không đáp ứng được những đòi hỏi mà khách
hàng kỳ vọng hoặc vì lý do nào đó mà doanh nghiệp gây phản cảm với khách
hàng thì nguy cơ đem lại cho doanh nghiệp còn lớn gấp nhiều lần những cơ hội
mà họ đã đem đến. Bởi không những họ không mua sản phẩm của doanh nghiệp
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 20
nữa mà còn làm giảm uy tín của doanh nghiệp với tốc độ và phạm vi lan rộng
nhanh chóng.
Sản phẩm thay thế nhiều và rẻ thì khách hàng có thể chuyển sang tiêu
dùng các sản phẩm ấy.
5.4 Các yếu tố thuộc môi trường vi mô
Đây là những yếu tố thuộc về bản thân doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể
kiểm soát và điều khiển được nó, nó tạo ra sức mạnh hoặc là điểm yếu của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp phải phát huy điểm mạnh của mình và hạn chế các
điểm yếu để có thể tận dụng tốt các cơ hội và né tránh tốt các nguy cơ từ môi
trường bên ngoài.
Nguồn nhân lực: để tiến hành sản xuất kinh doanh thì nhân lực là một
trong hai yếu tố không thể thiếu được. Người lao động tạo ra sản phẩm, và sản
phẩm ấy có đảm bảo được chất lượng không, có hợp qui cách không phụ thuộc
rất lớn vào tay nghề người lao động, và ý thức của họ. Trên thế giới dù có nhiều
ngành công nghiệp được tự động hoá hoàn toàn, nhưng vẫn phải có bàn tay con
người để điều khiểm kiểm tra hệ thống ấy, và suy cho cùng thì mọi máy móc,
công nghệ dù có hiện đại tới đâu thì cũng do con người tạo ra và phải nhờ có con
người thì nó mới có giá trị. Trong kinh doanh nói chung và xuất khẩu nó riêng thì
doanh nghiệp phải tìm kiếm thị trường, phải thu thập thông tin, nghiên cứu thị
trường, lập các phương án kinh doanh …tất cả các hoạt động ấy đều tiến hành
ü Giá trị xuất khẩu thuỷ sản tăng nhanh, đưa thuỷ sản trở thành ngành kinh
tế đối ngoại quan trọng.
Từ giá trị 817 triệu đô la vào năm 1998, xuất khẩu thuỷ sản đã nhanh
chóng vượt lên đạt 1,478 tỷ đô vào năm 2000, vượt 2 tỷ đô năm 2002, và trên 2,7
tỷ đô năm 2005. Như vậy chỉ trong vòng 7 năm (1998-2005), giá trị thuỷ sản xuất
khẩu của nước ta đã tăng gấp hơn 3,2 lần, tương đương tốc độ tăng bình quân
18%/năm, năm cao nhất là năm 2000, tăng trên 50% so với năm trước. Thuỷ sản
luôn là một trong những lĩnh vực kinh tế có giá trị xuất khẩu cao nhất. Thuỷ sản
luôn đứng ở vị trí thứ 3 hay 4 trong các ngành xuất khẩu hàng đầu Việt Nam, và
luôn đứng đầu về giá trị xuất khẩu thuần, xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn
trong sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước.
ü Nâng cao hẳn vị thế thuỷ sản Vệt Nam trên thương trường thế giới
Từ vị trí thứ 30 trong danh sác các nước có xuất khẩu thuỷ sản, Việt Nam
nhạnh chóng vươn lên chiếu trên của thế giới. Năm 2004, Việt Nam đứng thứ 7
trong 10 nước xuất khẩu thuỷ sản hàng đầu thế giới. Năm 2005, với giá trị thuỷ
sản xuất khẩu đạt trên 2,7 tỷ đô, được xuất khẩu tới 107 quốc gia và vùng lãnh
thổ, vị thế đó chắc chắn được nâng lên. Thành công đó có ý nghĩa càng sâu sắc
hơn trong bối cảnh cạnh tranh thương mại thuỷ sản trên thế giới diễn ra ngày
càng gay gắt hơn.
Với sự hỗ trợ của dự án Seaqip của chương trình thúc tiến thương mại
trọng điểm quốc gia, của Bộ thuỷ sản, sự chủ động của VASEP, nhiều hoạt động
tiếp thị đã được thực hiện tại các thị trường chính. Các gian hàng Việt Nam đã có
mặt thường xuyên, qui mô ngày càng lớn hơn, chuyên nghiệp hơn tại các hội chợ
quốc tế lớn tại Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, Bắc Mỹ, EU .
Nhiều hoạt động cũng được chủ động để tiến hành tiếp cận các thị trường
nhỏ như Nga, Đông Âu, Trung đông, Nam phi, Trung và Nam Mỹ, bước đầu đã
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 22
mang lại kết quả. Chỉ tính riêng trong 10 tháng đầu năm 2005, xuất khẩu thuỷ sản
nhất của thị trường, Bộ Thuỷ sản đã hướng dẫn và yêu cầu các doanh nghiệp
nâng cấp điều kiện sản xuất, đổi mới trang thiết bị, công nghệ, áp dụng các tiếp
cận mới như GMP, HACCP, ISO về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Chỉ
trong vòng 7 năm (1998-2005), hầu hết các cơ sở chế biến cũ đã được nâng cấp,
mở rộng đầu tư chiều sâu, bên cạnh các cơ sở chế biến mới ra đời với công nghệ
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 23
tiên tiến. Tổng số cơ sở chế biến công nghiệp tăng từ 164 (1998) lên 439 cơ sở
(2005), trong đó có 296 cở sở chế biến thuỷ sản đông lạnh. Công suất chế biến từ
800 tấn/ngày (1998) tăng lên 3250 tấn/ngày (225). Nhiều cơ sở chế biến thuỷ sản
hiện nay đã ngang với trình độ công nghệ của các nước trong khu vực và bước
đầu tiếp cận với trình độ công nghệ của thế giới.
Từ 18 cơ sở chế biến thuỷ sản được phép xuất khẩu thuỷ sản vào thị
trường EU hồi thăng1/1999, đến 2005 đã lên đến hơn 170 cơ sở, 300 đơn vị đã áp
dụng HACCP, đủ tiêu chuẩn xuất hàng vào Mỹ, 295 đơn vị đủ tiêu chuẩn xuất
hàng vào Trung Quốc. Những doanh nghiệp tiên tiến đã có giá trị xuất khẩu
chiếm trên 80% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản toàn ngành.
Năng lực kiểm soát an toàn vệ sinh cấp ngành và địa phuơng đã được chú
trọng nâng cao. Hàng trăm lượt cán bộ quản lý, thanh tra viên, kiểm nghiệm viên
đã được đào tạo trong và ngoài nước.
Đội ngũ cán bộ các doanh nghiệp có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày
càng cao, được thử thách trong cơ chế thị trường, tham gia thành công quá trình
hội nhập và cạnh tranh kinh tế quốc tế.
ü Xuất khẩu thuỷ sản tăng mạnh đã tạo điều kiện thúc đẩy phát triển
sản xuất nguyên liệu, hình thành mối liên kết dọc và ngang.
Việc mở rộng thị trường tiêu thụ đã tạo đầu ra cho nguyên liệu, thúc đẩy
chuyển đổi cơ cấu sản xuất. Người nuôi trồng thuỷ sản đã nhận thức rõ hơn về
những hạn chế và rủi ro về giá cả sản phẩm tiêu thụ do sự phát triển tự phát gây
ra, hiểu và chấp nhận các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của thị trường.
mặt hàng chưa tốt, hiện tượng cạnh tranh nội bộ không lành mạnh còn diễn ra
phổ biến, thiếu chia sẻ thông tin về giá cả, thị trường, khách hàng, dễ bị chia rẽ
nội bộ, lợi dụng dìm giá, dẫn đến tranh chấp thương mại.
Chưa xây dựng được chiến lược phát triển thị trường dài hạn cho các
nhóm sản phẩm chủ lực, chưa xây dựng được thương hiệu hàng hoá ở cấp quốc
gia và cấp doanh nghiệp. Công tác dự báo thị trường xuất khẩu chưa được quan
tâm một cách đúng mức, còn thiếu cụ thể, chưa thật sự góp phần hướng dẫn sản
xuất phát triển theo nhu cầu của thị trường.
Năng lực giải quyết tranh chấp thương mại còn thấp, doanh nghiệp chưa
chủ động nắm bắt các luật lệ, qui định về thương mại quốc tế, thiếu những luật sư
có đủ trình độ và có kinh nghiệm trong giải quyết tranh chấp nên thường xuyên
bị thua thiệt trong quá trình xử lý tranh chấp.
Năng lực của các cơ sở đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ về nghiên cứu thị
trường và công nhân kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu về cả số lượng và chất
lượng.
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com
Trang 25
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ THỰC TRẠNG
XUẤT KHẨU THUỶ SẢN CỦA CÔNG TY F17 VÀO THỊ
TRƯỜNG EU
I. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY F17
sản phẩm/ngày, một kho bảo quản đông lạnh 60 tấn. Từ đó Công ty đi vào ổn
PDF created with pdfFactory Pro trial version www.pdffactory.com