Trường Đại Học Thương Mại
Khoa Quản Lý Nguồn Nhân Lực
BẢN BÁO CÁO THẢO LUẬN
MÔN
KINH TẾ HỌC LAO ĐỘNG
Lớp học phần: 1101FECO1211
Giáo viên hướng dẫn:
Nhóm thực hiện: Nhóm 13
Hà Nội, Ngày 13 tháng 10 năm 2011
1
Mục lục trang
Danh sách nhóm………………………………………………………….3
Biên bản thảo luận………………………………………………….…….4
Bản đánh giá ý thức làm việc…………………………………………….8
Tên đề tài…………………………………………………………….….11
A. Lời mở đầu……………………………………………… …….… 12
B. Nguyên nhân, bản chất và sự tác động của khủng hoảng
kinh tế tài chính thế giới năm 2008-2009 đến một số nước
trên thế giới và trong khu vực……………………………… ……….12
I. Nguyên nhân khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới năm
2008-2009…………………………… …………………………….….12
II. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến một số
nước trên thế giới và trong khu vực…………………… ………….… 15
1. Tại Mỹ………………………………………………………….……15
2. Tại Anh…………………………………………………………… 16
3. Trung Quốc………………………………………………………… 16
4. Các nước Đông Nam Á…………………………………………… 16
C. Tình hình thất nghiệp tại Việt Nam dưới tác động
của cuộc khủng hoảng……………………………… ……….… ….17
1. Năm 2008…………………………………………………………….17
2. Năm 2009………………………………………………………….…22
- Tìm hiểu khái quát các vấn đề thảo luận.
- Đưa ra các nội dung, vấn đề cần phân tích và làm rõ đề tài thảo
luận.
- Nhóm trưởng phân công công việc cho từng thành viên.
- Lên kế hoạch hoàn thành công việc.
Hà Nội, ngày 07 tháng 10 năm 2011
Thư ký Nhóm trưởng
(Kí, ghi rõ họ tên) (Kí, ghi rõ họ tên)
Bùi Thị Xuyến Lê Thanh Tùng
4
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
o0o
BIÊN BẢN THẢO LUẬN NHÓM 13
Lần : 2
I. Thời gian và địa điểm :
+ Địa Điểm : Sân thư viện.
+ Thời gian : 09h30 ngày 10 tháng 10 năm 2011.
II. Số thành viên tham gia : 10/10
+ Vắng : 0.
III. Nội dung thảo luận :
- Tổng hợp sơ lược bài viết của nhóm.
- Đánh giá nhận xét và đưa ra ý kiến về các bài viết của từng
thành viên trong nhóm.
- Tiếp tục chỉnh sửa bổ sung các ý cho bài báo cáo.
- Đưa ra phương hướng làm slide .
- Phân công thành viên thuyết trình và làm slide.
Hà Nội, ngày 10 tháng10 năm 2011
Thư ký Nhóm trưởng
(Kí, ghi rõ họ tên) (Kí, ghi rõ họ tên)
+ Vắng : 0
IX. Nội dung thảo luận :
- Hoàn thiện slide.
- Duyệt thuyết trình lần cuối.
- Nhóm trưởng nhận xét và đánh giá ý thức làm việc nhóm của
các thành viên.
Hà Nội, ngày 12 tháng 10 năm 2011
Thư ký Nhóm trưởng
(Kí, ghi rõ họ tên) (Kí, ghi rõ họ tên)
Bùi Thị Xuyến Lê Thanh Tùng
7
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc
************
BẢN ĐÁNH GIÁ Ý THỨC LÀM VIỆC NHÓM 12
Sau một tuần làm việc cùng các thành viên nhóm 13 về vấn
đề thảo luận môn học Kinh tế học lao động, nhóm trưởng đã có
những đánh giá khách quan về quá trình làm việc theo nhóm
như sau:
Nhìn chung nhóm đã làm việc nghiêm túc và cố gắng trong
việc hợp tác làm việc theo nhóm, tích cực tìm kiếm tài liệu,
thông tin, đóng góp ý kiến để có thể có được một bài báo cáo và
phần thảo luận đạt được kết quả cao, vượt qua những khó khăn
của nhóm, mà lớn nhất là khó khăn về thời gian nghiên cứu.
Nhóm đã có sự vận dung từ bài học lí thuyết trong quá trình
nghiên cứu vấn đề.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì xen vào đó vẫn
còn có một vài thành viên chưa thực sự tập trung vào công việc,
làm việc chưa thât sự hiệu quả, chưa nhận thức được rõ trách
nhiệm của bản thân đối với công việc của nhóm.
không tránh khỏi các tác động tiêu
cực khiến cầu về lao động tại tất cả
các nghành nghề sản xuất kinh
doanh đều giảm dẫn đến thất
nghiệp gia tăng
11
A. Lời mở đầu
Lao động và việc làm luôn là một vấn đề nóng đối với các quốc gia
khác nhau trên thế giới. Mọi người đều cần phải có việc làm để duy trì
cuộc sống của họ và con cái họ. Do đó, trong nền kinh tế suy thoái vấn đề
việc làm trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Nơi cảm nhận được sức phá hoại đầu tiên của cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu trước hết là Mỹ – nền kinh tế hàng đầu thế giới. Với tính
liên thông cao của hệ thống ngân hàng, tài chính, cuộc khủng hoảng này
ngay lập tức ảnh hưởng nặng nề tới các nền kinh tế hùng mạnh ở châu
Âu, châu Á như: Đức, Cơn bão khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ
đã tàn phá nặng nề nền kinh tế thế giới. Anh, Pháp, Nhật, Singapore
Toàn bộ kinh tế thế giới bị đẩy vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng, hầu
hết các nước đều có mức tăng trưởng âm.Với một độ mở rất cao nên ảnh
hưởng của khủng hoảng và suy thoái kinh tế tới nền kinh tế Việt Nam là
không thể tránh khỏi. Biến cố kinh tế thế giới tác động rõ nét tới độ ổn
định, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, và nhu cầu về lao động ở Việt
Nam.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế cũng như chính trị Việt Nam hiện
nay thì chúng ta có rất nhiều vấn đề cần được quan tâm. Song có lẽ vấn
đề nóng bỏng nhất hiện nay không chỉ có Việt Nam chúng ta quan tâm,
mà nó được cả thế giới quan tâm đó là vấn đề việc làm và thất nghiệp.
B.Nguyên nhân, bản chất và sự tác động của khủng hoảng
kinh tế tài chính thế giới năm 2008-2009 đến một số nước
trên thế giới và trong khu vực.
4 Washington
Mutual
2008 9200vn bị sa thải
Cuộc khủng hoảng tại Mỹ đã nhanh chóng lan sang các nước khác, trước
hết là châu Âu , các nước đang phát triển cũng bị vạ lây nhanh chóng.
Trước hết về nguyên nhân cần phải chỉ ra rằng nhiều thị trường, trong đó
có thị trường hàng hóa, thị trường tài chính, thị trường địa ốc đã phát
triển trên cơ sở nhu cầu ảo, trên cơ sở nhu cầu được quyết định bởi các
nhà đầu cơ.
- Về thị trường hàng hóa –dịch vụ ngày nay đều được phát triển
chủ yếu thông qua các hợp đồng tương lai, các hợp đồng quyền chọn,
hoặc hợp đồng kỳ hạn. Thông qua việc ký kết các hợp đồng này các nhà
đầu cơ đã vẽ nên một thị trường tiêu thụ hàng hóa – dịch vụ khổng lồ và
theo đó các nhà sản xuất – kinh doanh đã đầu tư cho nó để đáp ứng yêu
cầu của các hợp đồng này. Để có nguồn lực tài chính đầu tư cho sự bành
trướng của thị trường chính sách tiền tệ nới lỏng, chính sách phá giá nội
tệ được thực thi để cấp các khoản vay cho các nhà sản xuất kinh doanh,
các nhà đầu tư, cũng như đầu cơ.
- Bên cạnh đó thị trường chứng khoán cũng được cấp nhiệt bởi các
nhà làm giá đầu cơ, bong bóng giá được thổi phồng nhanh chóng. Trong
không khí đó hàng triệu triệu người lao động lập tức bị kích động nhảy
vào thị trường này để mong có một cuộc đổi đời nhanh chóng. Và với vài
phiên giao dịch đầu tiên họ đã bị lôi ngay vào vòng xoáy làm giàu nhanh,
trở thành tỷ phú trong một thời gian ngắn như là một tiềm năng có thật.
Họ vội vàng vay mượn thêm, bán vội những tài sản có thể bán, thế chấp
những tài sàn có thể để vay mượn thêm làm sao có thể sau vài tuần, vài
tháng là có thể đổi đời nhanh chóng.
13
Khi bong bóng đã to đến đủ độ để vỡ, các nhà đầu cơ sành sỏi đã vội
thoát nhanh ra khỏi thị trường, còn lại một đám đông những nhà đầu cơ
khổng lồ do các doanh nghiệp sản xuất ra, nên khủng hoảng tài chính tất
yếu xảy ra.
Theo PGS,TS Ngô Hướng- Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng
TP.HCM bản chất của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế hiện
nay đó là sự đổ vở của sự mất cân bằng ở tất cả các thị trường hiện hữu từ
thị trường tài chính, đến thị trường sản xuất kinh doanh, đến thị trường
lao động.
14
Khi làn sóng đầu tư vào các thị trường tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là
làn sóng tăng lên của các thị trường phi sản xuất, như thị trường tài chính,
thị trường địa ốc, thị trường ngoại tệ, …. tính ảo của thị trường sẽ xuất
hiện. Nghĩa là người mua ở đây không còn là người “tiêu thụ” sản phẩm
mà chủ yếu là những nhà đầu cơ, kể cả trong thị trường sản xuất cũng
mang nặng tính đầu cơ. Quá trình này đã làm cho các thị trường bành
trướng nhanh, GDP tăng lên nhanh chóng, cho đến lúc sự mất cân bằng
tăng lên đỉnh điểm và thị trường không thể tiếp tục chứa đựng những
hàng hóa - dịch vụ mà nó phải chứa đựng, cũng như sự mất cân đối đã đạt
mức quá sức chịu đựng của thị trường và phải đi đến sự sụp đổ.
Do đó có thể nói sự vỡ bong bóng thị trường bất động sản Mỹ không phải
là nguyên nhân gây ra khủng hoảng, mà nó chỉ là cái khởi đầu cho sự
khủng hoảng. Sự khủng hoảng đã tiềm ẩn trong các nền kinh tế, ngay cả
trong nền kinh tế nhỏ và mới phát triển như Việt Nam.
II. Tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến một số
nước trên thế giới và trong khu vực.
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009, các
nước phát triển bắt đầu từ Mỹ là những nước đầu tiên bị ảnh hưởng.
1. Tại Mỹ:
Tính từ khi cuộc suy thoái bắt đầu vào cuối năm 2007, nước Mỹ đã
mất khoảng 4,4 triệu việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ trong tháng
2/2009 tiếp tục tăng mạnh lên 8,1% - mức cao nhất trong hơn một thế kỷ
thất nghiệp cao nhất kể từ cuộc suy thoái kinh tế tại Anh năm 1991.
Con số này là bằng chứng cho thấy số lao động dôi dư đã tăng vọt
do các công ty sa thải hàng loạt nhân công trong bối cảnh cầu giảm mạnh,
khiến họ phải thu hẹp phạm vi sản xuất.
Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm từ 18 đến 24 tuổi đạt 17,2%, không
còn xa so với kỷ lục 17,8% hồi tháng 3/1993.
3. Trung Quốc
Trong 10 tháng đầu 2008, Trung Quốc có thêm 10,2 triệu người
mất việc, chủ yếu ở những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhu cầu tuyển lao
động tại 84 thành phố trên cả nước trong quý III/2008 đã giảm lần đầu
tiên trong nhiều năm qua, xuống còn 5,5%. Trong khi đó, số người tốt
nghiệp đại học sẽ tăng từ 5,59 triệu lên 6,1 triệu người vào năm tới. Tổng
số sẽ có khoảng 24 triệu người tham gia vào thị trường lao động Trung
Quốc, trong lúc các thành phố chỉ cung ứng được ở mức 12 triệu việc
làm.
Khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất là dải các nhà máy duyên hải ở
đông nam, nơi đặt nhiều trụ sở của công ty ngành công nghiệp nhẹ và
may mặc. Tỉnh Quảng Đông - vốn được đánh giá là trung tâm của ngành
công nghiệp chế biến Trung Quốc - có thể sẽ phải đóng cửa 1/5 số nhà
máy chỉ riêng trong tháng 1.2009.
Tuy nhiên ở Trung Quốc đến năm 2010, theo Nhân dân Nhật báo
Trung Quốc: Sau Tết Tân Mão cổ truyền của Trung Quốc, rất nhiều nơi
đã xuất hiện trình trạng thiếu lao động.
4. Các nước Đông Nam Á
Cũng chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các
nước Đông Nam Á cũng lâm vào thời kì suy thoái, thất nghiệp tăng cao.
16
Tuy nhiên tình hình đã có nhiều khởi sắc từ năm 2010 dến nay. Ở một số
nước xuất hiện tình trạng thiếu lao động chất lượng cao.
Ủy ban Thương mại Thái Lan cho biết, các doanh nghiệp vừa và
4,65%. Tức là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm.
17
Danh sách các doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động, thu
hẹp sản xuất ngày càng dài thêm trong các báo cáo của Sở Lao động -
Thương binh và Xã hội TPHCM. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và làn
sóng thất nghiệp đã lan đến Việt Nam - khi hàng ngàn lao động ở các
thành phố đã bị mất việc làm trong những tháng cuối năm này
Trong thông báo gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
TPHCM, Công ty TNHH Sambu Vina Sport cho biết sẽ giảm 224 lao
động kể từ ngày 11-1-2009. Trước đó, nhiều doanh nghiệp cũng đã thông
báo về việc cắt giảm lao động như Công ty Sony Việt Nam, Công ty liên
doanh RSC, Công ty TNHH Castrol BP Petco, Công ty TNHH bảo hiểm
nhân thọ Dai-Ichi Việt Nam, Công ty TNHH tư vấn thiết kế Liên hiệp
Quốc tế với tổng số lao động bị mất việc trên 1.000 người. Hàng ngàn
lao động mất việc cuối năm 2008. Hàng vạn người bị nợ lương, không có
tiền thưởng. Nhiều người có cũng như không, vì tiền thưởng cho một
năm lao động cật lực không đủ ăn bát phở.
Thất nghiệp, bản thân người thất nghiệp không có thu nhập, ảnh
hưởng đến đời sống bản thân, gia đình họ. Doanh nghiệp cũng khổ vì cho
nhân viên nghỉ thì thương, vương thì tội. Mà cho nghỉ thì cũng phải trả
các trợ cấp thôi việc, mất việc. Trong lúc khó khăn thì những khoản này
cũng đâu có nhỏ.
Ngân sách nhà nước cũng bị ảnh hưởng vì không thu được thuế thu
nhập cá nhân, lại còn phải trả các trợ cấp thất nghiệp, phải đầu tư cho các
giải pháp nhằm giảm thất nghiệp…. Khi nạ̣n thất nghiệp tràn lan thì tệ
nạn xã hội: trộm cắp, cướp giật, ma túy, mại dâm, rượu, cờ bạc,…. cũng
tăng theo.
Một bộ phận rất lớn người lao động trong các khu công nghiệp là
người từ các tỉnh nông nghiệp. Họ đi lên thành thị làm công nhân vì ở
quê không có việc làm hoặc làm không đủ sống. Cuộc khủng hoảng tác
Đông Nam Bộ 3,74 4,89 2,05 2,13 1,03 3,69
Đồng bằng sông Cửu
Long 2,71 4,12 2,35 6,39 3,59 7,11
Số người không có việc làm tại nông thôn và thành thị hiện cao hơn con
số này.
Theo Tổng cục Thống kê (TCTK), chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp ở nước
ta những năm gần đây chỉ được tính cho khu vực thành thị, với những
người trong độ tuổi 15-60 với nam và 15-55 với nữ. Tuy nhiên, để đánh
giá về tình hình lao động, còn một chỉ tiêu khác là tỷ lệ lao động thiếu
việc làm. Đây là chỉ tiêu quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực
nông thôn và thành thị, nhưng từ trước đến nay chưa công bố. Ở Việt
Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn tỷ lệ thất nghiệp;
19
trong đó tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị. Với
cách hiểu như vậy, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam hiện là 4,65%, tăng
0,01% so với năm 2007. Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện
là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007. Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm
nông thôn tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%. 5
năm lại đây, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm 0,1-
0,2%/năm. Nhưng do ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới, từ năm
2007 đến nay, tỷ lệ này đang tăng dần. Việt Nam đang tích cực triển khai
các giải pháp để giảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm về đúng quỹ đạo
giảm như các năm trước. Theo dự báo của TCTK, tỷ lệ thiếu việc làm
năm 2009 sẽ tăng lên 5,4% (2008: 5,1% ); trong đó, khu vực nông thôn
khoảng 6,4%.
Khảo sát cho thấy người lao động nhập cư đang đối mặt với tình
trạng giảm thu nhập, nhiều người lao động nhập cư tại các làng nghề và
khu công nghiệp được khảo sát đang quay lại quê nhà. Họ và làng quê họ,
nơi đã từng hưởng lợi từ tiền gửi về do làm thuê, đang gánh chịu nhiều
Xuất khẩu lao động gặp khó khăn
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2008, cả nước giải
quyết việc làm cho 1,35 triệu lao động, trong đó thông qua các chương
trình kinh tế xã hội là 1,1 triệu, xuất khẩu lao động 85.000. 4 thị trường
xuất khẩu lao động trọng điểm của Việt Nam là: Đài Loan (33.000), Hàn
Quốc (16.000), Malaysia (7.800) và Nhật Bản (5.800).Malaysia là thị
trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất. Trong các năm 2005-
2007, mỗi năm quốc gia này tiếp nhận khoảng 30.000 lao động Việt
Nam. Năm 2008, do lo ngại nhiều rủi ro cũng như khan hiếm nguồn lao
động, số người Việt sang Malaysia giảm hẳn, chưa tới 10.000.
Người lao động ở nông thôn đi xuất khẩu lao động rất đông, nhiều
người vay mượn tiền để làm thủ tục đi xuất khẩu lao động, không may
gặp những nước bị ảnh hưởng suy thoái kinh tế trầm trọng, cũng đành tay
21
trắng về nước.
Theo báo cáo tại Hội nghị việc làm và xuất khẩu lao động (XKLĐ) năm
2008, mục tiêu trong 2 năm 2009-2010 là giải quyết việc làm trong nước
cho 3 đến 3,2 triệu lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị
ở mức dưới 5%, giảm tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp
xuống dưới 50% năm 2010. Đến năm 2010, bình quân mỗi năm đưa được
100 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó 60% lao động qua
đào tạo nghề, có 5 đến 10% lao động ở các huyện có tỷ lệ nghèo cao.
2. Năm 2009:
Viện Khoa học lao động và xã hội vừa công bố kết quả từ công
trình nghiên cứu “Khủng hoảng kinh tế và thị trường lao động Việt
Nam”. Ở đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, viện trưởng đã công bố: nếu
tăng trưởng kinh tế trong năm nay đạt từ 5 – 6%, thì số lao động bị mất
việc do khủng hoảng kinh tế là 494.000 người. Thậm chí số người mất
việc sẽ tăng lên khoảng 742.000 người vào năm 2010 nếu nền kinh tế vẫn
chưa thể phục hồi. Điều cần lưu ý, đây là số việc làm bị giảm đi so với
bằng
sông
Hồng 2,69 4,59 2,01 5,46 2,49 6,57
Trung du
và miền
núi phía
Bắc 1,38 3,90 0,95 3,39 2,79 3,50
Bắc
Trung
Bộ và
duyên
hải miền
Trung 3,11 5,54 2,40 5,47 5,44 5,47
Tây
Nguyên 2,00 3,05 1,61 5,73 4,99 6,00
Đông
Nam Bộ 3,99 4,54 3,37 3,31 1,50 5,52
Đồng
bằng
sông Cửu
Long 3,31 4,54 2,97 9,33 5,46 10,49
Khi suy thoái kinh tế đã kết thúc, thì tiến trình hồi phục thường
phải kéo dài trong rất nhiều năm. Do vậy, ngay trong khủng hoảng, thì
việc đánh giá chính xác tình hình để làm cơ sở xây dựng chiến lược
nguồn nhân lực với DN, với chính quyền vẫn có giá trị quyết định tới khả
năng vượt qua khủng hoảng và phát triển. Với người lao động, việc làm
càng dễ mất đi, thì công việc mới càng dễ sinh ra. Nhưng với DN, không
23
ổn định được nguồn nhân lực thì không thể nói tới khả năng bình ổn sản
xuất
trường hợp đăng ký thất nghiệp”- một cán bộ tiếp nhận đăng ký thất
nghiệp ở Trung tâm giới thiệu việc làm TPHCM cho biết. Cả năm 2010
toàn TPHCM chỉ có hơn 67 nghìn người đăng ký thất nghiệp, trong khi
chỉ 7 tháng đầu năm nay các điểm đăng ký thất nghiệp đã tiếp nhận hơn
70 nghìn người. Điều đó cho thấy tình trạng thất nghiệp hiện nay đang ở
mức báo động.
24
4. Năm 2011
Theo số liệu cập nhật từ đầu năm đến hết tháng 9-2011 của Bộ Kế hoạch
- Đầu tư, cả nước đã có 48.700 DN giải thể, ngừng hoạt động (trong đó
có 5.803 DN giải thể, 11.421 DN ngừng hoạt động và 31.477 DN đã
dừng nộp thuế nhưng chưa đăng ký phá sản), so với cả năm 2010 đã tăng
21,8%. Trong khi đó, số DN đăng ký mới cũng giảm 7,8% về số lượng và
giảm 4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Theo Bộ Kế hoạch
- Đầu tư, nguyên nhân phá sản, ngừng hoạt động của các DN là do thời
gian qua lãi suất ngân hàng quá cao khiến DN gặp nhiều khó khăn về
nguồn vốn duy trì sản xuất
Trong ngành dệt may - lĩnh vực dẫn đầu về doanh số xuất khẩu – số
lượng công nhân, đang chứng kiến sự phá sản của nhiều doanh nghiệp
(DN) tư nhân nhỏ mà nguyên nhân chủ yếu là do thiếu đơn hàng. Ở nhiều
lĩnh vực khác, DN vừa và nhỏ cũng đang gặp nhiều khó khăn, trong đó
vướng mắc lớn nhất là khó khăn về vốn và tiêu thụ sản phẩm. Trong
ngành dệt may còn hàng loạt DN khác phá sản nhưng không bán được do
không còn khả năng vận hành. Nhiều DN mạnh trong lĩnh vực hàng hải
như Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), Công ty CP Vận tải
biển Việt Nam (Vosco)… thì đang rao bán tàu. Sản lượng hàng hóa vận
chuyển ngày càng giảm sút trong khi chi phí phát sinh tăng cao là nguyên
nhân chính khiến nhiều hãng tàu rơi vào tình trạng thua lỗ
Năm 2011 lao động xuất khẩu gửi về nước khoảng 1,8 tỷ : Cục Quản lý
lao động ngoài nước cho biết, số kiều hối lao động đi làm việc ở nước