Báo cáo nghiên cứu khoa học đề tài " HÌNH THÁI SIÊU CẤU TRÚC CỦA THẬN CHUỘT ĐƯỢC BẢO QUẢN TRONG DUNG DỊCH VINA - COLLINS CHO MỤC ĐÍCH GHÉP " - Pdf 22


1

HÌNH THÁI SIÊU CẤU TRÚC CỦA THẬN CHUỘT ĐƯỢC BẢO QUẢN
TRONG DUNG DỊCH VINA - COLLINS CHO MỤC ĐÍCH GHÉP
Lê Đình Khánh
Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ghép thận ngày nay đã trở thành một trong những phương pháp điều trị
được chọn lọc đối với các bệnh nhân bị suy thận ở giai đoạn cuối (3,8). Tuy
nhiên kết quả của một trường hợp ghép sẽ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như kỹ
thuật ngoại khoa, tình trạng người cho người nhận và trong đó cũng kể đến thời
gian thiếu máu (TM) và rửa thận. Rửa thận là công việc được tiến hành ngay sau
khi lấy thận ra khỏi cơ thể người cho nhằm loại trừ hết các thành phần máu trong
lòng mạch của thận ghép. Thời gian thiếu máu là thời gian rửa và bảo quản thận.
TM được chia thành TM nóng (TMN) và TM lạnh (TML). Thời gian TML là
thời gian rửa và bảo quản thận. TMN được chia thành thời gian TMN I là thời
gian từ lúc bắt đầu cặp cuống thận đến lúc thận được rửa. Thời gian TMN II là
thời gian tiến hành khâu nối các miệng nối mạch máu lúc ghép (2,3). Trong
phạm vi đề tài này, chúng tôi tìm hiểu các biến đổi về hình thái siêu cấu trúc của
thận chuẩn bị cho ghép khi được bảo quản trrong dung dịch Vina-collins do
HVQY pha chế dưới tác động của tốc độ dịch rửa và thời gian TM.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng: 60 thận chuột cống trắng trưởng thành, cân nặng 400 -
450mg.

2

2.2 Phương pháp nghiên cứu:
Thận được rửa bằng dụng dịch Vina-Collins lạnh 4-6

lượn, chúng tôi phát hiện có hiện tượng thoái hóa của một số ty thể. Bờ bàn chải
hay các vị nhung mao của tế bào ống lượn đều đặn và dày, các vi nhung mao dài,
vươn vào lòng ống, không có hiện tượng dứt quãng. Cầu thận có cấu trúc bình
thường, các tế bào có chân đều đặn, màng đáy không dày, không dứt quãng. Hình 1:Siêu cấu trúc của tế bào ống thận chịu TML 6 giờ (x 6000 lần)
1:Bờ bàn chải thưa, 2:Ty thể thoái hóa

4

+ Nhóm I: Cấu trúc bắt đầu có thay có thể quan sát được (hình 1). Bờ bàn
chải của tế bào ống luợn bắt đầu bị hủy, một số vùng không còn tính liên tục, số
lượng các vị nhung mao ít hơn nhóm 0. Lòng ống lượn xuất hiện một số tế bào
bong vào. Trong bào tương của tế bào ống lượn gần xuất hiện các hốc và các hạt
thoái hóa, nhưng chưa thấy bị biến đổi, một số ty thể đậm đặc (mũi tên), ống
lượn xa ít thấy thay đổi, cầu thận vẫn còn cấu trúc bình thường, các tế bào có
nhân và màng dày không có gì khác biệt so với nhóm 0. Tổ chức kẽ giữa các ống
lượn bắt đầu có hiện tượng giãn ra, mô liên kết không còn dày như ở nhóm 0
kẽ giữa rộng. Mạch máu có cấu trúc bình thường, nhưng có thể quan sát thấy
hiện tượng hồng cầu còn đọng lại trong lòng. Cầu thận ít thấy biến đổi.

6

Hình 4: Siêu cấu trúc cầu thận ở nhóm có tốc độ rửa
tăng gấp 5 lần bình thường (x 6000 lần). Chân tế bào có chân giãn rộng
+ Nhóm V: Các biến đôi ở nhóm này, chúng tôi nhận thấy (hình 4) cầu thận
có sự giãn rộng của các tế bào có chân, tế bào dẹt lại, nhân bị hoại tử nhưng cấu
trúc chung vẫn còn nguyên vẹn. Màng đáy vẫn nguyên vẹn, không dày, không
đứt quãng.
IV. BÀN LUẬN
Các hình ảnh quan sát được dưới kính hiển vi điện tử của chúng tôi phù hợp
với kết quả quan sát của Ardrew PE/1983/( 6), Kallerhoff M/1988/(4), Boventre
JV/1992/(5). Đối với bờ bàn chải, chúng tôi nhận thấy, ở nhóm II có mức độ tổ
thương lớn nhất và nhiều hơn hẳn so với nhóm I. Trong khi đó, giữa nhóm II và
IV, chúng tôi thấy khó có thể phân biệt nhóm nào có mức độ tổn thương lớn hơn.
Pegg DE/1986/(7)lại thấy ràng khi thời gian TMN cũng như TML tăng thì mức
độ thương tổn đều không thể phân biệt được. Sự xuất hiện tình trạng giãn rộng
chân tế bào có chân ở một số tiểu cầu thận trong nhóm V cho thấy tốc độ dịch
rửa cao gấp 5 lần bình thường là giới hạn bắt đầu gây các tổn thương trầm trọng

7


4. Kallerhoff M, Blech M et al. Metabolic, Energetic and structure
changes in protected and unprotected kidney at temprature of 1
0
C
and 25
0
C. Uro., Res 16 (1988) 57-62
5. Marshall VC, Jablonski P et al. Renal Preservation. In kidney
transplantation, Principle and practice (Edi. Morris PJ). 151-182;
1988
6. Pegg DE. Organ Presrvation. Surgical Clinical of North Amercia.
66 (1986) 617-633
7. Rebillar X, Mourad G, et al. Factuer Pronostique du Succes de la
Transplantation renal. La presse Medicale, 40 (1991)
8. Trần Ngọc Sinh, Từ Thành Trí Dũng. Kết quả 27 trường hợp ghép
thận từ người cho sống tại bệnh viện chợ rẫy.
9. Kỷ yếu toàn văn các đè tài khoa học. Tạp chí ngoại khoa (5/2002)
481-483 9

TÓM TẮT
Mục tiêu: Xem xét những thay đổi về hình thái siêu cấu trúc của thận chuột
được bảo quản trong dung dịch Vina - Collins cho mục đích ghép dưới ảnh
hưởng của các yếu tố thời gian thiếu máu nóng (TMN), thời gian thiếu máu lạnh
(TML) và tốc độ dịch rửa thận (TDR).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên
60 thận chuột cống trắng trưởng thành. Các thận được rửa bảo quản bằng dung
dịch Vina-Collins do Học viện Quân Y pha chế, các thận được chia thành những

WIT II 30’, and RP 5 times higher than nornal.
Results: The best image was thegeneration of the proximal tubular
epithelia (The vacuolisation, degeneration of mitochondria, defects of brush
border ), which increased according to the cold ischemia time and warm
ischemia time. The podocytes were stretched when RP increased.
Conclusion: Perfusion with Vina - Collins solution did not cause
significant ultrastructural changes of rat kidney for transplantation. At the same
time, with 30’of the first warm ischemia, 60’ of the second wram ischemia, 6
hours cold ischemia and with the rate of perfusion did not change 5 times higher
than normal, rat kidneys preserved for transplantation caused no important
ultrastructural changes.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status