139
TẠP CHÍ KHOA HỌC, ðại học Huế, Số 66, 2011
NHÂN TỐ TÁC ðỘNG ðẾN SỰ TĂNG CƯỜNG SỨC MẠNH QUÂN SỰ
CỦA IRAN TRONG NHỮNG NĂM ðẦU THẾ KỈ XXI
Nguyễn Văn Tận
Trường ðại học Khoa học, ðại học Huế
Trần Ngọc Vĩ
Học viên cao học, Trường ðại học Sư phạm, ðại học Huế
TÓM TẮT
Bài viết trình bày một cách khái quát quá trình tăng cường sức mạnh quân sự của Iran
trong những năm ñầu thế kỉ XXI. Trên cơ sở ñó, chúng tôi tập trung phân tích nhằm làm sáng tỏ
những nhân tố chủ yếu thúc ñẩy Iran tăng cường sức mạnh quân sự của mình ñó là: Sự bất ổn
của tình hình quốc tế và sự tăng cường sức mạnh quân sự trên thế giới; Sự bất ổn và tăng
cường mua sắm vũ khí ở khu vực Trung ðông; Chính sách ñối ngoại thù ñịch của Mỹ ñối với
Iran. Qua ñó, giúp bạn ñọc có cách nhìn khách quan và tương ñối ñầy ñủ về sự tăng cường sức
mạnh quân sự của Iran trong những năm ñầu thế kỉ XXI, trong bối cảnh khu vực Trung ðông
ñang trở nên hết sức phức tạp và quan hệ giữa Iran với các nước phương Tây ñang ngày càng
căng thẳng xung quanh chương trình hạt nhân của nước này.
1. Khái quát về quá trình tăng cường sức mạnh quân sự của Iran trong những
năm ñầu thế kỉ XXI
Trong những năm gần ñây, các phương tiện thông tin ñã thường xuyên ñưa tin,
bình luận về các cuộc tập trận, thử nghiệm và sử dụng nhiều loại vũ khí mới do Iran tự
sản xuất. Nhất là khi vấn ñề hạt nhân trở nên căng thẳng (từ năm 2006) thì các cuộc tập
trận và thử vũ khí của Iran cũng diễn ra thường xuyên hơn. Gần ñây nhất là các cuộc tập
trận tên lửa “ðại giáo ñồ 4” (27 và 28/9/2009), cuộc tập trận phòng không “Asemane
Velayat 2” (22/11/2009), cuộc tập trận “Nhà tiên tri vĩ ñại 5” (22-24/4/2010). Trong các
cuộc tập trận ngoài nâng cao khả năng tác chiến cho quân ñội, Iran còn tranh thủ thử
Tomcat do Mỹ sản xuất sẽ ñược trang bị thêm bom thông minh thế hệ mới Qased do
Iran chế tạo, máy bay tiêm kích Mig-29 nhập về từ Nga
Ngoài việc tăng cường sức chiến ñấu trên không, thì Iran cũng tăng cường sức
mạnh của lực lượng lục quân, hải quân. Lực lượng lục quân cũng ñược trang bị thêm
các loại ñại bác 155mm, xe tăng hạng trung T95 từ Trung Quốc, hệ thống pháo phản lực
bắn loạt (MLRS), nâng cấp xe tăng T-72 của Liên Xô trước ñây thành xe tăng Safir-74
của Iran
Sức chiến ñấu của hải quân cũng ñược cải thiện ñáng kể. Iran ñã tự chế tạo ñược
tàu ngầm hạng trung Ghaem thế hệ mới có khả năng bắn các loại ngư lôi và tên lửa với
ñội ñặc nhiệm trên tàu (2008). Sản phẩm mới trong cuộc tập trân ngày 22 ñến 24-4-
2010, chiến hạm “siêu tốc” Ya Mahdi, chiến hạm này có thê tàng hình trước các hệ
thống ra ña ñể tấn công phá hủy các mục tiêu.
Ngày 23/8/2010, Iran ñã khai trương các dây chuyền sản xuất hàng loạt hai loại
tàu tấn công cao tốc trang bị tên lửa là Seraj và Zolfaghar. Các loại tàu tàu ngầm mini
Ghadeer do nước này sản xuất, dễ dàng hoạt ñộng trong vùng nước nông, hay tàu chiến
hiện ñại như 3 chiếc tàu ngầm lớp Kilo của Nga cũng ñược trang bị cho hải quân. Sức
*
S-300 là tổ hợp tên lửa phòng không do Nga chế tạo, có khả năng tiêu diệt các mục tiêu tên lửa ñạn ñạo,
và ñược coi là một trong những hệ thống tên lửa chống máy bay mạnh nhất hiện tại. Ra-ña của nó có khả
năng ñồng thời theo dõi ñến 100 mục tiêu, hoặc 12 trong khi tham gia. Thời gian triển khai S-300 là 5
phút. Các tên lửa S-300 là các vòng kín và không cần bảo trì trong suốt thời gian sử dụng chúng. 141
mạnh của hải quân Iran ñược nâng cao khi nước này ñã khánh thành một căn cứ hải
quân mới tại cảng Jask vào ngày 27/10/2010, ñây là căn cứ có tầm quan trọng chiến
lược nằm ở phía ðông Eo biển Hormuz, miền Nam Iran.
chạy ñua vũ trang mới.
Trong thời kì cầm quyền, Tổng thống Bush công bố một kế hoạch khổng lồ với
100 tỷ USD, nhằm chinh phục vũ trụ phục vụ mục ñích quốc phòng, quân sự và hàng
loạt chương trình, dự án phát triển máy bay, tên lửa, hàng không mẫu hạm có ñộ tiên 142
tiến “vượt trước thời ñại”. Ngày 20-2-2008, Mỹ phóng tên lửa chiến lược SM.3 phá vỡ
một vệ tinh mà họ cho là hết hạn sử dụng ñã thúc ñẩy cuộc chạy ñua vũ trang và quân
sự hóa khoảng không vũ trụ, tạo nguy cơ “chiến tranh giữa các vì sao” hết sức nguy
hiểm cho an ninh, hòa bình của thế giới. Báo cáo của Văn phòng Kiểm toán Chính phủ
Mỹ (GAO) ñưa ra ngày 30/3/2009, thì chỉ tính riêng trong tài khóa 2008, 96 dự án quân
sự lớn nhất (chủ yếu dùng ñể phát triển máy bay, tên lửa, tàu chiến và một số thiết bị
khác) ñã tiêu tốn 1.600 tỷ USD, cao hơn 25% so với dự toán ban ñầu [9]
ðối phó với hành ñộng ñơn phương của Mỹ, nhiều cường quốc và cả những
nước nhỏ tăng cương các biện pháp nâng cao sức mạnh quốc phòng, thực hiện hiện ñại
hóa quân ñội; ñồng thời, tăng cường mở rộng hợp tác, tập hợp lực lượng, tạo “ñối
trọng” ñể bảo vệ an ninh, lợi ích quốc gia và ñối phó với mưu ñồ và các hành ñộng ngăn
chặn, kiềm chế của Mỹ.
Nước Nga ñã tuyên bố hiện ñại hóa quân ñội vào năm 2011, hiện ñại hóa vũ khí
trong giai ñoạn 2007 – 2015 với trị giá 198 tỷ USD và liên tiếp tăng chi ngân sách (năm
2009 là 26%, năm 2010 là 8,5%). Trung Quốc và Ấn ðộ hiện là hai nhà nhập khẩu vũ
khí ñứng ñầu thế giới, lần lượt chiếm 11% và 7% thị phần thế giới. Từ sau Chiến tranh
lạnh ñến nay, ngân sách quốc phòng Trung Quốc tăng từ 10% ñến 20% hàng năm. Năm
2009, chính quyền Trung Quốc tăng cho ngân sách quốc phòng 14,9%. Nhật Bản ñã
chuyển Cục Phòng vệ thành Bộ Quốc phòng (9/1/2007) và trong thời gian gần ñây luôn
duy trì mức chi tiêu quốc phòng từ 40 – 50 tỷ USD mỗi năm. Anh và Australia lại có
chiến lược ñầu tư mạnh cho lực lượng hải quân, khi Anh có kế hoạch với 39,6 tỷ USD
ñể mua bốn tàu ngầm hạt nhân. Australia chi 72 tỷ USD ñể hiện ñại hóa quân ñội trong
vòng mười năm. Các nước và vùng lãnh thổ phải chấp nhận cuộc ñua mua sắm khi Iraq
Saudi Arabia, Ai Cập và Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất, ñều coi Iran là quốc gia
của người Shi’ite – như một kẻ thù sắc tộc [10].
Trong bối cảnh ñó, ñể giảm bớt căng thẳng, tại hội nghị giải trừ quân bị ở
Geneva ñại biểu Iran ñã ñề nghị nên có “Một thảo thuận an ninh khu vực, ñược quốc tế
bảo ñảm, dưới sự bảo trợ của Liên hợp quốc” [6].
Nguy hiểm hơn, nước có lực lượng quân sự mạnh nhất khu vực, Israel luôn coi
Iran là thù ñịch. Nguyên Thủ tướng Israel Netanyahu ñã phát biểu: Nước Cộng hòa Hồi
giáo Iran chính là ðức quốc xã ở Trung ðông. Israel ñã có nhiều hành ñộng làm cho thế
giới lo ngại bởi tín hiệu cho một cuộc tấn công quân sự sắp xảy ra, nhất là sau khi ông
Ahmadinejad lên làm Tổng thống Iran (người luôn có những tuyên bố cứng rắn chống
Israel), như cuộc tập trận với Hy Lạp trong năm 2008, hay các tàu chiến và tàu ngầm
của Israel ñược triển khai tuần tra ở kênh ñào Suez trong năm 2009.
Cũng như Mỹ, Israel chưa bao giờ loại trừ khả năng tấn công quân sự Tehran
nhằm buộc nước này từ bỏ chương trình hạt nhân gây tranh cãi mà họ và các cường
quốc phương Tây khác nghi ngờ nhằm chế tạo vũ khí hạt nhân. Khả năng Iran bị Israel
tấn công vì chương trình hạt nhân là không nhỏ vì Israel ñã tấn công vào các cơ sở hạt
nhân của Syria vào tháng 9/2007.
Tình trạng bất ổn, căng thẳng, thù ñịch, ñang ñấy các nước Trung ðông vào một
cuộc chạy ñua mua sắm “chóng mặt” và trở thành khu vực có chi phí quân sự ñứng
hàng thứ tư thế giới chỉ sau Bắc Mỹ, châu Á – Thái Bình Dương, Tây Âu.
Nổi bật trong các dự án mua vũ khí ở khu vực phải kể ñến là sự kiện ñầu năm
2006, Nga ñã ñàm phán ñể bán các máy bay chiến ñấu, tên lửa và xe tăng trị giá 7,5 tỷ
USD cho Algeria. Sau ñó Putin ñã ñàm phán với Lybia một thỏa thuận bán vũ khí trị giá
2,5 tỷ USD. Năm 2007, Israel nhận ñược cam kết viện trợ của chính quyền Mỹ với
khoảng 30 tỷ USD trong 10 năm. Hàng năm ngoài nguồn vũ khí ñược cung cấp bởi các
*
Sau cuộc cách mạng Hồi giáo năm 1979
**
, Iran luôn bị Mỹ xem là một trong
những nguy cơ gây nên sự bất ổn trong khu vực và trên thế giới. Nhất là sau sự kiện
“11/9” - Thảm kịch nước Mỹ, Iran phải ñối mặt với những thách thức nghiêm trọng hơn
từ phía Mỹ, Iran bị Mỹ xếp vào “trục ma quỷ”
***
và Mỹ luôn coi Iran là một trong
những mối ñe dọa hàng ñầu ñến hòa bình, an ninh của Mỹ và thế giới.
An ninh Iran bị ñe dọa nghiêm trọng hơn khi Mỹ tiến hành hai cuộc chiến tranh
lật ñổ chính quyền ở Afghanistan (2001) và Iraq (2003), Iran trở thành “ốc ñảo” nằm
trong vòng vây của Mỹ ở Trung ðông, một liên minh chống Iran hình thành gồm Mỹ,
các nước phương Tây, Israel, các quốc gia Hồi giáo dòng Sunni, một mạng lưới dày ñặc
các căn cứ quân sự ñược thiết lập quanh Iran. Khi cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran nổ ra
**
Cao Văn Liêm, Iran – Lịch sử và những cuộc cách mạng, Tạp chí nghiên cứu châu Phi và Trung ðông,
số 8 (36), tháng 8/2008.
***
Ngày 29/1/2002, trong thông ñiệp liên bang, Tổng thống George W. Bush ñã xếp Iran, cùng với Bắc
Triều Tiên và Irắc vào “trục ma quỉ”. 145
(từ 2003), chính sách thù ñịch của Mỹ ñối với Iran ñược ñẩy cao lên một bước. Cựu
Ngoại trưởng Mỹ Christopher từng nói: “Iran là nơi khởi nguồn các hoạt ñộng khủng bố
chủ yếu nhất trên thế giới… Iran theo ñuổi chế tạo vũ khí hạt nhân là mối nguy hiểm
chính của việc phổ biến hạt nhân… Chính sách của Mỹ ñối với Iran chính là muốn dùng
nhân là không thể chấp nhận ñược, ñồng thời tái khẳng ñịnh “lựa chọn quân sự” vẫn
nằm trên bàn của chính quyền Mỹ. Có hay không mối ñe dọa hạt nhân từ Iran? “ðối với
****
Những chi tiết duy nhất về vụ rắc rối này ñược cung cấp bởi Phó ðô ñốc Mỹ Kevin Cosgriff, chỉ huy
hạm ñội 5 của Mỹ có căn cứ tại Baranh, ông này ñã tuyên bố với các phương tiện thông tin ñại chúng
rằng 5 tàu của Iran ñã phóng với tốc ñộ cao và tiến sát 3 tàu chiến của Mỹ khi 3 chiếc tàu này ñang ñi qua
eo biển Ormuz cách hải phận của Iran 5 km và ñe dọa cho nổ tung tàu chiến của Mỹ. 146
Mỹ, mối ñe dọa từ phía Iran không chỉ là chương trình hạt nhân. Ngay cả khi vấn ñề hạt
nhân Iran ñược giải quyết, cũng khó có thể khắc phục ñược những mâu thuẫn còn lại
giữa Mỹ và Iran. Về thực chất, Mỹ quan tâm trước hết ñến việc thay ñổi cách “ứng xử”
của các nhà lãnh ñạo Iran” [5]. Rõ ràng chưa bao giờ, người Mỹ có ý ñịnh từ bỏ con
ñường “ngoại giao pháo hạm” ñối với Iran.
4. Một vài nhận xét
Từ cái nhìn tổng thể, dưới nhiều góc ñộ, bài viết xin nêu ra một số nhận xét có
tính khái quát như sau:
Trước hết, sức mạnh quốc phòng của Iran ñược tăng cường không nằm ngoài bối
cảnh của khu vực Trung ðông cũng như trên thế giới.
Thứ hai, các mối ñe dọa an ninh quốc gia ñối với Iran ñến từ nhiều hướng, mà
trước hết là từ Mỹ và các nước phương Tây, tiếp sau ñó là Israel - nước luôn coi Iran là
kẻ thù, và những bất ổn khó lường trong khu vực.
Thứ ba, khi vấn ñề hạt nhân của Iran chưa ñược sáng tỏ, thì nguy cơ Iran phải
hứng chịu một cuộc tấn công quân sự là không hề nhỏ.
Do ñó, việc Iran tăng cường sức mạnh quân sự trong những năm ñầu thế kỉ XXI
Our research presents an overview on the process of strengthening military power of
Iran in the early XXI century. On that basis, our analysis is to elucidate the key factors
promoting Iran to increase their military power regarding to the instability of the international
situation and the increase of the world’s military power, instability and increase in weapons
trading the Middle East, and the American Foreign Policy of hostility towards Iran. Thereby,
readers will have an overlook objectively and fairly full on Iran increasing its military strength,
in the context that the Middle East is becoming very complex, and the relationship between Iran
and the Western countries are increasingly tense around the nuclear programs in the country.