Báo cáo nghiên cứu khoa học đề tài " TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM PHỔI NẶNG Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI " - Pdf 22



81
TÌM HIỂU MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
VIÊM PHỔI NẶNG Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI
Phan Xuân Mai, Huỳnh Đình Chiến
Trường Đại học Y khoa, Đại học Huế 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) đặc
biệt là viêm phổi đang là nguyên nhân gây bệnh và tử vong cao nhất cho trẻ em
tại các nước đang phát triển [1],[30]. Tần suất bị NKHHCT giống nhau ở các
nước đang phát triển và đã phát triển nhưng tỷ lệ tử vong bệnh này ở các nước
đang phát triển lại cao hơn nhiều. Người ta ước tính rằng NKHHCT xảy ra trung
bình 4 - 5 đợt / trẻ / năm, đây là gánh nặng to lớn đối với toàn ngành y tế
[1],[2],[31].
Tại Việt Nam, chương trình phòng chống NKHHCT quốc gia (còn gọi là
chương trình phòng chống viêm phổi) bắt đầu được thực hiện từ năm 1984 nhằm 82
mục tiêu chủ yếu là giảm tỷ lệ mắc bệnh và giảm tỷ lệ tử vong do viêm phổi ở trẻ
em dưới 5 tuổi [2].
Năm 1992 Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã cho phép chương
trình NKHHCT quốc gia tiếp tục tiến hành nghiên cứu các biện pháp nhằm giảm
tỷ lệ tử vong do viêm phổi trẻ em [7]. Theo phân loại của TCYTTG viêm phổi trẻ
em được phân 3 mức độ là viêm phổi (VP), VP nặng và VP rất nặng [19],[30].
Trong khi những trẻ bị VP chỉ cần điều trị 1 kháng sinh uống và theo dõi tại nhà,
có tiên lượng tốt thì những trẻ bị VP nặng hoặc VP rất nặng phải được điều trị tại
bệnh viện và có tỷ lệ tử vong cao [3],[6]. Vì vậy để giảm tỉ lệ tử vong do viêm


84
Bao gồm: đánh giá cân nặng lúc sinh, phân loại suy dinh dưỡng (theo 3 mức
độ của TCTTTG), đánh giá thiếu sữa mẹ, đánh giá tình trạng tiêm chủng, xác
định điều trị tại nhà trước khi vào viện, và tìm hiểu kiến thức của bà mẹ khi chăm
sóc con bị viêm phổi.
2.2.3. Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học.

3. KẾT QUẢ
Mẫu nghiên cứu gồm 142 bệnh nhi bị viêm phổi được chẩn đoán theo tiêu
chuẩn của TCYTTG, gồm: 60 trẻ viêm phổi và 82 trẻ viêm phổi nặng.
3.1. Thời gian khởi bệnh trước lúc vào viện
Bảng 1: Thời gian khởi bệnh trước lúc vào viện
< 3 Ngày > 3 Ngày Tg khởi bệnh

Phân loại
n % n % 85
VP nặng
34 41,97 48 78,69
VP
47 58,03 13 21,31
Tổng số
81 100 61 100
Ở nhóm trẻ có thời gian khởi bệnh trên 3 ngày VP nặng chiếm 78,69%,
trong khi ở nhóm có thời gian khởi bệnh dưới 3 ngày VP nặng chiếm 41,97%. Sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê rõ rệt với p < 0,001.
90
10
52.45
47.55
0
10
20
30
40
50
60
70
80
90
< 2500 gam >=2500 gam
VP nàûng
VP
%87

Hình 2: Số trẻ bị VP nặng và VP theo trọng lượng lúc sinh
Ở trẻ có trọng lượng lúc sinh dưới 2500 gam thì VP nặng có 18/20 (chiếm
tỷ lệ 90%), trong khi nhóm trẻ có trọng lượng lúc sinh > 2500 gam VP nặng
chiếm 52,45%, sự khác biệt có ý nghĩa với p = 0,002.
3.4. Tình trạng suy dinh dưỡng
Bảng 3: Tỷ lệ VP nặng và VP theo tình trạng SDD

nghĩa thống kê với p < 0,001.
3.6. Tiền sử viêm phổi
Bảng 5: Tiền sử bị VP giữa 2 nhóm
Tiền sử VP

Có Không 89
Phân loại n % n %
VP nặng
19 76 63 53,84
VP
6 24 54 46,16
Tổng số
25 100 117 100
Trẻ có tiền sử bị viêm phổi thì tỷ lệ VP nặng chiếm tỷ lệ cao 76% trong khi
đó trẻ không có tiền sử bị VP, VP nặng chiếm 53,84% (p < 0,05).
3.7. Thiếu sữa mẹ
Bảng 6: Ảnh hưởng thiếu sữa mẹ lên VP
Thiếu Không thiếu Sữa mẹ

Phân loại
n % n %
VP nặng
43 72,88 39 46,98
VP
16 27,12 44 53,02
tăng cường cho trẻ ăn, uống
Có Không Tăng cường ăn, uống

Phân loại
n % n %
VP nặng
64 53,78 18 78,26
VP
55 46,22 5 21,74
Tổng số
119 100 23 100
Khi bị VP, đối với trẻ không được tăng cường cho ăn hoặc uống, tỷ lệ VP
nặng là 78,26%, còn trẻ được tăng cường cho ăn hoặc uống VP nặng chiếm
53,78% (p < 0,05).
4. BÀN LUẬN
4.1. Thời gian khởi bệnh
Nghiên cứu của chúng tôi thấy nếu thời gian khởi bệnh trên 3 ngày thì ở VP
nặng chiếm tỷ lệ ưu thế so với nhóm VP, 78,69% so với 21,31%. Theo Nguyễn
Việt Cồ và cộng sự [6] thời gian khởi bệnh trên 3 ngày ở những trẻ VP nặng là
73,1%. Điều này cũng phù hợp với các tác giả Nguyễn Hồng Điệp [10], Phan
Xuân Mai [13]. Các tác giả nước ngoài như Spoorner [28], Shann [54] thấy rằng 93
thời gian khởi bệnh trên 3 ngày trước lúc nhập viện có tỷ lệ VP nặng cao, đặc
biệt trên 6 ngày thì tử vong do VP nặng rất cao (72%).
4.2. Điều trị kháng sinh trước lúc nhập viện
Số trẻ của chúng tôi nghiên cứu không được dùng kháng sinh trước khi
nhập viện bị mắc VP nặng nhiều hơn so với trẻ được dùng kháng sinh. Nguyễn
Việt Cồ và CS [4] ghi nhận có 30% số trẻ VP nặng không được dùng kháng sinh

Deb [17] cũng cho rằng tiêm chủng đầy đủ có vai trò bảo vệ trẻ tránh bị VP
và VP nặng.
4.6. Tiền sử bị viêm phổi
Một nghiên cứu bệnh chứng về yếu tố nguy cơ gây tử vong của
Deivanayagam [18] trên 210 trẻ bị VP nặng tại Viện nghiên cứu sức khỏe trẻ em
ở Madras nhận thấy tiền sử bị VP là một yếu tố liên quan đến VP nặng. 95
Shah N [25], Nathoo [23] tại Khoa Nhi Đại học Tổng hợp Zimbabue, và
Lange P [21] ở Copenhagen, Đan Mạch qua nghiên cứu trẻ bị VP dưới 5 tuổi
cũng có ghi nhận tương tự.
4.7. Thiếu sữa mẹ
Bảng 3.14 cho thấy kết quả trẻ thiếu sữa mẹ bị VP nặng chiếm tỷ lệ
72,88%, còn trẻ VP chiếm 27,12%. Sự khác biệt này có ý nghĩa.
Tương tự, các nghiên cứu của Hoàng Minh Thu, Trần Thị Biền [15], Huỳnh
Văn Nên [14], Fonseca [20], Berman S [16] và Deb S.K [17] cũng cho thấy thiếu
sữa mẹ là một yếu tố nguy cơ có liên quan đến VP nặng với OR = 3,9, p < 0,05.
4.8. Nhận biết của bà mẹ về dấu hiệu viêm phổi và viêm phổi nặng
Dấu hiệu thở nhanh hoặc rút lõm lồng ngực, li bì và không uống được là
những dấu hiệu chính để bà mẹ nhận biết VP và VP nặng. Trong nghiên cứu của
chúng tôi, nếu bà mẹ không biết dấu hiệu VP và VP nặng thì có con bị VP nặng
chiếm 62,60%, và tỷ lệ VP chỉ là 37,40%.
Nguyễn Việt Cồ, Bùi Đức Dương [5] qua khảo sát 905 bà mẹ về hiểu biết
dấu hiệu VP và VP nặng thấy có 66% bà mẹ biết dấu hiệu thở nhanh, thở khác
thường. Dấu hiệu li bì lại ít được bà mẹ quan tâm. Đặc biệt, dấu hiệu rút lõm
lồng ngực, không uống được lại rất ít bà mẹ cho là dấu hiệu bệnh nặng (3,7% và
5,7%), ngược lại bà mẹ rất quan tâm đến dấu hiệu sốt cao và trẻ quấy khóc, biếng
chơi (44,6% và 36,5%).


- Thời gian khởi bệnh kéo dài trên 3 ngày (viêm phổi nặng chiếm 78,69%).
- Không được điều trị kháng sinh thích hợp ở cơ sở y tế (viêm phổi nặng
chiếm 73,68%).
- Bà mẹ không phát hiện được dấu hiệu thở nhanh hoặc rút lõm lồng ngực
(viêm phổi nặng chiếm 62,60%).
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
1. Bộ Y Tế (1994), Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em, Tài liệu dùng
trong các trường Đại học và Trung học Y khoa, Hà Nội.
2. Bộ Y Tế (1996), Tài liệu huấn luyện cho cán bộ tuyến tỉnh, huyện,
Chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trẻ em.
3. Bộ Y Tế (1998), Đánh giá và phân loại trẻ bệnh từ 2 tháng và 5 tuổi,
Hà Nội.
4. Nguyễn Việt Cồ, Bùi Đức Dương (1998), “ Kết quả điều tra y tế cơ sở
chương trình NKHHCT”, Hội nghị tổng kết chương trình ARI, Bộ Y Tế,
tr.65.
5. Nguyễn Việt Cồ, Bùi Đức Dương (1998), “Kết quả bước đầu điều tra về
cách xử trí bà mẹ cho trẻ mắc NKHHCT”, Hội nghị tổng kết chương
trình ARI, Bộ Y Tế, tr.56-65.
6. Nguyễn Viết Cồ, Bùi Đức Dương (2000), “Tình hình sử dụng dịch vụ y
tế cơ sở và khả năng tiếp cận của trẻ em với chương trình NKHHCT”,
Hội nghị tổng kết chương trình ARI, Bộ Y Tế, Hà Nội.
7. Nguyễn Tiến Dũng (1995), Một số đặc điểm lâm sàng và sử dụng kháng
sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi, Luận án PTS Khoa học Y
Dược, Trường Đại học Y Hà Nội. 99

pp.111-6.
18. Deivanayagam N , Nedunchelian K (1992), “Risk factors for fatal
pneumonia a case control study”, Indian - Pediatr , 29(10), pp.1529-32.
19. Enarson, Penny (1997), “Management of the child with cough or
difficult breathing”, International Union Against Tuberculosis and Lung
Disease.
20. Fonseca W, Kirkwood BR (1996), “Risk factors for childhood
pneumonia among the urban poor in Fortaleza, Brazil: a case - control
study”, Bulletin (WHO), 2, pp.199-208.
21. Hamid M, Qazi SA (1996), “Clinical, nutritional and radiological
features of pneumonia”, JPMA J Pak Med Assoc, 45(5), pp.95-9. 101
22. Muhe L (1998), “Pattern of resolution of tachypoea and fever in
childhood”, Pneumonia East Afr Med J, 75(2), pp.63-7.
23. Nathoo KJ, NKrumah (1993), “Acute lower respiratory tract in
hospitalized children in Zimbabwe”, Ann Trop Pediatr, 13(3), pp.253-
61.
24. Sehgal V, Sethi GR (1997), “Predictors of mortality in subjects
hospitalized with acute lower respiratory tract infections”, Indian
Pediatr, 34(3), pp.213-9.
25. Shah N, Raman Kutty (1994), “Risk factors for severe pneumonia in
children in South Kerala: a hospital based case- control”, J Trop
Pediatr, pp.201-6.
26. Shann F (1989), “Clinical signs that predict death with severe
pneumonia in children”, Pediatr Infect Dis J, 8(12), pp.852-5.
27. Sow O, Diallo AB (1995), “Acute respiratory infection in children: a
community based study comparing a primary health center and a
pediatric unit, Republic of Guinea”, Tuber - Lung - Dis, 76(1), pp.4-10.
A STUDY ON RISK FACTORS OF SERIOUS PNEUMONIA
IN CHILDREN UNDER 5 YEARS OLD.
Phan Xuan Mai, Huynh Dinh Chien
College of Medicine, Hue University

SUMMARY
In a study realized on 142 children including 82 with pneumonia and 60
with severe pneumonia, it is recognized that there are many factors which may
be risk for the occurence of severe pneumonia. Those factors are: low newborn
weight (<2,500g), insufficient vaccination, malnourished at medium or severe 104
level, insufficient mother milk, prolonged duration of disease before having
examination, not being treated with antibiotics at the first health post. Not being
fed more with drinks and foods and not recognizing the symptoms of quick breath
or sign of chest-indrawing are also the important risk factors.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status