Tiểu luận: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân - Pdf 22

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

TIỂU LUẬN
Đề tài: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
1
MỤC LỤC
CH NG I : LU N C LÝ LU NƯƠ Ậ Ứ Ậ 5
I. Khái ni m giai c p công nhân ệ ấ 5
Chính C.Mác v Ph. ngghen ch rõ: “V n l ch tìm hi u xem à Ă ỉ ấ đề à ở ỗ ể
giai c p vô s n th c ra l gì v phù h p v i t n t i y c a b n thân ấ ả ự à à ợ ớ ồ ạ ấ ủ ả
nó, giai c p vô s n bu c ph i l m gì v m t l ch s “. ch giai c pấ ả ộ ả à ề ặ ị ử Để ỉ ấ
công nhân, các nh kinh i n dùng nhi u khái ni m nhà đ ể ề ệ : giai c p vô ư ấ
s n, giai c p xã h i, giai c p công nhân ho n to n ch d a v o vi c ả ấ ộ ấ à à ỉ ự à ệ
bán s c lao ng c a mình v lao ng l m thuê th k XIX, giai ứ độ ủ à độ à ở ế ỷ
c p vô s n hi n i, giai c p công nhân hi n i, giai c p công nhân ấ ả ệ đạ ấ ệ đạ ấ
i công nghi p nhđạ ệ nh ng c m t ng ngh a bi u th m t khái ư ữ ụ ừ đồ ĩ để ể ị ộ
ni m.ệ 5
II. N i dung v i u ki n khách quan quy nh s m nh l ch s ộ à đ ề ệ đị ứ ệ ị ử
c a giai c p công nhânủ ấ 10
CH NG II. LU N C TH C TI NƯƠ Ậ Ứ Ự Ễ 28
C.K T LU NẾ Ậ 32
A.Mở đầu
Trong thời đại xã hội nào, những người lao động sản xuất trong các
ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp hay những người công nhân
2
đều có vai trò sáng tạo chân chính ra lịch sử và là những người giữ vai trò
quyết định sáng tạo công cụ sản xuất, gía trị thặng dư và chính trị xã hội. Chủ

toàn quốc, mà đây còn là một trong những đề tài nghiên cứu khoa học của
nhiều nhà lý luận, nhà nghiên cứu lịch sử, và của nhiều thế hệ công nhân, sinh
viên.
Sự tác động của sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không chỉ
ảnh hưởng tới sự chuyển biến của lịch sử thế giới là thay đổi từ hình thái kinh
tế này sang hình thái kinh tế khác, thay đổi từ chế độ kinh tế này sang chế độ
kinh tế khác mà còn làm thay đổi tình hình kinh tế chính trị xã hội trên toàn
thế giới, nó tác động tới quá trình sản xuất cụ thể, tới bộ mặt phát triển của thế
giới.
Như vậy, vấn đề đặt ra là: sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là
gì? Nội dung, điều kiện khách quan quy định là gì? Trên phương diện lý luận
và thực tiễn, nó được thể hiện ra sao? Và để củng cố và tăng cường sự lãnh
đạo của giai cấp công nhân cần phải tiến hành những biện pháp gì?
4
B.NỘI DUNG
CHƯƠNG I : LUẬN CỨ LÝ LUẬN
Để giải quyết các câu hỏi trên, ta xét những luận cứ về lý luận .
I. Khái niệm giai cấp công nhân
Chính C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai
cấp vô sản thực ra là gì và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô
sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử “. Để chỉ giai cấp công nhân, các nhà kinh
điển dùng nhiều khái niệm như: giai cấp vô sản, giai cấp xã hội, giai cấp công
nhân hoàn toàn chỉ dựa vào việc bán sức lao động của mình và lao động
làm thuê ở thế kỷ XIX, giai cấp vô sản hiện đại, giai cấp công nhân hiện đại,
giai cấp công nhân đại công nghiệp như những cụm từ đồng nghĩa để biểu thị
một khái niệm.
Trong các thuật ngữ này, tuỳ từng điều kiện mà ta sử dụng. Tuy nhiên,
các thuật ngữ đó đều nói lên: Giai cấp công nhân- con đẻ của nền đại công
nghiệp tư bản chủ nghĩa, giai cấp đại biểu cho lực lượng sản xuất tiên tiến,
cho phương thức sản xuất hiện đại. Ngoài các thuật ngữ trên, C.Mác và

bán như bất cứ một món hàng nào khác, vì thế họ phải chịu hết sự may rủi của
cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”. Tiêu chí này đã nói lên một
trong những đặc trưng cơ bản nhất của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản,
do đó C.Mác và Ph.Ăngghen còn gọi giai cấp công nhân là giai cấp vô sản.
Tại sao C.Mác và Ph.Ăngghen lại đặc biệt nhấn mạnh hai tiêu chí trên?
Sở dĩ như vậy vì đây chính là hai vị trí phân biệt giai cấp công nhân với các
giai cấp khác trong xã hội. Họ phải kiếm được việc làm và họ phải kiếm được
việc làm khi họ bán được sức lao động.
6
Giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông nhân có sự khác nhau. Hai
khái niệm về hai giai cấp này khác nhau ở chỗ: Nông dân sử dụng tất cả các
công cụ sản xuất để tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh; sản phẩm của nông dân
mang tính chất cá nhân và công cụ sản xuất của họ còn thô sơ. Còn giai cấp
công nhân có khác: công cụ sản xuất hiện đại; mỗi công nhân là một mắt khâu
của công việc sản xuất; sản phẩm của họ mang tính chất xã hội.
Giai cấp công nhân cũng khác với vô sản lưu manh. Đó là giai cấp công
nhân không có tư liệu sản xuất, họ tồn tại được là nhờ bị bóc lột giá trị thặng
dư. Còn giai cấp tư sản, họ có nhiều tư liệu sản xuất nhưng lại không có sức
lao động, họ phải thuê giai cấp công nhân và bóc lột sức lao động của giai cấp
công nhân để tồn tại. Đây chính là hai mặt của một vấn đề.
Dưới chế độ chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân lại là những người lao
động tự do, những người bán sức lao động để sống, họ là những người làm
công ăn lương (hay làm thuê), là lao động trong lĩnh vực công nghiệp.
Ngày nay, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nửa sau của thế
kỷ XX, bộ mặt của giai cấp công nhân hiện đại có nhiều thay đổi khác trước.
Từ dự kiến của C.Mác và Ph.Ăngghen, giai cấp công nhân xét về diện mạo có
nhiều biến đổi. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hiện nay đã
vượt xa trình độ văn minh công nghiệp trước đây, sự xã hội hoá và phân công
lao động xã hội mới, cơ cấu của giai cấp công nhân hiện đại; các hình thức
bóc lột giá trị thặng dư đã làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện

của nền công nghiệp hiện đại. Họ là những người trực tiếp đứng máy, không
nằm trong dây truyền sản xuất tự động, không kiểm tra hoạt động máy móc
mà đó là những chuyên gia trực tiếp chăm lo nghiên cứu, sáng chế để không
ngừng cải tiến máy móc nhằm nâng cao chất lợng sản phẩm, năng suất lao
động. Họ là những người hoạt động ở các ngành dịch vụ trực tiếp phục vụ cho
sản xuất như bưu điện, viễn thông, giao thông vận tải, Họ còn là những ng-
ười lao động làm thuê trong các ngành dịch vụ đang trở thành những ngành
công nghiệp thực sự như du lịch, ngân hàng, thông tin Đó còn là những
8
nhân viên thừa hành làm công ăn lương phục vụ cho hệ thống quản lý của các
công ty.
Đối với giai cấp công nhân ở thời kỳ đế quốc ta còn thấy bộ phận
làm thuê trong các doanh nghiệp tư nhân. Xét về tư cách giai cấp, họ còn là
những người làm chủ, nhưng xét về góc độ cá nhân, những người này vẫn bị
bóc lột giá trị thặng dư, do đó họ vẫn mang hai thuộc tính cơ bản của giai cấp
công nhân. Do vậy họ vẫn nằm trong giai cấp công nhân.
Tóm lại, căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân, ta có
thể nói: những người lao động trong các ngành sản xuất công nghiệp, dịch vụ
công nghiệp là công nhân, còn những người làm công ăn lương phục vụ trong
các ngành khác như y tế, giáo giục, văn hoá, dịch vụ( không liên quan đến sản
xuất công nghiệp) là những người lao động nói chung, họ đang được thu
hút vào các tổ chức công đoàn nghề nghiệp nhưng họ không phải là công
nhân.
Dưới chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân trở thành giai cấp nắm chính
quyền, thành giai cấp thống trị nhưng không thành giai cấp bóc lột, họ có
nhiệm vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại
biểu cho toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất cơ bản đã
được công hữu hoá.
Sau khi xoá bỏ được mọi giai cấp, giai cấp công nhân sẽ không còn nữa.
Lúc đó, công nhân sẽ như mọi lao động được giải phóng, đều có điều kiện

một phương thức sản xuất tiên tiến; là giai cấp có hệ tư tưởng độc lập; giai
cấp này phải tiến hành thuyết phục tập hợp và tổ chức quần chúng làm cách
mạng. Và hai nhiệm vụ quan trọng là: tiến hành xoá bỏ chế độ xã hội cũ; xây
dựng hình thái kinh tế xã hội mới tiến bộ hơn.
Khi nghiên cứu về các giai cấp, tầng lớp trong hình thái kinh tế xã hội
chủ nghĩa, C.Mác và Ph.Ăngghen đã rút ra các kết luận:
Một là: giai cấp tư sản trong chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra một lực lượng
sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn, với lực lượng sản xuất bằng tất cả các xã hội
10
trước để lại, tạo ra năng xuất lao động cao hơn nhiều. Do đó giai cấp tư sản đã
từng đóng vai trò tích cực trong lịch sử là tạo năng suất lao động cao.
Hai là: khi lực lượng sản xuất đạt tới trình độ xã hội hoá cao, xuất hiện
mâu thuẫn về quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa mà tập trung là sở hữu tư bản
chủ nghĩa, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Khi lực lượng sản
xuất phát triển, quan hệ sản xuất như cũ thì xuất hiện giai cấp mới để giải
phóng quan hệ sản xuất cũ, đó chính là giai cấp công nhân.
Ba là: việc giai cấp công nhân đứng lên đấu tranh để giải phóng giai cấp,
điều đó không có nghĩa chỉ giải phóng giai cấp mà tập trung giải phóng xã hội
và giải phóng con người vì giai cấp công nhân có lợi ích phù hợp với nhân
dân lao động, với dân tộc và với nhân loại.
Từ những kết luận của C.Mác và Ph.Ăngghen và những khẳng định về
giai cấp công nhân hiện đại là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để, có khả
năng tổ chức và lãnh đạo toàn thể nhân dân lao động tiến hành cuộc cải biến
cách mạng, từ hình thái kinh tế xã hội tư bản sang hình thái kinh tế xã hội
cộng sản chủ nghĩa, giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức, bất công và mọi
hình thức bóc lột. Hay nói cách khác, nội dung tổng quát sứ mệnh lịch sử của
giai cấp công nhân là: xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người
bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể
nhân loại khỏi sự áp bức bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản
văn minh.

Trong lĩnh vực xã hội đó là: phải tiến hành xoá bỏ giai cấp bóc lột; phải
tiến hành xoá bỏ giai cấp nói chung, tạo ra sự bình đẳng trong quan hệ giữa
người với người. Ở đây xoá bỏ giai cấp bóc lột với tư cách là giai cấp chứ
không xoá bỏ các cá nhân vì họ có thể là những cá nhân có ích trong xã hội
mới.
Có thể nói nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân bao gồm
bốn sự nghiệp. Đó là sự nghiệp giải phóng giai cấp; sự nghiệp giải phóng xã
hội, dân tộc; sự nghiệp giải phóng người lao động; và sự nghiệp giải phóng
12
con người. Đây chính là nấc thang phát triển trong sự phát triển của hình thái
kinh tế xã hội. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân phải được thực hiện
trên toàn thế giới.Và để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là
một quá trình lâu dài, gian khổ, phức tạp, nên những người cộng sản phải kiên
trì, không nóng vội, nó phải đợc tiến hành hai giai đoạn: tập trung lực lượng
để giành chính quyền và tập trung lực lượng để xây dựng chế độ xã hội mới.
Trong giai đoạn đầu, giai cấp công nhân và chính đảng của mình tiến
hành cuộc đấu tranh giành chính quyền của cách mạng vô sản. Các bước đấu
tranh đó gồm: thiết lập một chính đảng cộng sản, đề ra cương lĩnh chính trị,
đường lối chiến lược, sách lược, mục tiêu, phương hướng, biện pháp, giải
pháp…;liên minh giai cấp công nhân, nông dân, xác định giai cấp công nhân
là giai cấp lãnh đạo cách mạng; tạo tình thế như điều kiện khách quan trên thế
giới và trong nước…Khi cách mạng vô sản thắng lợi sẽ đập tan nhà nước tư
sản, xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản; xoá bỏ phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa (bản chất là chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất); kế
thừa có chọn lọc tri thức văn hoá truyền thống dân tộc và tri thức văn hoá thời
đại.
Trong giai đoạn hai, khi đã giành được chính quyền – thời kỳ quá độ xây
dựng chủ nghĩa xã hội: Đảng cộng sản và giai cấp công nhân phải tiếp tục đấu
tranh giai cấp trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, với mục đích là giữ
vững chính quyền cách mạng (xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ

Đại công nghiệp càng phát triển, tập trung làm phá sản những người sản xuất
hàng hoá nhỏ, bổ xung lực lượng cho giai cấp công nhân. Mặt khác, đại công
nghiệp phát triển tiếp tục bổ xung lực lượng cho giai cấp công nhân, thu hút
lực lượng lao động từ nhiều ngành, nhiều nghề khác nhau tạo nên tập đoàn
hùng mạnh. Bản thân sự phát triển nền đại công nghiệp cũng yêu cầu cao với
từng người lao động, tập thể lao động về tác phong lao động, kỷ luật lao
động…
14
Dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng
nhất trong các bộ phận tiêu biểu cấu thành của lực lượng sản xuất của xã hội
tư bản. Họ đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất với trình độ xã hội
hoá ngày càng cao. Nhưng chủ nghĩa tư bản lại được xây dựng trên nền tảng
của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư lệu sản xuất mà giai cấp tư sản là đại
diện. Bởi thế, ở phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn tồn tại mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hoá ngày càng cao (mà giai
cấp công nhân là đại diện) với quan hệ sản xuất có tính chất chiếm hữu tư
nhân (mà giai cấp tư sản là đại diện). Đây là mâu thuẫn cơ bản vốn có và
không thể khắc phục được nếu không xoá bỏ đợc chế độ tư bản. Biểu hiện về
mặt chính trị, xã hội của mâu thuẫn cơ bản đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công
nhân và giai cấp tư sản. Sự vận động phát triển của những mâu thuẫn tất yếu
trên dẫn đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, dẫn tới sự sụp đổ của chủ nghĩa tư
bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Như vậy giai cấp công nhân gắn liền
với nền lao động sản xuất vật chất, đi liền sự phát triển của công nghiệp ngày
càng hiện đại kể cả khi xuất hiện nền kinh tế tri thức.
Do không có tư liệu sản xuất, giai cấp công nhân phải bán sức lao
động làm thuê, bị nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư, bị lệ thuộc hoàn
toàn vào quá trình phân phối các kết quả lao động của chính họ. Trong nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân bị toàn bộ giai cấp tư sản bóc
lột, là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, không có quyền trong tổ
chức, điều hành lao động, phân phối sản phẩm lao động. Do đó giai cấp công

diện cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa– phương thức sản xuất tiên
tiến nhất và là lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hoá cao.
Giai cấp công nhân luôn đi đầu trong các cuộc cách mạng và làm cách
mạng cho đến khi thắng lợi. Lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân đối lập với
lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản, nhưng phù hợp với lợi ích, khát vọng giải
phóng của nhân dân lao động. Do đó giai cấp công nhân càng có đủ điều kiện,
16
khả năng trở thành lực lượng tổ chức lãnh đạo các giai cấp và tầng lớp lao
động khác trong công cuộc xoá bỏ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, xây
dựng thành công xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
Giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để, tính triệt
để đó được thể hiện trong các lĩnh vực kinh tế xã hội: Về kinh tế, lợi ích của
giai cấp công nhân đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản, họ là những người
không có tư liệu sản xuất, làm thuê cho các nhà tư bản và bị áp bức bóc lột
nặng nề. Vì thế, họ phải đứng thực hiện cuộc cách mạng vô sản thành công,
đa họ từ địa vị của người làm thuê trở thành người làm chủ bản thân, và làm
chủ xã hội. Về xã hội, khi làm cách mạng, giai cấp công nhân đa cách mạng
đến thành công, đập tan nhà nước tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô
sản – nhà nước của giai cấp vô sản. Tính triệt để cách mạng của giai cấp công
nhân còn được thể hiện ở chỗ nó được vũ trang bởi hệ tư tưởng tiên tiến là
học thuyết Mác – Lênin được đội ngũ tiên phong của nó là Đảng cộng sản
lãnh đạo.
Giai cấp công nhân là giai cấp có tính tổ chức kỷ luật cao: Điều kiện sản
xuất tập trung và trình độ kỹ thuật ngày càng hiện đại, cơ cấu tổ chức sản xuất
chặt chẽ đã tôi luyện cho giai cấp công nhân hiện đại tính tổ chức và kỷ luật
cao, tác phong công nghiệp; trong cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản
thống trị, giai cấp công nhân phải đoàn kết lại, tổ chức chặt chẽ và có tính
cách mạng cao vì cách mạng đòi hỏi đúng thời điểm, thời cơ thuận lợi mới có
thể thành công.
Giai cấp công nhân là giai cấp có bản chất quốc tế: Gắn với nền công

hiện đại hoá đến đâu, những hình thức của nó có thay đổi thế nào đi chăng
nữa thì nó vẫn không ngừng tái sinh ra quan hệ tư bản chủ nghĩa.
Thứ hai, mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong
lòng chế độ tư bản chủ nghĩa đang diễn ra hết sức gay gắt. Giai cấp tư sản đã
và đang tìm mọi cách để điều chỉnh các quan hệ tư bản chủ nghĩa nhằm cứu
18
vãn chế độ thống trị của chúng. Chúng có thể đạt được một số thành tựu và
kết quả nào đấy nhưng vẫn không sao khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của
xã hội tư bản. Dù nơi này hay nơi khác, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn có
khả năng phát triển, nhưng phải thường xuyên đương đầu với các cuộc khủng
hoảng nặng nề, với nhiều cơn suy thoái và nạn thất nghiệp thường xuyên
không tránh khỏi của hàng chục triệu người. Phong trào đấu tranh của giai cấp
công nhân tuy đang đứng trước những thử thách nặng nề, nhưng bức tranh
toàn cảnh của sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới vẫn đang chuẩn bị
những tiền đề khách quan cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử
của mình dù có trải qua những bước thăng trầm, quanh co, nhng nó vẫn tiếp
tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử.
Thứ ba, hiện nay, giai cấp công nhân đã, đang và sẽ phấn đấu trở thành
lực lượng lãnh đạo xã hội, nắm quyền lực nhà nước bằng nhiều con đường
khác nhau. Bởi lẽ đây là lực lượng duy nhất đại diện cho lực lượng sản xuất
hiện đại, cho phương thức sản xuất tiên tiến. Giai cấp công nhân là người đại
diện cho lợi ích và quyền lực của nhân dân, của nhân loại tiến bộ.
Thứ tư, phải chăng, hiện nay trong các nước tư bản phát triển, giai cấp
công nhân không còn bị bóc lột như trước, đã “trung lưu hoá” và có cổ phần
trong xí nghiệp, cho nên giai cấp công nhân không có tinh thần cách mạng nh
trước, không còn có thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng trong cuộc đấu tranh
chống chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa Mác- Lênin không quan niệm một giai cấp
có khả năng lãnh đạo cách mạng vì nó nghèo khổ nhất. Mưu toan đem sự
nghèo khổ để luận giải sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự xuyên tạc
trắng trợn những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin. Sự thực, ở những nước

giai cấp để lãnh đạo cách mạng.Trí thức bao giờ cũng là trí thức của một giai
cấp nhất định và thường là của giai cấp thống trị xã hội.
Từ sự phân tích về địa vị kinh tế xã hội và những đặc điểm xã hội chính
trị của giai cấp công nhân, chính đó là những cơ sở khách quan để khẳng định
giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là đấu tranh để thủ tiêu chế độ tư bản
20
chủ nghĩa và từng bớc xây dựng thành công xã hội mới – xã hội xã hội chủ
nghĩa và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó, giai cấp công nhân phải tự tổ chức ra
chính Đảng của mình, tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, thiết lập
chuyên chính vô sản, thực hiện quá trình cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội
mới – xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.
III. Vai trò của Đảng cộng sản trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử
của giai cấp công nhân
Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, Đảng cộng sản là
nhân tố quyết định trước tiên.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản, trải qua
nhiều giai đoạn từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác. Yếu tố có ý nghĩa
quyết định sự chuyển biến về chất là sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào
phong trào công nhân. Sự thâm nhập đó dẫn đến sự hình thành chính Đảng
của giai cấp công nhân. Sau khi ra đời, Đảng cộng sản với vai trò là người
tiếp tục sự nghiệp kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân trên quy
mô lớn hơn nhằm giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản,
đã xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, chỉ khi nào giai cấp công
nhân tự tổ chức ra chính Đảng của mình để lãnh đạo thì cuộc đấu tranh mới
có thể đảm bảo giành được thắng lợi trọn vẹn.
Đảng cộng sản là bộ phận không thể tách rời của giai cấp công
nhân.Mục đích và lợi ích của Đảng và của giai cấp công nhân là thống nhất.
Không có Đảng cộng sản – hạt nhân chính trị của phong trào công nhân, bản

chủ nghĩa khi điều kiện vật chất và tinh thần cho sự thay đổi đó đã ở mức độ
nhất định, khi đã hoàn thành tình thế cách mạng.Bản chất của cách mạng xã
hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng tiến hành tất cả cuộc cách mạng xã hội,
mang tính chất toàn diện, triệt để, lâu dài. Thể hiện: xoá bỏ tận gốc chế độ ng-
ười bóc lột ngời, xoá bỏ phân chia giai cấp áp bức giai cấp và bóc lột giai cấp;
vì được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực xã hội từ cơ sở hạ tầng tới kiến trúc
thượng tầng, từ sinh hoạt vật chất đế sinh hoạt tinh thần, nên đây là cuộc cách
mạng lôi cuốn đợc đông đảo quần chúng nhân dân, đem lại quyền lợi cho số
đông nhân dân lao động, như Lênin đã từng nói: ”cách mạng xã hội chủ nghĩa
là ngày hội quần chúng”; đây là cuộc cách mạng mang tính chất lâu dài, gian
khổ và phức tạp vì nó mới và chưa có trong lịch sử, do đó phải vừa làm, vừa
rút kinh nghiệm, vừa bổ xung…
C.Mác và Ph.Ăngghen coi cách mạng xã hội chủ nghĩa là một quá trình
liên tục và nhấn mạnh quá trình liên tục, nhưng được chia làm hai giai đoạn:
giành chính quyền và chuyển lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hai ông đã đặt
hy vọng nhiều vào điều kiện nổ ra của cách mạng xã hội chủ nghĩa: nổ ra ở
những nước tư bản phát triển và thắng lợi đồng loạt ở các nớc tư bản phát
triển. Với những nước chậm phát triển theo C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên
cứu về vấn đề này coi đó là một bộ phận của cách mạng vô sản. Nếu cách
mạng xã hội nổ ra ở những nước này thì giai cấp công nhân cần làm : phải
biết kết hợp giữa phong trào công nhân với phong trào nông dân, đồng thời
23
kết hợp với lực lượng tư sản để chống phong kiến (tức là lật đổ hình thái kinh
tế xã hội cũ và thay thế vào đó là hình thái kinh tế xã hội mới cao hơn) bằng
đấu tranh giai cấp hay cách mạng xã hội chủ nghĩa; trong khi kết hợp tư sản
đánh phong kiến, giai cấp công nhân phải ủng hộ mọi phong trào dân chủ,
đồng thời độc lập về mặt đường lối, phải hớng tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa;
giai cấp công nhân phải lôi kéo được lực lượng và phát triển lực lượng; trong
khi đi với giai cấp tư sản đánh chế độ phong kiến, giai cấp công nhân phải
độc lập đường lối, chỉ có thể liên minh tạm thời với giai cấp phong kiến.

ời lao động; cải thiện điều kiện làm việc của người lao động và điều kiện sinh
hoạt vật chất của họ; tập trung phát triển lực lượng sản xuất, tăng nhanh năng
xuất lao động.
Trên lĩnh vực văn hóa: tạo sự chuyển biến trong phương thức và nội
dung sinh hoạt tư tưởng để ảnh hưởng tới sự phát triển; kế thừa, nâng cao,
phát triển giá trị truyền thống văn hoá dân tộc; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân
loại; xây dựng nền văn hoá mới theo lập trường của giai cấp công nhân là giải
phóng con người về mặt tinh thần.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là đấu tranh xoá bỏ xã hội tư
bản và từng bớc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa công sản
trên phạm vi toàn thế giới. Quá trình đó chỉ được thực hiện thông qua cuộc
cách mạng xã hội chủ nghĩa và cách mạng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch
sử vì: nguyên nhân sâu xa dẫn đến cách mạng xã hội chủ nghĩa là mâu thuẫn
vốn có trong lòng xã hội tư bản, đó là mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lư-
ợng sản xuất đến trình độ xã hội hóa cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ
chiếm hữu tư nhân tư liệu sản xuất, mà quan hệ sản xuất này đã trở nên lỗi
thời, kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Biểu hiện về mặt chính trị
xã hội của mâu thuẫn cơ bản đó là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai
cấp tư sản- đây là mâu thuẫn đối kháng và không thể điều hòa, mâu thuẫn này
trực tiếp dẫn đế cách mạng xã hội chủ nghĩa.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status