i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu viết trong bản luận văn này là trung thực và
chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Kết quả có được ở luận văn là do
sự cố gắng làm việc, nghiên cứu và học hỏi một cách nghiêm túc của bản thân.
Tôi xin cam đoan rằng mọi thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ
rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ đều được cảm ơn.
Tác giả
Nguyễn Hồng Đức
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vẽ và đồ thị vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1. Đặc điểm sinh học cua đồng 3
1.1.1. Hệ thống phân loại 3
1.1.2. Đặc điểm hình thái 3
1.1.3. Phân bố và môi trường sống 4
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng 4
1.1.5. Cảm giác, vận động và tự vệ 4
1.1.6. Đặc điểm sinh trưởng, phân biệt giới tính, vòng đời và tập tính sống 5
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.3. Tình hình nuôi cua đồng trong nước 7
Chương 2 :VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 11
2.1.1. Thời gian 11
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu 11
Phụ lục 2: Sức sinh sản cua đồng tháng 6/2010 36
Phụ lục 3: Sức sinh sản cua đồng tháng 7/2010 37
Phụ lục 4: Phân tích ANOVA về số lượng trứng qua các lần theo dõi 38
Phụ lục 5: Năng suất cua cái ngoài tự nhiên và trong ao nuôi vỗ tháng 6/2010 40
Phụ lục 6: Năng suất cua cái ngoài tự nhiên và trong ao nuôi vỗ tháng 7/2010 41
Phụ lục 7: Bảng phân tích ANOVA so sánh năng suất cua con giữa cua bố mẹ thu
ngoài tự nhiên và cua bố mẹ nuôi trong ao 42
Phụ lục 8: Các yếu tố môi trường trung bình qua các tháng trong ao nuôi vỗ 43
Phụ lục 9: Các yếu tố môi trường TB qua các tuần ương nuôi cua con trong chậu .44
Phụ lục 10: Tốc độ tăng trưởng trong quá trình ương nuôi cua con 45
Một số hình ảnh trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm cua đồng 46 v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNTN: Cua bố mẹ thu ngoài tự nhiên
CTA: Cua bố mẹ được nuôi vỗ trong ao
L: Chiều rộng mai cua
Max: Giá trị lớn nhất
Min: Giá trị nhỏ nhất
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
SL: Số lượng
Std: Độ lệch chuẩn
TB: Trung bình
TSD: Tuyến sinh dục
W: Trọng lượng
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1-1: Hình thái ngoài của cua đồng (S. sisnensis) 3
Hình 1-2: Hình đầu mai cua (A), giai giao cấu của cua đực (B), phần đầu càng
cua đực (C) 4
Hình 2-1: Ao nuôi cua đồng bố mẹ ở Trường Cao đẳng Thủy sản – Bắc Ninh 14
Hình 2-2: Cua đồng bố mẹ 15
Hình 2-3: Ương nuôi cua con trong chậu nhựa 15
Hình 2-4: Sơ đồ khối các nội dung nghiên cứu .16
Hình 3-1: TSD của cua cái ở giai đoạn I 17
Hình 3-2: TSD của cua cái ở giai đoạn II 17
phẩm thủy sản bổ dưỡng ngày càng lớn. Do vậy, một số loài thủy sản có giá trị kinh tế
ngoài tự nhiên đã và đang bị khai thác một cách cạn kiệt để phục vụ cho nhu cầu của
thị trường.
Sự phát triển nhanh về công nghiệp, nông nghiệp như hiện nay đã làm cho môi
trường nước ngày càng bị ô nhiễm, gây ảnh hưởng lớn tới môi trường sống của các
loài thủy sinh vật. Sự phát triển mạnh về nông nghiệp đã làm cho sinh cảnh của các
loài thủy sản ngày càng bị thu hẹp, một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng trong đó
có loài cua đồng.
Cua đồng (Somanniathelphusa sisnensis, Bott 1970) là đối tượng thuỷ sản
truyền thống, có giá trị kinh tế ở Việt Nam và là loài thủy sản rất thân thuộc với bà con
nông dân. Cua đồng thuộc lớp giáp xác, bộ 10 chân (Decapoda), thường gặp ở các
thủy vực nước ngọt như ao, hồ, sông, suối, ruộng, vùng đồng bằng và cả trung du miền
núi.
Hiện nay, nguồn lợi cua đồng đã bị suy giảm một cách nghiêm trọng, do bị
khai thác với mức độ ngày càng gia tăng, phương pháp khai thác mang tính hủy diệt
cộng với việc thâm canh tăng vụ, tăng năng suất trong nông nghiệp và thay đổi hệ sinh
thái của các thuỷ vực, cùng với việc sử dụng hoá chất độc hại trong ngành nông
nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật thêm vào đó là sự ô nhiễm nặng nề của môi trường,
nhiều công trình xây dựng khác; ngăn sông, đắp đập, xây dựng cầu cống, xây dựng
thuỷ điện… Nhiều loài thuỷ sản có giá trị kinh tế ngày càng trở nên hiếm hơn và dần
dẫn đến nguy cơ bị diệt vong.
Đứng trước thực trạng suy giảm nguồn lợi tự nhiên như hiện nay, để giải quyết
những khó khăn về con giống và từng bước đưa cua đồng trở thành đối tượng nuôi phổ
biến thì việc “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản và bước đầu thử
nghiệm sinh sản cua đồng (Somanniathelphusa sisnensis, Bott 1970), là rất cần
thiết. 2
Mục tiêu của đề tài
3
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Một số đặc điểm sinh học cua đồng
1.1.1. Hệ thống phân loại
Bộ: Decapoda
Họ: Parathelphusidae
Giống: Somanniathelphusa
Loài S. sisnensis (Bott 1970) Hình 1-1: Hình thái ngoài của cua đồng (S. sisnensis)
1.1.2. Đặc điểm hình thái
+ Cua cái có 4 đôi chân bụng, cua đực có 2 đôi chân bụng biến thành chân giao
cấu.
+ Gờ sau trán bên rõ, dài không tới gốc răng ổ mắt, vùng gốc răng ổ mắt lõm sâu.
Goi (yếm) con đực có phần gốc đốt ngọn rộng, cạnh trên thẳng ngang, phần ngọn có
đầu mút hơi cong.
+ Giáp đầu ngực gồ cao, rộng ngang, trán hơi ngắn, cạnh trước trán hơi lõm ở
quãng giữa, vùng gốc răng ổ mắt lõm sâu, rãnh đầu sâu. Gờ sau trán giữa rõ, thẳng
ngang, gờ sau bên rõ, liên tục, ngắn, không tới vùng gốc răng ổ mắt. Răng cạnh bên
hẹp, nhọn, răng sau cùng hơi chìa về phía bên.
4
Goi con cua đực có phần gốc đốt ngọn rộng, cạnh trên thẳng ngang, gốc ngoài
gần vuông, phần ngọn có đầu mút hơi cong ra phía ngoài, phần bụng có đốt VII bằng
hoặc hơi ngắn hơn đốt VI. Đốt V dài, chiều dài lớn hơn 1/2 chiều rộng lớn nhất. Càng
có đốt ngón dài hơn phần bàn. Hình 1-2. Hình đầu mai cua (A), giai giao cấu của cua đực (B), phần đầu
càng cua đực (C).
điểm này vào trong kỹ thuật nuôi cua lột.
1.1.6. Đặc điểm sinh trưởng, phân biệt giới tính, vòng đời và tập tính sống
- Sinh trưởng : tuổi thọ trung bình của cua từ 1 - 2 năm. Qua mỗi lần lột xác
trọng lượng cua tăng trung bình từ 20-50%.
- Phân biệt giới tính: cua đực khác cua cái ở hình thái của phần bụng (thường
gọi là yếm). Trứng cua nằm ở dưới yếm và nở thành cua con. Cua cái có 4 đôi chân
bụng, cua đực có 2 đôi chân bụng, biến thành chân giao cấu. Thường thì cua đực lớn
nhanh hơn cua cái.
- Vòng đời: cua đồng phát triển vòng đời hoàn toàn trong nước ngọt. Cua cái sau
khi thụ tinh sẽ đẻ trứng và ôm trứng ở phần giáp bụng. Toàn bộ quá trình phát triển ấu
trùng cua diễn ra bên trong cơ thể cua mẹ.
- Tập tính sống: cua đồng sống bò trên đáy và đào hang, hang của cua đồng rất
khác với hang rắn hoặc ếch (có vết chân cua ở cửa hang). Cua có tập tính chui rúc vào
gốc cây, bụi rậm ở sông, rạch, đồng ruộng. Cua đồng có khả năng bò lên cạn và di
chuyển rất xa.
1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong nhiều thập kỷ qua, do sự gia tăng dân số, do môi trường bị ô nhiễm và
chính sách quản lý nguồn lợi chưa chặt chẽ như khai thác quá mức, sử dụng nhiều hoá
chất độc hại nên số lượng cua đồng hiện nay đang dần cạn kiệt. Để giải quyết vấn đề
này nhiều nước trên thế giới đã cố gắng nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp tái tạo,
phục hồi và phát triển nguồn lợi. Nhiều dự án khôi phục đã được thực hiện như thu
gom những con cua ở ngoài tự nhiên để nuôi và áp dụng khoa học và công nghệ nhằm
làm tăng năng suất. Tại một số nước như: Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,
nhờ công tác điều tra nghiên cứu hiện trạng nguồn lợi và đã tiến hành nhiều hoạt động
khôi phục và phát triển như: Sinh sản và ương nuôi, nghiên cứu sinh học phân bố và
6
tính ăn, đặc điểm sinh thái và sinh sản, nhằm khôi phục, bảo tồn và phát triển nguồn
lợi để đảm bảo cân bằng hệ sinh thái.
Trung Quốc đã nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi cua đồng thương phẩm
trong ruộng lúa.
* Cho ăn
- Thức ăn: Cua là loài ăn thịt thức ăn của chúng là trai, ốc, hến, cá tạp… Nếu
thiếu thức ăn chúng sẽ ăn thịt lẫn nhau, nhất là cua mới lột vỏ. Trước khi thả giống bón
lót phân chuồng ủ hoai với lượng 30 - 45 kg/100m
2
để tạo cơ sở thức ăn tự nhiên.
7
Từ tháng nuôi thứ 4 trở đi thả ốc giống vào ruộng (450 - 600 kg/1000m
2
) hoặc
thả tôm ôm trứng để sinh sản thành tôm con làm thức ăn cho cua. Ngoài ra có thể dùng
các loại thức ăn đã tự chế biến.
- Cho ăn: Căn cứ vào mùa vụ, nhiệt độ nước và giai đoạn sinh trưởng của cua
để cho ăn hợp lý.
Từ tháng 3 đến tháng 5, cua chủ yếu ăn thức ăn tinh. Thức ăn nên làm thành các
nắm bột nhão nhỏ. Lượng thức ăn từ 20 - 30% trọng lượng cua.
Từ tháng 6 đến tháng 9, cua ăn khoẻ, mau lớn nên cần cho ăn thêm rong cỏ,
khoai sắn, bổ sung thức ăn viên hoặc thức ăn tự chế từ cá tạp.
Từ tháng 10 trở đi, tăng thêm thức ăn từ động vật. Lượng thức ăn từ 7 - 10%
trọng lượng cua.
Mỗi ngày cho cua ăn 2 lần, buổi sáng sớm và chiều tối. Sáng cho ăn từ 20 -
40%, chiều tối cho ăn chính là 60 - 80% tổng lượng thức ăn hàng ngày.
Đặt sàng ăn để kiểm tra và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp nhu cầu của
cua.
* Chăm sóc
Đảm bảo mực nước trong ruộng từ 5 - 10 cm. Nước quá béo thì phải thay nước.
Từ tháng 6 đến tháng 9, cứ 2 ngày thay nước 1 lần, từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng
10 trở đi mỗi tuần thay nước 1 lần. Mỗi lần thay từ ¼ -1/3 lượng nước ruộng.
Định kỳ bón vôi với lượng 2 - 2,5kg/100m
2
người dân phát triển nuôi cua đồng mang tính tự phát. Kỹ thuật nuôi chủ yếu là dựa
vào kinh nghiệm. Quy trình nuôi thương phẩm cua đồng.
Bước 1. Lựa chọn ruộng nuôi:
Ao nuôi nên có diện tích từ 300 - 1.000m
2
, độ sâu 0.8 - 1.2 m với bờ bao có
chiều rộng đáy 3m, mặt 1 - 1.5m và cao 1 - 1.5m và cao hơn đỉnh lũ ít nhất 0.5m.
Xung quanh bờ phải rào kỹ bằng đăng tre, tấm nhựa, lưới cước và đặt hơi nghiêng
vào ao sao cho cua không thoát ra được. Ao có cống cấp và thoát để thuận tiện cấp
thoát nước cho ao, trước cống nên có 2 lớp đăng tre hay lưới chắn cẩn thận, lớp ngoài
nên đăng theo hình chữ V.
Trong ao nên chất chà làm nơi trú ngụ cho cua khi lột xác tránh hao hụt do
chúng ăn lẫn nhau.
Hoặc nuôi đăng quầng trên ruộng theo địa hình cụ thể từng nơi, có thể theo
hình vuông hay hình chữ nhật. Diện tích 0,5 - 1ha, mức nước sâu lúc cao triều từ 0,8 -
1m, lúc triều cạn phải bảo đảm tối thiểu một nửa diện tích vùng có mức nước sâu 20 -
30cm. Mép trên của lưới có tấm nilon cao 50cm để cua không bò trốn. Chân lưới cắm
sâu xuống bùn 50 - 70cm. Mức nước sâu nên duy trì 0,8 - 1m.
9
Bước 2. Cải tạo ao, ruộng nuôi:
Trước khi nuôi 1 - 2 tuần, tiến hành chuẩn bị ruộng nuôi: tát cạn nước để diệt
các địch hại của cua, bón vôi 7 – 10/100m
3
. Nếu không tháo cạn được thì dùng dễ
cây thuốc cá 1kg/100m
3
nước để diệt các địch hại của cua. Sau đó lấy nước sạch vào
ao, ruộng nuôi.
Ruộng nuôi cua nên sử dụng lúa cấy để tạo những khoảng trống cho cua di
chuyển và tìm thức ăn được thuận lợi, trồng lúa kháng bệnh, thân lá cứng, không bị
cua lúc trời mát và nên thả trên mé bờ để cua tự bò xuống nước.
* Chăm sóc:
Cua đồng là lòai ăn tạp thiên về động vật. Về cơ cấu thành phần thức ăn nuôi
cua nên thực hiện nguyên tắc vừa thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng của cua vừa phải
giảm giá thành, tìm nhiều cách giải quyết thức ăn nuôi cua.
Thức ăn cho cua thịt rất đa dạng bao gồm: cá tạp, tôm còng, ốc, rau, khoai
lang, khoai mì, Nên dùng loại thức ăn chế biến, loại đã chế biến thành hạt vừa có
chất lượng dinh dưỡng cao, vừa không gây ô nhiễm môi trường.
Tỷ lệ cho ăn khoảng 5 - 8% trọng lượng cua và được chia làm hai lần trong
ngày, sáng sớm 20 - 40% và chiều mát cho ăn 60 – 80% tổng lượng thức ăn hàng
ngày, thích hợp nhất là cho cua ăn lúc nước lớn. Thức ăn phải còn tươi tốt, không sử
dụng thức ăn đã bị mốc hoặc ôi thiu.
Cần cố định điểm cho ăn, cứ 100m
2
ruộng có từ 5 – 7 chổ cố định để kiểm tra.
Thức ăn được rải đều trên ruộng nuôi.
Cần căn cứ vào thời tiết, nhiệt độ, tình hình ăn mồi của cua để điều chỉnh
lượng thức ăn hàng ngày một cách linh hoạt.
Tiến hành thay nước hàng ngày khoảng 30 - 50% để giữ môi trường trong
sạch. Hạn chế sử dụng nông dược khi nuôi cua trong ruộng lúa. Điều chỉnh lượng
nước trong ruộng thường xuyên cao từ 15 – 20 cm.
Có thể bổ sung thêm cỏ, rau muống, bèo, vào ruộng để làm nơi trú ẩn, làm
thức ăn bổ sung cho cua và hạ nhiệt.
Thường xuyên kiểm tra đề phòng chỗ rách của lưới để kịp thời khắc phục tránh
thất thoát do cua bò ra ngoài. Điều chỉnh các yếu tố ôxy hòa tan, nhiệt độ, độ pH khi
môi trường nước thay đổi.
Bước 4. Thu hoạch
Khi cua đạt kích thước thương phẩm hoặc giá cao có thể thu hoạch.
Thu tỉa bằng cách đặt lờ, lợp, chà mùn và tát cạn bắt bằng tay nếu thu toàn bộ.
Trong năm 2009 Trường Cao đẳng thủy sản - Bắc Ninh đã thực hiện đề tài
thức nuôi của một số nước khu vực châu Á, điển hình là nuôi cua thương phẩm trong
ruộng lúa và sinh sản một số loại cua như loài: Cà ra (Eriocheir sisnensis) ở Viện Hải
sản để ứng dụng trong việc nghiên cứu quy trình nuôi cua đồng thương phẩm.
2.4.2. Thu thập số liệu thứ cấp
Được lấy từ các bài giảng, giáo trình đã học trên lớp, ngoài ra tài liệu còn được
lấy từ các tạp chí, các trang internet, sách báo.
2.4.3. Phương pháp xác định các chỉ tiêu môi trường
Các yếu tố môi trường được đo đạc bằng dụng cụ, phương pháp chuyên biệt
Đo nhiệt độ nước: nhiệt kế bách phân, đo 2 lần/ ngày vào lúc 8h và 16h.
12
Đo hàm lượng ôxy hòa tan, pH bằng bộ test; đo 2 lần vào lúc 8h và 16h hàng
ngày.
Hàm lượng NH
4
và NO
2
được xác định bằng bộ test nhanh SERA của Đức. Và
NH
4
, NO
2
được đo 2 lần/tuần.
2.4.4. Phương pháp xác định các chỉ tiêu kỹ thuật
- Sức sinh sản tuyệt đối, sức sinh sản tương đối: kiểm tra 30 cá thể/lần sử dụng
cân điện tử có độ chính xác 0,1mg.
Sức sinh sản tuyệt đối = tổng số trứng/ cá thể
Số phôi đếm được
Sức sinh sản tương đối =
Khối lượng cá thể cái
- Theo dõi quá trình phát triển phôi; quan sát trên kính hiểm vi, chụp bằng máy
Wtb2 – Wtb1
DWG =
T2 – T1
Wtb1: Khối lượng trung bình của đàn cua tại thời điển T1 (g)
Wtb2: Khối lượng trung bình của đàn cua tại thời điểm T2 (g)
T1: Thời điểm thu mẫu kiểm tra lần trước (ngày)
T2: Thời điểm thu mẫu kiểm tra lần sau (ngày).
Tăng trưởng tuyệt đối của cua được tính:
%100
lnln
12
12
tt
WW
SGR
W
Với :
2
W
: khối lượng cua đo lần sau (mg)
1
W
: khối lượng cua đo lần trước (mg)
Cua được nuôi trong ao có diện tích từ 300 - 1.000m
2
, độ sâu 0,8 – 1,2 m với bờ
bao có chiều rộng đáy 3m, mặt 1 – 1,5m và cao 1 – 1,5m. Xung quanh bờ ao có rào
bằng đăng tre, tấm nhựa, lưới cước và đặt hơi nghiêng vào ao sao cho cua không
thoát ra ngoài được. Ao có cống cấp và thoát nước để thuận tiện cấp thoát nước cho
ao, trước cống nên có 2 lớp đăng tre hay lưới chắn cẩn thận, lớp ngoài nên đăng theo
hình chữ V.
Trong ao chà làm nơi trú ngụ cho cua khi lột xác tránh hao hụt do chúng ăn lẫn
nhau. Làm các bờ giả xung quanh ruộng làm chỗ trú ẩn cho cua (Hình 2-1) Hình 2-1: Ao nuôi cua đồng bố mẹ ở Trường Cao đẳng Thủy sản – Bắc Ninh
Ao nuôi được vệ sinh và khử trùng bằng vôi bột với lượng 10 - 15 kg/100m
2
,
phơi ao 5 - 7 ngày.
Cua đồng bố mẹ được chọn ngoài tự nhiên. Cua bố mẹ cỡ 50 - 80 con/kg, cua
khỏe mạnh, không gẫy chân, càng, không bị dị tật, không mất phần phụ.
Chọn cua cái chắc, càng vừa phải, yếm to, không bị thương, đầy đủ chân mai,
không có rêu bám. Chọn cua đực khỏe mạnh, có bộ càng to khỏe, yếm nhỏ, không xây
sát (Hình 2-2).
15 Cua đực Cua cái
Các đồ thị và biểu đồ sẽ được vẽ trên Excel. Các giá trị chủ yếu được tính toán
là giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. So sánh sự sai khác giữa các nghiệm thức thí
nghiệm sẽ được phân tích bằng ANOVA 1 nhân tố.
Hình 2-4. Sơ đồ khối các nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản và bước
đ
ầu thử nghiệm sinh sản cua đồng
Đặc điểm sinh học sinh sản Bước đầu thử nghiệm sinh sản
Mùa
vụ
sinh
sản
Cỡ
cua
sinh
sản,
sức
sinh
sản
Quá
trình
giao
vĩ
Theo
dõi
3.1.1. Sự phát triển của TSD
Kết quả giải phẫu quan sát TSD của cua đồng theo các tháng nghiên cứu cho
thấy TSD của cua đồng cua trải qua 4 giai đoạn phát triển khác nhau.
Giai đoạn I: Cua chưa thành thục, TSD mỏng và trong suốt (Hình 3-1)
Giai đoạn II: TSD đang phát triển. Năng trứng rỗng bên trong. Noãn sào có
màu trắng hơi vàng (Hình 3-2).
Giai đoạn III: Giai đoạn này cua đang thành thục. Noãn sào mở rộng và noãn
sào có màu cam (Hình 3-3).
Giai đoạn IV: Vào đầu giai đoạn này TSD tăng tới mức tối đa. Noãn sào có
màu vàng cam hoặc đỏ. Có thể nhìn thấy màu vàng từ mai của cua, nang trứng phồng
to, cua sẵn sàng đẻ trứng (Hình 3-4).
Cua đực có đôi tinh hoàn nằm sau ống tiêu hóa, tinh hoàn có dạng lá mỏng, khi
thành thục có màu trắng sữa lồi lên và có ống dẫn tinh uốn theo hình lò so đổ vào túi
tinh hoàn. (hình 3-5).
Hình 3-1. TSD của cua cái ở giai đoạn I
Hình 3-2. TSD của cua cái ở giai đoạn II
18
Hình 3-3. TSD của cua cái ở giai đoạn III Hình 3-4. TSD của cua cái ở giai đoạn IV
Khi quan sát và giải phẫu sự phát triển của TSD con đực đều ở giai đoạn đạt
trên 50 % ở giai đoạn III và IV [2]. Hình 3-5. TSD của cua đực (mũi tên chỉ TSD)
Sự phát triển các giai đoạn TSD của cua đồng theo thời gian được trình bày ở