Đánh giá hiện trạng nghề khai thác hải sản và giải pháp phát triển nguồn lợi hải sản tại vùng sinh thái rừng ngập mặn cần giờ thành phố hồ chí minh - Pdf 22


1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

NGUYỄN DUY BÂN Luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Khai Thác Thủy Sản
Mã ngành: 60.62.80

Cơ sở đào tạo: Trường Đại Học Nha Trang
Chuyên ngành: Khai Thác Thuỷ Sản
Người hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Động


được các cấp chính quyền thành phố hết sức quan tâm, thể hiện là việc bảo vệ
và phát triển tốt rừng và hệ sinh thái động vật rừng ngập mặn. Riêng nguồn lợi
động vật sống trong vùng nước có rừng cây ngập mặn thì chưa có được biện
pháp quản lý và phát triển hữu hiệu.
Từ những cơ sở thực tiễn nêu trên, tìm hiểu thực trạng nghề khai thác
hải sản, những nguyên nhân trực tiếp làm suy giảm nguồn lợi và biện pháp
nhằm ổn định nguồn lợi đặc trưng trong vùng sinh thái là việc làm hết sức cần
thiết cho hiện tại và tạo thế phát triển bền vững trong tương lai.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa lý luận
- Thực trạng nghề khai thác hải sản và nguồn lợi là dấu hiệu đanh giá độ
bền vững của vùng sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ.
- Tác động của các loại hình khai thác đến nguồn lợi vùng sinh thái rừng
ngập mặn ven biển là nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất trong phát triển
bền vững rừng ngập mặn Cần Giờ.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu bảo vệ tài nguyên, sinh thái rừng ngập mặn, phát triển bền
vững là vấn đề đang được quan tâm từ nhiều phía, nhưng chưa có nghiên cứu

3

về nghề khai thác và tác động của nó đến sinh thái và nguồn lợi hải sản. Đề tài
là tài liệu tham khảo khoa học trong quản lý và phát triển bền vững rừng ngập
mặn Cần Giờ.

Sau khi phát hiện về năng suất sinh học và vai trò to lớn của rừng ngập
mặn đối với thủy sản, nhiều nhà khoa học của các nước phát triển đã được
chính phủ tạo điều kiện đi sâu nghiên cứu ứng dụng vào việc quản lý, sử dụng
hợp lý tài nguyên và bảo vệ rừng.
- Ấn Độ đã thành lập Ủy ban quốc gia về bảo vệ rừng ngập mặn [32]
Rừng ngập mặn Ấn Độ có nhiều ở ven biển phía Tây, phía Đông và trên các
đảo Andaman và Nicobar. Một số nơi rừng ngập mặn bị suy giảm nhanh,
trong những năm cuối thế kỷ 20, diện tích rừng ngập mặn đã mất khoảng 40%
( 674. 000 ha năm 1987; 482. 000 ha năm 1997). RNM bị suy thoái khoảng
7000 ha trong thời gian từ 1975 – 1981. Trên quần đảo Andaman và Nicobar
khoảng 22400 ha bị mất trong những năm từ 1987 – 1997.
Sự gia tăng dân số ở vùng ven biển đang nảy sinh áp lực lên hệ sinh thái
RNM ở rất nhiều quốc gia, từ đó phát sinh những nhu cầu như gỗ xây dựng,
chất đốt, lá lợp nhà…Để bảo đảm cho an toàn RNM và môi trường sinh thái,
phát triển bền vững cần phải có biện pháp quản lý thích hợp đối với cư dân địa
phương và hệ sinh thái RNM. Nhà quản lý phải mở ra những phương cách làm
ăn cho dân như phát triển du lịch, đánh cá, nuôi ong, nghề thủ công dựa trên cơ
sở sử dụng những sản phẩm của RNM, đề ra những chính sách hỗ trợ về kinh
tế cho cộng đồng dân cư địa phương.
Năm 1976 chính phủ Ấn Độ đã thành lập uỷ ban quốc gia RNM trực
thuộc bộ tài nguyên môi trường, nghiên cứu hoạch định những chính sách bảo
vệ và phát triển RNM. Ban hội thẩm gồm các nhà khoa học, nhà nghiên cứu,
các chuyên gia về hệ sinh thái RNM đã nhấn mạnh sự cần thiết phải điều tra
khảo sát nhằm phát triển mở rộng diện tích RNM trên toàn quốc, thống nhất kế
hoạch bảo tồn phát triển RNM bao gồm những bước như sau:
+ Phát hiện và lựa chọn vùng RNM để bảo tồn
+ Chuẩn bị kế hoạch quản lý
+ Xúc tiến nghiên cứu
+ Thông qua những điều luật có liên quan đến trách nhiệm của nhà
nước, trường đại học, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương.

năm 1986 giảm còn 2.4 triệu ha năm 1996. Rừng ngập mặn bị tàn phá mau
chóng làm mất đi chức năng bảo vệ bờ biển, phá huỷ môi sinh của rất nhiều
loài hải sản, môi trường bị ô nhiễm do tăng hàm lượng hoá chất, nhiễm bẩn
vùng nước ven biển, nước mặn xâm thực vào khu vực trồng lúa và đất nông
nghiệp.
Năm 1992 bệnh tôm lây lan trên diện tích lớn nên các ao, vuông bị bỏ
hoang. Nhà đầu tư tìm kiếm và khai thác để nuôi tôm trên những vùng đất mới.
Vùng nuôi tôm chuyên canh và bán chuyên canh của Indonesia được mở rộng
phát triển từ giữa năm 1980 chiếm diện tích là 305. 000 ha. Theo chính phủ
Indonesia thì để bảo đảm môi trường cho các vuông tôm ít nhất phải có
860.000 ha rừng ngập mặn ở khu vực này phải được bảo vệ ( tỷ lệ 1/3 )
Hiện nay Indonesia đang dựa vào ngành công nghiệp đánh bắt tôm thiếu
kiểm soát để thoả mãn nhu cầu xuất khẩu. Hàng năm Indonesia đánh bắt từ 40
đến 170.000 tấn tôm. Năm 2000 Indonesia có sản lượng đánh bắt tôm là
260.400 tấn. Đánh bắt tôm thiếu kiểm soát là nguyên nhân quan trọng dẫn đến
những xung đột giữa cộng đồng ngư dân ven biển với các tàu đánh tôm bởi
hoạt động của các tàu đang làm cạn kiệt các đàn cá ở địa phương. Sản lượng

6

của tàu tôm có lẫn rất nhiều cá con, ước tính với tỷ lệ 26 kg sản phẩm phụ trên
1 kg tôm.
Những hiểu biết về chức năng bảo vệ, môi sinh và những vấn đề liên
quan đến xã hội của hệ sinh thái RNM nhiệt đới làm nổi bật những đòi hỏi phải
có chính sách bảo tồn và quản lý phát triển bền vững RNM.
Trung tâm nghiên cứu phát triển Hoàng gia - vịnh Kung Krabaen - Thailand
[31], là bản báo cáo khoa học về những nghiên cứu và biện pháp quản lý phát
triển thành công trong việc tái tạo sinh thái và nguồn lợi vùng ven bờ vịnh
Kung Krabaen.
Vùng ven biển vịnh Kung Krabaen có diện tích tổng cộng khoảng 5670 ha.


- Đánh giá năng suất sinh học và các điều kiện sinh thái của các thuỷ vực
ven bờ.
Vùng nước ven biển huyện Cần Giờ có sức sản xuất sơ cấp tương đối lớn
trong các hệ sinh thái ven biển nhiệt đới. Tổng cộng sức sản xuất thực vật nổi
và vi sinh đạt cực đại 3gC/m
3
/ngày. Trung bình mỗi ha mặt nước sản xuất 80 –
150 kg hữu cơ tươi, đây là nguồn năng lượng tự sinh chưa tính đến lượng bổ
sung từ biển, thượng nguồn và từ lớp phủ thực vật RNM.
Sinh vật lượng ở khu vực ven biển Cần Giờ khá phong phú, sinh vật đáy có
mật độ trung bình 92,73 cá thể/ m
2
; khối lượng 5.6 g/ m
2
.
- Đánh giá các nguồn lợi hải đặc sản, chủ yếu là các đối tượng có ý nghĩa
kinh tế thuộc nhóm giáp xác, nhuyễn thể và cá biển.
Nguồn lợi cá biển khá phong phú về thành phần loài. Đối với cá sống ở
vùng ven biển nhóm cá ăn mùn bã thực vật chiếm khoảng 40%, nhóm cá ăn
động vật chiếm 60%. Đối với nhóm cá sống ở vùng nước lợ và di cư giữa 2
vùng mặn lợ, nhóm cá ăn mùn bã thực vật chiếm 75%. Điều đó nói lên ưu thế
của RNM đã thu hút phần lớn các loài cá ăn mùn bã thực vật và nuôi dưỡng ấu
trùng cá. Mật độ cá nổi 52.6 kg/ ha, mật độ cá đáy 12.4kg / ha
- Đề xuất một số giải pháp công nghệ phát triển khai thác và nuôi trồng
thuỷ sản bao gồm:
Tăng các loại hình đánh bắt cá nổi ven bờ, phát triển mở rộng nghề khơi
đưa tàu thuyền đánh bắt ở khu vực ngoài nhằm giảm áp lực khai thác ở vùng
nước ven bờ. Đối với nghề nuôi có sự kết hợp giữa các loại hình nuôi quảng
canh, bán thâm canh và thâm canh, chủ động về sản xuất giống tại chỗ, quy

vụ cho việc quản lý sử dụng hợp lý và phát triển bền vững chúng [13].
- Một số báo cáo khoa học thuộc Viện Nghiên Cứu Hải Sàn II và Chi Cục Bảo
Vệ Nguồn Lợi Thuỷ Sản thành phố Hồ Chí Minh có liên quan đến vùng ven biển
Cần Giờ.
1.2. Số liệu liên quan đến hoạt động khai thác hải sản
 Phòng Kinh tế huyện Cần Giờ
- Niên giám thống kê huyện Cần Giờ 2000 - 2005[ 21 ].
- Báo cáo của huyện Cần Giờ về hoạt động kinh tế nghề cá [22] ; [23] ;
[24] ; [25]
 Chi Cục Quản Lý Chất Lượng Và Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản
thành phố Hồ Chí minh.
- Báo cáo kết quả hoạt động của Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành
phố Hồ Chí Minh [17] ; [18] ; [19] ; [20]
2. Cơ sở lý luận
Để đánh giá mức độ khai thác hợp lý tiềm năng nguồn lợi thuỷ sản của
vùng nước, dựa trên phương pháp phân loại ngư cụ của Tresov, Lucasov [3]
đã đưa ra chỉ tiêu nhằm đánh giá quy mô khai thác của nghề khai thác thủy sản
tại vùng biển xác định, cường độ khai thác I, có liên quan đến các đại lượng
đặc trưng cho kỹ thuật hoạt động của ngư cụ như sau:
 Độ mạnh nghề
Là khối nước tác dụng tiềm năng của ngư cụ trong thời gian đánh bắt một
ngày đêm, độ mạnh phụ thuộc vào nguyên lý làm việc và đặc tính của ngư cụ.
Trong trường hợp vùng tác dụng của ngư cụ không thể biểu thị một cách trực tiếp
người ta sử dụng các giá trị tỷ lệ của nó theo công thức thực nghiệm.
Độ mạnh nghề ký hiệu là W đơn vị đo là prom (PM) các ước số là:
deciprom (DPM), Cantiprom (CPM) và miliprom ( MPM).
1PM = 10 DPM = 10
2
CPM = 10
3

s: Chiều dài đường nước chảy qua lưới trong một ngày đêm
- Nhóm 2: Gồm các ngư cụ có khối nước tác dụng phụ thuộc cơ bản vào
bán kính tác dụng của thiết bị hay tác nhân sử dụng để lôi cuốn cá vào khu vực
khai thác. Tác nhân lôi cuốn cá là các trường vật lý như ánh sáng, điện trường, âm
thanh nhưng chủ yếu là ánh sáng đèn điện. Bán kính hình cầu lôi cuốn cá được
xác định bằng thực nghiệm phụ thuộc vào đối tượng khai thác và tác nhân lôi
cuốn có cường độ khác nhau. Độ mạnh nghề của ngư cụ bằng tích số giữa khối
nước hình cầu lôi cuốn cá với hệ số liên tục khai thác của ngư cụ. Hệ số liên tục là
tỷ số giữa thời gian tác dụng của tác nhân lôi cuốn trong chu kỳ khai thác với thời
gian của chu kỳ khai thác.
W = n.t.V/T
n: Số lần khai thác trong một ngày đêm
t: Thời gian tác dụng của tác nhân lôi cuốn cá
V: Thể tích hình cầu lôi cuốn cá
T: Thời gian làm việc của ngư cụ
- Nhóm 3: Gồm những ngư cụ khó có thể xác định chính xác khối nước tác
dụng khi làm việc như lưới rê cố định, đăng, câu… với ngư cụ loại này độ mạnh
nghề xác định bằng cách so sánh sản lượng của nó với một ngư cụ tương đương
khác mà khối nước tác dụng đã biết.

11

W
y
= y.W
x
/x
W
y
: Độ mạnh của lưới rê cố định

M
3

Bảng 1. Công thức xác định cường lực của một số nghề
Nghề Công thức tính
Lưới Kéo
C
1
= a.b.S
tt

Chiều cao miệng lưới: a = 0,06 . L
f

Chiều ngang miệng lưới: b = 0.6 L
f

Chiều dài đường quét lưới thực tế / ngày đêm: S
Lưới Te C
2
= a.b.S
tt

(tương tự lưới kéo)
Lưới Rê
cố định
C
3
= T
t

Chiều dài đường nước chảy qua lưới thực tế / ngày đêm: Stt
Đáy rạo C
6
= abs
tt
Đáy sông C
7
= abs
tt

12

 Hiệu quả nghề
Hiệu quả nghề ký hiệu là E : Là sản lượng khai thác tính trên một đơn
vị cường lực nghề
E = Q / C
Q: Sản lượng khai thác trong năm (tấn)
C: Cường lực nghề khai thác trong năm
Hiệu quả nghề có đơn vị đo là promef (PE), các ước số của nó là
decipromef (DPE), cantipromef (CPE), milipromef (MPE).
1PE = 10 DPE = 10
2
CPE = 10
3
MPE = T/10
9
M
3

 Cường độ khai thác

Phụ lục I
- Xác định các thông số kỹ thuật của ngư cụ : Phiếu điều tra 2006 – 2007 -
Phụ lục IV 13

CHƯƠNG III
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI
HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÙNG BIỂN
1.Vị trí địa lý
Cần Giờ là huyện ven biển nằm ở phía Đông Nam thành phố Hồ Chí Minh,
trung tâm huyện cách thành phố 50 km. Vị trí địa lý nằm trong giới hạn 10
0
22’
14’’ đến 10
0
40’ 09’’ vĩ độ Bắc và 106
0
46’ 12’’ đến 107
0
00’ 59’’ kinh độ
Đông . Diện tích tự nhiên toàn huyện khoảng 71. 361 ha, được bao bọc bởi các
con sông. Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu
ranh giới là các sông Lòng Tàu, Đồng Tranh, Thị Vải và Cái Mép. Phía Nam
và đông Nam giáp với biển Đông. Phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Long
An và Tiền Giang qua sông Nhà Bè và cửa Soài Rạp. Phía Tây Bắc giáp huyện
Nhà Bè thành phố Hồ Chí Minh ranh giới là sông Nhà Bè.
2. Địa hình và địa mạo

lớn vào tháng 9 và tháng 10. Đất khu vực này là đất phèn và phèn mặn với bề
dày an toàn 0.3 đến 0.5m . diện tích khoảng 9544 ha
Đất ngập triều theo chu kỳ năm
Dạng địa hình có cao độ từ 1 – 1.5m , phân bố khá rộng ở phía bắc huyện
thuộc xã Bình Khánh, phía Bắc Tam Thôn Hiệp, chạy dài theo rìa phía Tây từ
Bắc xuống Nam, chiếm phần lớn ở xã Lý Nhơn, một số nằm ở Cần Thạnh và
xã Long Hoà. Diện tích vùng này khoảng 14. 346,3 ha chỉ ngập triều trong
những tháng nước cường hàng năm. Chất đất chủ yếu là đất phèn và phèn mặn.
Đất ngập triều theo chu kỳ tháng
Địa hình có cao độ 0.5 – 1m phân bố trên diện rộng tập trung ở phần giữa
huyện, chiếm phần lớn ở các xã An Thới Đông, Thạnh An, phía Nam xã Tam
Thôn Hiệp, phía Đông xã Lý Nhơn, phía Bắc xã Cần Thạnh và xã Long Hoà.
Khu vực này bị ngập triều ít nhất 2 lần trong một tháng vào các con nước lớn.
Diện tích 16.145,2 ha, đất thuộc loại phèn mặn, tầng mặt là sét và bùn đen màu
nâu bề dày 0.15 – 0.3m. Tiếp theo là tầng đất sét xám nâu có nhiều xác bã thực
vật và bùn hữu cơ, có nơi tập trung thành than bùn.
Đất ngập triều ngày đêm
Địa hình này có cao độ từ 0 – 0.5m nằm ven các rạch chạy sâu vào các
bưng, phân bố không liên tục, tập trung ở khu vực giữa huyện, kéo dài mở
rộng về phía Đông Nam và Nam thuộc địa bàn phía Nam An Thới Đông, Đông
Nam xã Tam Thôn Hiệp, phần lớn xã Lý Nhơn và An Thạnh, một phần thuộc
phía Bắc xã Cần Thạnh và Long Hoà. Dạng địa hình này thường phân bố giữa
các sông rạch lớn, bao gồm các đầm ngập nước thường xuyên khi triều lên, cạn
khi triều rút. Đất thuộc dạng phèn mặn, sét , bùn nhão chứa nhiều xác bã thực
vật và mùn hữu cơ. Bề dày tầng an toàn khoảng 0.1 – 0.2m diện tích khoảng
6.130,9 ha.
Diện tích mặt nước
Mặt nước bao gồm sông ngòi, kênh rạch, khu vực có độ cao dưới 0.m. Do
mật độ dòng chảy khá cao cùng với diễn biến thuỷ triều phức tạp nên xác định
diện tích mặt nước khá khó khăn, ước tính khoảng 22.836 ha chiếm 32% tổng

00
hàm lượng nhôm và sắt thấp.
- Đất Mặn
Nhóm đất mặn chiếm diện tích lớn nhất ở Cần Giờ, phần lớn nằm ở gần
biển, chịu ảnh hưởng trực tiếp của thuỷ triều. Độ ẩm của đất thay đổi theo
chiều sâu của lục địa và theo mùa, còn độ mặn chủ yếu phụ thuộc vào độ cao
so với mặt biển, theo mức độ che phủ của thực bì . Thực vật chủ yếu là rừng
ngập mặn: Đước, sú, vẹt, mắm.
Do phân bố rộng rãi và có nhiều yếu tố hình thành đất như cao trình, vị trí lập
địa, kiểu khai thác, chế độ thuỷ văn nên bản đồ thổ nhưỡng rất đa dạng. Yếu tố
hạn chế của vùng đất này là lớp đất sâu chưa ổn định. Đất chứa nhiều muối,
NaCl, lớp đất sâu chứa một lượng đáng kể lưu huỳnh ở dạng khử.
- Đất cát biển
Đất cát biển của Cần Giờ nằm ở vùng ven biển, cấu tạo bởi lớp trầm
tích, phần lớn là cát thô. Đất mặn nhiều, độ dẫn điện, muối tan, Cl
-
cao và tăng
dần theo chiều sâu. Đất có phản ứng trung tính. Độ phì cao đặc biệt là lân và
kali tổng số ( P: 0,11% và K
2
O: 1,46% )
4. Đặc điểm khí tượng
- Đặc điểm khí hậu
Vùng Cần Giờ mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa xích đạo, chịu tác
động mạnh mẽ và chi phối bởi sự chia cắt của địa hình, là huyện ven biển nên khí
hậu mang tính hải dương. Trong năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa khô kéo dài 5 tháng từ
tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10.
- Số giờ nắng
Huyện Cần giờ có tổng số giờ nắng trong năm từ: 2630 – 2710giờ.
Trong mùa khô số giờ nắng đạt 270 giờ/tháng, cao nhất vào tháng 3 khoảng

0
- 32,3
0
C), nhiệt độ thấp nhất vào khoảng tháng 1 ( 19.3
0
C – 21.1
0
C)
- Độ ẩm và mưa
Độ ẩm không khí ở Cần Giờ cao hơn các nơi khác trong thành phố từ 4
– 8 % . Thời kỳ có độ ẩm cao trùng với mùa mưa ( từ tháng 5 đến tháng 11)
tháng 9 có độ ẩm cao nhất đạt 79 – 83%. . Mùa khô có độ ẩm thấp, thấp nhất
vào tháng 4 đạt 74 – 77% .
Lượng mưa hàng năm tăng dần theo hướng Đông nam – Tây bắc, từ
957mm ở mũi Cần Giờ tăng lên 1400mm ở Tam Thôn Hiệp. Trên 90% lượng
mưa tập trung vào các tháng từ 6 – 10 hàng năm. Lượng mưa trung bình
150mm/ tháng. Tháng 7- 10 có lượng mưa lớn trên 200mm. Mùa mưa thường
xuất hiện những yếu tố thời tiết không thuận lợi cho nghề khai thác thuỷ sản.
Ước tính trong các tháng mùa mưa chỉ có khoảng 18% ngày có thời tiết tốt,
41% số ngày có mưa và giông 35% số ngày có sương mù, 6% số ngày có mưa
lớn gây khó khăn cho hoạt động nghề cá.
- Chế độ gió
Hai mùa gió chính là Đông bắc và Tây nam, bị biến đổi hướng và tốc độ
khi đi vào vùng có địa hình phức tạp của địa phương.
Gió mùa Đông Nam, tương ứng vào mùa khô, hoạt động từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau, tốc độ gió trung bình 1- 3m/s , mạnh vào tháng 2 đến tháng 4.
Xen kẽ gió Đông nam còn có gió Đông bắc và gió Đông. Gió Đông Nam góp
phần quan trọng trong việc đưa nước mặn xâm nhập vào các sông rạch nội
đồng, tác động thẳng góc gây xói lở ở khu vực mũi Cần Giờ.
Gió mùa Tây nam, tương ứng với mùa mưa, hoạt động từ tháng 5 đến

độ mặn cao trên 20 ‰ , ở phía Bắc mùa khô độ mặn có thể trên 10 ‰ , mùa
mưa độ mặn giảm xuống 1- 2 ‰ ( Bình Khánh ).

II. SINH THÁI VÀ NGUỒN LỢI HẢI SẢN
1. Rừng ngập mặn [26],[27],[28]
Diện tích rừng và đất rừng khoảng 32.000 ha, trong đó rừng tự nhiên
10.000 ha, rừng trồng mới 22.000 ha. Đại đa số là RNM với các quần thể như
đước, sú, vẹt, mắm…đặc trưng của hệ sinh thái RNM Đông Nam Bộ. RNM là
hệ sinh thái đặc biệt, quan trọng trong việc bảo vệ đất bồi lấn biển và là môi
trường thích hợp cho nhiều loài động thực vật vùng triều phát triển. Ngoài việc
lưu giữ lượng muối khoáng rừng còn cung cấp lượng mùn bã hữu cơ đạt đến
10.6 tấn /ha/năm, là nguồn thức ăn chủ yếu cho cho các loài sinh vật sống
trong vùng nước. Đối với các thuỷ vực ven biển có RNM, vi sinh đóng vai trò
quan trọng trong việc chuyển hoá các chất hữu cơ và mùn bã thực vật thành
chất khoáng cho thực vật nổi.

19

RNM Cần Giờ cũng nằm trong xu thế chung của RNM Đông Nam Bộ, tốc
độ bị mất rừng rất cao trong vòng 57 năm từ 1943 – 2000, diện tích rừng chỉ
còn khoảng 38% so với năm 1943 (Đỗ Đình Sâm và cộng sự , 2005). Nguyên
nhân chủ yếu do chiến tranh và thời gian gần đây là do phá rừng lấy đất làm
nông nghiệp, khai thác củi gỗ quá mức, ô nhiễm môi trường, phá rừng làm
vuông nuôi tôm. Kết quả nghiên cứu cho thấy RNM Đông Nam bộ có khoảng
32 loài cây ngập mặn trong số 37 loài cây ngập mặn thực thụ ở Việt Nam,
chiếm 84,4% tổng số loài. Một số loài cây ngập mặn đặc trưng là:
Bần trắng ( Snaneratia alba) là quần thể cây ngập mặn tiên phong cố định
trên các bãi mới bồi, ngập nước khi triều cường. Khu vực ven sông Soài Rạp
có xen lẫn với cây Đưng (Rhizophora mucronata).
Quần xã Đước (R. apculata) và Bần trắng phân bố trên các bãi bồi ngập


20

Kết quả nghiên cứu ở 26 trạm ở Cần Giờ [12] cho thấy: Vào mùa khô năng
suất vi sinh biến đổi từ 16 đến 535 mgC/m
3
/ngày. Giá trị thấp nhất đo được ở
khu vực ao nuôi tôm có lớp phủ thực vật nghèo ( Giồng Ao, rạch Tchen). Giá trị
cao nhất thường thấy ở khu vực có rừng ngập mặn che phủ (cửa sông Đồng
Hoà, Thạnh an, Thiềng Liềng ). Vào mùa mưa năng suất vi sinh lớn hơn mùa
khô, biến đổi từ 12.5 đến 660 mgC/m
3
/ngày vị trí cao nhất và thấp nhất cũng
tương tự trong mùa khô.
2. Thực vật nổi
Kết quả phân tích 150 lần thu mẫu [12] cho thấy: có 101 loài thuộc 3
ngành tảo khuê (bacillariophyta), tảo giáp(Pyrrophyta ), tảo lam (Cyanophyta)
trong đó tảo khuê chiếm 88%, lam chiếm 7%, giáp chiếm 5%. Do tính chất tác
động theo mùa của các quá trình động lực sông - biển nên thành phần loài tảo
khá phong phú, có nguồn gốc từ nước ngọt đến biển khơi, trong đó các loài
nước lợ và nước biển khơi rộng muối chiếm ưu thế.: Skeletonema costatum,
Coscinodicus, Chaetoceros. Vào mùa khô các loài biển khơi, rộng muối tiến
sâu vào khu vực nội đồng mật độ trung bình 10
3
– 10
4
tế bào/m
2
. Vào mùa mưa
các loài nước lợ có xu thế tiến ra gần biển mật độ trung bình 10

21

5. Nguồn lợi hải sản
5.1 .Nguồn lợi cá biển
Dựa trên các kết quả nghiên cứu [13] , tại huyện Cần giờ đã xác định được 86
loài thuộc 33 họ, 11 bộ. Trong 86 loài thu được , bộ cá vược (Perciformes) có số
lượng loài nhiều nhất 48 loài chiếm 55.81%, kế đến là hai bộ cá nheo(Siluriformes)
và bộ cá bơn (Pleuronectiformes) với 8 loài mỗi bộ chiếm 9.3%. Đứng thứ 3 là bộ
cá trích(Clupeiformers), 6 loài chiếm 6.98%; bộ cá trình (Anguilliformer) có 5 loài
chiếm 5.81%; bộ cá nóc (Tetraodontiformes) có 4 loài chiếm 4.65%; bộ cá nhái
(Beloniformes) có 3 loài chiếm 3.4%; các bộ còn lại gồm cá đèn lồng
(Aulopiformes), cá cóc (Batrachoidiformes), cá mù làn (Scopaeniformes), bộ mang
liền (Synbranchanfomes); mỗi bộ chiếm 1.16%.
Khu hệ cá ở huyện Cần Giờ có nguồn gốc lợ và mặn do ảnh hưởng của thuỷ
triều và mạng lưới sông rạch thông thương vì vậy các loài cá rộng muối có thể
di cư sâu vào trong sông rạch kiếm ăn sinh sống và sinh sản.
Trong số 86 loài cá bắt gặp ở vùng ven biển Cần Giờ có khoảng 34 loài được
xác định là có giá trị kinh tế, phân chia thành các nhóm như sau:
5.1.1.Cá biển ven bờ ( Coastal marine fishes) [12]
Đây là những loài tương đối rộng muối, độ mặn từ 25 - 32‰ , chúng thường
sống ở vùng nước có độ sâu nhỏ hơn 30m và có quan hệ với rừng ngập mặn
thông qua chuỗi thức ăn có nguồn gốc mùn bã hữu cơ từ các cửa sông đổ ra. Các
họ cá kinh tế thuộc nhóm này gồm:
Dasyatidae Cá đuối bông
Rhinobatidae Cá đuối dài
Carangidae Cá khế
Haemulidae Cá sạo

Clupeidae Cá trích
Cynoglossidae Cá bơn cát
Drapanidae Cá hiên
Engraulidae Cá cơm, cá trỏng
Leognathidae cá liệt
Polynemidae Cá chét
Plotisidae Cá ngát
Sciaenidae Cá đù
Serranidae Cá mú
Soleidae Cá bơn sọc
Rachisentridae Cá bớp, cá móp
Trachiuridae Cá hố
5.1.4. Phân bố và biến động sản lượng cá biển [12]
Trong phạm vi báo cáo này chỉ xét đến sự phân bố và tồn tại của một số
loài cá tồn tại trong phạm vi có độ sâu 30m nước trở vào bờ thuộc đới cửa sông
ven biển.
Đới ven biển: Được phân cách tương đối bằng các đường đẳng mặn giữa
25 – 32 ‰ , các đường đẳng độ trong nằm trong khoảng từ 2 – 8m.
Đới cửa sông: Được phân cách bằng các đường đẳng mặn giữa 3 – 25‰ , các
đường đẳng độ trong suốt từ 0,2 – 2m [12].
Nhìn chung , ranh giới và diện tích của hai đới nói trên biến động khá
mạnh theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố đặc trưng môi trường. Nguyên nhân
của sự biến động là do chế độ mưa lũ và thuỷ triều gây nên. Tất cả các loài cá
sống trong khu vực cũng biến động và thích nghi rất khác nhau đối với các đặc
trưng môi trường nói trên.
Phân tích sản lượng khai thác qua nhiều năm cho thấy một số loài như cá
Khế, cá Hồng, cá Phèn, cá Mối, cá Hố…có xu hướng tiến vào gần bờ trong mùa
khô, trong khi đó một số nhóm cá khác như Trích, Lẹp, cá Dựa, cá Lành Canh,
cá Cơm, cá Lạt, cá Thiều, Bạc Má…có xu thế tiến vào cửa sông trong mùa mưa.


dưỡng ấu trùng cá.
 Thành phần thức ăn và quan hệ dinh dưỡng
Kết quả phân tích mẫu thức ăn của cá ở đới cửa sông ven biển RNM [12]cho
thấy thành phần thức ăn là mùn bã, mảnh hữu cơ không thể thiếu được đối với
cá, nhưng về mặt cơ sở năng lượng của các loại thức ăn ta thấy thức ăn là động
vật đảm bảo nguồn năng lượng cơ bản cho cơ thể phát triển. Chu trình chuyển
hoá năng lượng của các quần xã sinh vật đới ven biển thể hiện như sau: Nguồn
năng lượng cơ sở từ thực vật nổi, thực vật đáy và mùn bã hữu cơ RNM (được
phân huỷ bởi nấm và vi khuẩn) , một phần được chuyển trực tiếp làm thức ăn cho
cá, còn phần lớn được chuyển thành thức ăn cho động vật không xương sống, ấu
trùng động vật giáp xác. Giai đoạn tiếp theo động vật không xương sống, ấu trùng
động vật giáp xác cung cấp 75% năng lượng cho các quần xã cá ven biển. Giai

24

đoạn cuối cùng của quá trình chuyển hoá năng lượng là các chất bài tiết từ cá và
động vật không xương sống sẽ thúc đẩy nhanh sự phát triển của nấm và vi khuẩn.
 Đặc tính sinh sản
Cá biển Cần Giờ mang đặc tính chung của cá biển nhiệt đới, sinh sản
quanh năm, tuy nhiên mùa đẻ của cá tập trung vào 2 giai đoạn chủ yếu là cuối
mùa mưa tháng 11 – 12 và đầu mùa mưa tháng 4 – 5. Một số loài có đặc tính di
chuyển từ vùng cửa sông ra biển đẻ vào đầu mùa mưa như cá Chẽm ( Lates
calcarifer ), cá Chình ( Anguilla) , cá Mú (Epinephelus )… Một số loài di cư từ
biển vào sông để sinh sản như cá Dao ( Pristis microdon ), Cá Thiều ( Arius ), cá
Ngát ( Plotosus ), cá Chét ( Polynemus )…
Nhìn chung, vùng ven bờ cửa sông có RNM là bãi đẻ, là cái “nôi” nuôi
dưỡng ấu trùng cá, như vậy việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ven biển không thể
tách rời với việc bảo vệ thảm thực vật RNM ven bờ.
 Đặc tính sinh trưởng
Kết quả đánh giá thông số sinh trưởng trên 30 loài cá kinh tế chủ yếu

0
C.
Phân tích sản lượng đánh bắt cho thấy có sự biến đổi theo mùa. Vào mùa
khô tôm thường tập trung ở vùng biển cách xa bờ khoảng 20 hải lý độ sâu từ
20 –25m, kích thước trung bình. Vào mùa mưa tôm có kích thước lớn hơn di
chuyển ra xa bờ nơi có độ sâu trên 30m. Tôm nhỏ và ấu trùng sống ở các vùng
nước cạn, cửa sông ven bờ.
 Nguồn lợi tôm Càng – Palaemolidae
Đứng thứ 2 sau tôm biển là nguồn lợi tôm càng Palaemolidae, số liệu
điều tra cho thấy có khoảng 8 loài. Số loài có số lượng tương đối lớn gồm:
Tôm Càng xanh Macrobrachium rosenbergi
Tôm trứng M. equidens
Tép B ò M. lanchesteri
Tôm Sông M.Paemon debilis
Kết quả nghiên cứu cho thấy vào mùa khô ( các tháng 11; 12), tôm càng
xanh có kích thước lớn thường tập trung ở vùng cửa sông nơi có độ mặn 10 –
15
0
/
00
, ấu trùng và tôm con thường bám quanh các chà ở vùng nội đồng , nơi
có độ mặn 1 – 2
0
/
00
. Vào mùa mưa ( tháng 7 ; 8 ), tôm trưởng thành xuất hiện
ở vùng xa bờ, tôm con ở vùng ven bờ và nội đồng khá phong phú.
 Nguồn lợi moi, ruốc, tép (Acetes, lucifer, alpheus)
Moi, ruốc, tép là những loài giáp xác cỡ nhỏ thường sống ở khu vực
rừng ngập mặn. chúng có sức sinh sản nhanh, sinh sản trong mùa mưa, sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status