Bước đầu nghiên cứu xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
ooOooo KHÚC TUẤN ANH
BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG HỆ THỐNG
TRUY XUẤT NGUỒN GỐC THỦY SẢN
TẠI VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT Chuyên ngành: Công nghệ sau thu hoạch
Mã số : 60.54.10
Người hướng dẫn khoa học: Giáo sư – TSKH Nguyễn Trọng Cẩn Nha Trang, 10/2008
LỜI CAM ĐOAN


- Thầy Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng khoa Công nghệ Chế biến Thủy sản
- Thầy Vũ Ngọc Bội, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học - Đại học
Nha Trang
đã hết lòng giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện
đề tài.
Xin cám ơn các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và
thực hiện đề tài.
Xin gửi lòng biết ơn đến gia đình thương yêu đã chia sẻ, động viên tôi
hoàn thành khóa học và luận văn này.

Mục lục

Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các hình vẽ và đồ thị
Lời mở đầu

1
Chương 1 - Tổng quan

4
1.1. Tình hình sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam
những năm gần đây
4

1.4.1. Sự cần thiết phải thực hiện truy xuất nguồn gốc 24
1.5. Tình hình nghiên cứu ứng dụng trong và ngoài
nước
27

Chương 2 - Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 29
2.1. Đối tượng nghiên cứu 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu 29
2.2.1. Tìm hiểu tài liệu về truy xuất nguồn gốc , đánh giá
và phân tích
30
2.2.2. Đề xuất Dự thảo Quy định tạm thời về thiết lập và
áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm
thuỷ sản
30
2.2.3. Nội dung đề xuất phương pháp truy xuất nguồn gốc
cho sản phẩm cá Tra nuôi quy mô công nghiệp

31

Trang
Chương 3 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Tài liệu liên quan đến vấn đề truy xuất nguồn gốc
thủy sản
31
3.1.1. Các quy định của Việt Nam 31
3.1.2. Các quy định quốc tế 33
3.2. Lợi ích của việc thực hiện truy xuất nguồn gốc 37
3.3. Khả năng truy xuất nguồn gốc trong sản xuất thủy

3.6.3. Cơ sở thu gom/sơ chế thủy sản 52
3.6.4. Cơ sở chế biến thủy sản 52
3.6.5. Cơ sở đóng gói/bảo quản thủy sản 53
3.6.6. Cơ sở phân phối thủy sản 53
3.6.7. Cơ sở bán lẻ thủy sản 53
3.7. Giải pháp kỹ thuật cho mục đích truy xuất nguồn
gốc thông dụng trên thế giới

3.7.1. Mã số - Mã vạch (Bar code) 53
3.7.2. Công nghệ nhận dạng sử dụng tần số radio
(MFRD)
60
3.8. Các phương pháp truy xuất nguồn gốc thông dụng
trên thế giới
61
3.9. Những yêu cầu cơ bản của một hệ thống truy xuất
nguồn gốc
63
3.10. Đề xuất cơ sở kỹ thuật của hệ thống truy xuất
nguồn gốc cho sản phẩm cá Tra nuôi
64

3.10.1. Sơ đồ nghiên cứu 64
3.10.2. Đề xuất phương pháp truy xuất nguồn gốc áp
dụng cho sản phẩm cá Tra nuôi công nghiệp
tại Việt Nam
66
Kết luận và kiến nghị 68
- Kết luận 68
- Kiến nghị 68

20. SSCC: Serial Shipping Container Code – Mã số vận chuyển theo serie
21. TBT: Technical Barrie to Trade – Hàng rào kỹ thuật
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

TT Tên bảng Trang

1. Bảng 1.1: Số liệu tăng trưởng ngành thủy sản 10
năm (1997 – 2006)
7

2. Bảng 1.2: Tăng trưởng xuất khẩu thủy sản Việt
Nam 10 năm (1996 – 2007)
9

3. Bảng 1.3 : Một số ví dụ về hàng rào kỹ thuật của
các nước trên thế giới
14

4. Bảng 1.4: Tác động của các hàng rào kỹ thuật
trong thủy sản ở Việt Nam
15

5. Bảng 1.5 : Số lượng Doanh nghiệp CBTS theo thị
trường xuất khẩu
16

6. Bảng 1.6: Các quốc gia nhập xuất khẩu thủy sản
Việt Nam đã công nhận cơ quan thẩm quyền Việt
Nam trong kiểm soát đảm bảo ATVSTP thủy sản
17

đầu 2008
12

6. Hình 1.6 - Thị trường xuất khẩu thủy sản chính 8 tháng
đầu 2008
15

7. Hình 3.1 - Sơ đồ minh họa hệ thống thu gom, cung cấp
nguyên liệu thủy sản nuôi tại Việt Nam
39

8. Hình 3.2 - Cấu trúc mã số GLN 56

9. Hình 3.3: Cấu trúc của mã số GTIN chuẩn EAN.UCC 13 56

10. Hình 3.4: Cấu trúc mã số SSCC 57

11. Hình 3.5: Mã vạch EAN.UCC-128 mã hoá AI 01 (GTIN)

58

12. Hình 3.6: Sơ đồ minh họa quản lý dữ liệu truy xuất nguồn
gốc trong sản xuất
59

13. Hình 3.7: Sơ đồ quản lý dữ liệu truy xuất nguồn gốc trong
phân phối
59

14. Hình 3.8 – Sơ đồ nghiên cứu quá trình cung cấp và truy

cầu.
Là một quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn, đứng hàng thứ 6 trên thế giới,
Việt Nam tất yếu không thể đứng ngoài xu hướng này. Tuy nhiên cho đến nay
Việt Nam vẫn chưa có những hoạt động mang tính chất chính thống cấp Nhà
nước, Ngành trong vấn đề truy xuất nguồn gốc thực phẩm ngoài những hoạt
động mang tính tự phát của các Doanh nghiệp chế biến thủy sản và một số ít các
Doanh nghiệp chế biến thực phẩm khác nhằm đáp ứng yêu cầu của các quốc gia
nhập khẩu.
Do đó, đề tài “Bước đầu nghiên cứu xây dựng hệ thống truy xuất nguồn
gốc thủy sản” là một hướng nghiên cứu cần thiết và phù hợp, đáp ứng được xu
hướng chung của thế giới và nhu cầu của ngành Thủy sản Việt Nam trong thời
điểm này.
Mục tiêu của luận văn:
- Xây dựng và đề xuất Quy định tạm thời về truy xuất nguồn gốc sản phẩm
thủy sản, làm cơ sở cho việc áp dụng các quy định về truy xuất nguồn gốc
sản phẩm thủy sản trong ngành thủy sản Việt nam trong thời kỳ mới.
- Đề xuất phương pháp và giải pháp kỹ thuật áp dụng trong hệ thống truy xuất
nguồn gốc cho sản phẩm cá Tra nuôi công nghiệp xuyên suốt quá trình sản
xuất kinh doanh thủy sản phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

Nội dung nghiên cứu:
- Thu thập và xử lý tài liệu, dữ liệu liên quan đến hệ thống luật lệ, quy định
của các nước liên quan đến xây dựng và áp dụng hệ thống truy xuất nguồn
gốc thực phẩm; Hệ thống văn bản pháp lý của Việt Nam về vấn đề ghi nhãn,
truy xuất nguồn gốc thực phẩm nói chung và thực phẩm thủy sản nói riêng.
- Tìm hiểu các phương pháp, giải pháp kỹ thuật thường sử dụng trong truy
xuất nguồn gốc
- Nghiên cứu các quan điểm về truy xuất nguồn gốc trong thiết lập và áp dụng
hệ thống truy xuất nguồn gốc trên thế giới.
- Phân tích rút ra kinh nghiệm để đề xuất các nội dung phù hợp với điều kiện


 Chương 1 - Tổng quan

1.1. Tình hình sản xuất và xuất khẩu thủy sản Việt Nam những năm gần
đây: [6], [19], [91], [102], [103], [104]
Trong 15 năm trở lại đây, ngành thủy sản Việt Nam đã có những bước
tiến vượt bậc và đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đến nay đã
đứng thứ 4 về giá trị kim ngạch xuất khẩu và từ năm 2002, Việt Nam đã trở
thành nước xuất khẩu thủy sản đứng thứ 7 trên thế giới.
Ngành thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia
có tốc độ tăng trưởng rất nhanh so với các ngành kinh tế khác. Tỷ trọng GDP
của ngành Thuỷ sản trong tổng GDP toàn quốc liên tục tăng, từ 2,9% (năm
1995) lên 3,4% (năm 2000) và đạt 3,93% vào năm 2003. Theo số liệu đã công
bố của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ sản giai đoạn 1995 - 2003
tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ đồng. Trong các hoạt động của ngành, khai
thác hải sản giữ vị trí rất quan trọng. Sản lượng khai thác hải sản trong 10 năm
gần đây tăng liên tục với tốc độ tăng bình quân hằng năm khoảng 7,7% (giai
đoạn 1991 - 1995) và 10% (giai đoạn 1996 - 2003). Nuôi trồng thuỷ sản đang
ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác hải sản cả về sản lượng, chất
lượng cũng như tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất yếu dẫn đến sự
chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - ưu tiên phát triển các hoạt động kinh tế mũi

năm 2003 tổng số thuyền máy là 83.123 chiếc, tổng công suất đã đạt tới
3.497.457 CV, gấp 5 lần so với năm 1991. Số tàu thuyền có công suất cao tăng
khá nhanh, năm 1997, thời điểm bắt đầu triển khai chương trình vay vốn tín
dụng đầu tư đóng tàu đánh bắt xa bờ, cả nước có khoảng 5.000 tàu đánh cá xa
bờ, đến năm 2000 đã có 5.896 chiếc, năm 2006 có 90.880 chiếc. Từ đó, tỷ trọng
sản phẩm khai thác xa bờ đã tăng nhanh chóng, năm 2003 đã đạt 38,8%.
Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở khắp mọi
miền đất nước cả về nuôi biển, nuôi nước lợ và nuôi nước ngọt. Nuôi trồng thuỷ
sản đang từng bước trở thành một trong những ngành sản xuất hàng hoá chủ lực,
phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng và đang tiến đến xây dựng các vùng
sản xuất tập trung. Các đối tượng có giá trị cao có khả năng xuất khẩu đã được
tập trung đầu tư, khuyến khích phát triển, hiệu quả tốt. Phát huy được tiềm năng
tự nhiên, nguồn vốn và sự năng động sáng tạo trong doanh nghiệp và ngư dân,
đồng thời góp phần hết sức quan trọng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong
nông nghiệp cũng như cho xoá đói giảm nghèo.
Nghề nuôi trồng thuỷ sản từ chỗ là một nghề sản xuất phụ, mang tính chất
tự cấp tự túc đã trở thành một ngành sản xuất hàng hoá tập trung với trình độ kỹ
thuật tiên tiến, phát triển ở tất cả các thủy vực nước ngọt, nước lợ, nước mặn
theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường, hài hoá với các ngành kinh tế khác.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng đều đặn theo từng năm suốt từ 1981 tới nay,
từ 230 nghìn ha năm 1981 lên 384,6 nghìn ha năm 1986, đến nay đã đạt hơn 1
triệu ha. Đến năm 2007, đã sử dụng 612.778 ha nước mặn, lợ và 254.835 ha
nước ngọt để nuôi thuỷ sản. Trong đó, đối tượng nuôi chủ lực là tôm với diện
tích 580.465 ha, cá Tra với diện tích 3.600ha, gấp đôi so với cách đây 5 năm với
sản lượng mỗi năm đạt gần nửa triệu tấn cá thương phẩm phục vụ chế biến xuất
khẩu. Theo dự báo, đến năm 2010 diện tích nuôi cá da trơn tại Đồng bằng sông
Cửu Long sẽ lên 10.200ha, sản lượng 800.000 tấn/năm. Đến năm 2020, diện tích
nuôi cá có thể lên đến 16.000ha và sản lượng đạt 1,9 triệu tấn cá thương phẩm.
Trong 5 năm trở lại đây, cá Tra đã trở thành một mặt hàng chiến lược đối
với ngành thủy sản Việt Nam. Xuất khẩu cá Tra thể hiện rõ tiềm năng to lớn,

Bảng 1.1: Số liệu tăng trưởng ngành thủy sản 10 năm (1997 – 2006) Năm
Tổng
sản lượng
thủy sản
(tấn)
Sản lư
ợng
khai thác
hải sản
(tấn)
Sản lư
ợng
nuôi th
ủy
sản (tấn)

Giá trị
xu
ất khẩu
(1.000
USD)
T
ổng số
tàu
thuyền

(chiếc)


78.978

887.500
2002

2.410.900 1.434.800

976.100 2.014.000

81.800

955.000
2003 2.536.361 1.426.223

1.110.138

2.199.577

83.122

902.229
2004 3.073.600 1.923.500

1.150.100

2.400.781

85.430


vùng lãnh thổ, năm 2003 là 75 nước và vùng lãnh thổ. Trong hơn 10 năm qua,
kim ngạch XKTS của VN liên tục tăng trưởng vững chắc, hàng thuỷ sản Việt
Nam đã có mặt ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đặc biệt là ở các
thị trường lớn như Nhật, Mỹ, EU.
Đối với các nước và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại, ngành thuỷ
sản đã tạo dựng được uy tín lớn. Những nước công nghiệp phát triển như Mỹ,
Nhật và các nước trong khối EU đã chấp nhận làm bạn hàng lớn và thường
xuyên của ngành. Năm 2003, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào bốn thị
trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU và Trung Quốc chiếm trên 75% tổng giá trị
kim ngạch, phần còn lại trải rộng ra gần 60 nước và vùng lãnh thổ. Quá trình
này cho thấy việc mở rộng mối quan hệ thương mại quốc tế của ngành thuỷ sản
đã góp phần mở ra những con đường mới và mang lại nhiều bài học kinh
nghiệm để nền kinh tế Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào khu vực.
1.2. Quản lý chất lượng và xu thế hội nhập toàn cầu hóa - Hội nhập kinh
tế và những rào cản kỹ thuật:
Bắt đầu thập niên 90, nền kinh tế Việt Nam chuyển từ kế hoạch - bao cấp
sang nền kinh tế nhiều thành phần và hoạt động theo cơ chế thị trường, số doanh
nghiệp chế biến thủy sản và được quyền tự xuất nhập khẩu thủy sản trực tiếp
tăng vọt. Trong khi đó, hàng loạt các thị trường lớn (EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,
Canada, Úc, Hàn Quốc…) ban hành ngày càng nhiều quy định nghiêm ngặt về
kiểm soát chất lượng thực phẩm nhập khẩu. Hệ thống quản lý chất lượng các
nước xuất khẩu thủy sản trong khu vực dần chuyển dịch theo hướng thực hiện
các chương trình an toàn chất lượng, để đồng thời đáp ứng những thay đổi của
các nước nhập khẩu và tạo tiền đề phát triển cho hoạt động quản lý chất lượng
thủy sản tiêu dùng nội địa. Trước tình hình đó, toàn ngành đã tập trung đổi mới
phương thức quản lý chất lượng và an toàn sản phẩm, tiếp cận để đáp ứng những
đòi hỏi cao nhất về lĩnh vực này của các thị trường lớn, nhờ đó đứng vững được
trên các thị trường thuỷ sản lớn nhất trên thế giới.
Đến năm 2000, tổng sản lượng thuỷ sản đã vượt qua mức 2 triệu tấn, giá
trị kim ngạch xuất khẩu 1,475 tỷ USD, đến năm 2002 xuất khẩu thuỷ sản vượt


22.2

2005 626.991

2.739.000.000

14.1

2004 518.747

2.400.781.115

8.3

2003 458.496

2.216.693.667

9.6

2002 444.043

2.022.820.917

13.8

2001 358.833

1.777.485.754
Hình 1.1 - Sản phẩm thủy sản chính xuất khẩu 1997

Hình 1.2 - Thị trường xuất khẩu thủy sản chính 1997 Hình 1.3 - Sản phẩm thủy sản chính xuất khẩu 2007 Hình 1.4 - Thị trường xuất khẩu thủy sản chính 2007 Hình 1.5 - Sản phẩm thủy sản chính xuất khẩu 8 tháng đầu 2008 Hình 1.6 - Thị trường xuất khẩu thủy sản chính 8 tháng đầu 2008

Bước sang đầu thế kỷ XXI, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế
tất yếu, diễn ra mạnh mẽ ở cả cấp độ khu vực lẫn toàn cầu. Thay thế các rào cản
thuế quanvà hạn ngạch đang dần bị dỡ bỏ, các rào cản khác (trong đó có rào cản
kỹ thuật - TBT và rào cản an toàn vệ sinh, an toàn dịch bệnh - SPS) ngày càng
được các nước và thị trường phát huy, gây cản trở lớn cho các nước xuất khẩu,
đặc biệt là các nước có trình độ quản lý và công nghệ chưa cao (Bảng 1.3, 1.4).
Trước bối cảnh đó, công tác quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thủy
sản (do Trung tâm Quản lý Chất lượng và Vệ sinh Thủy sản - NAFIQACEN
đảm trách); và quản lý thức ăn, thuốc thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học phục

- Khai báo lô hàng theo quy định chống khủng
bố sinh học
- Kiểm soát ATVS vùng thu hoạch NT2MV
- Kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong
thủy sản nuôi
Canada, Hàn Quốc
- Kiểm soát ATTP theo HACCP
- Kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong
thủy sản nuôi

Bảng 1.4: Tác động của các hàng rào kỹ thuật trong thủy sản ở Việt Nam [102]

Năm Nội dung Nước áp đặt
Không nhập khẩu sản phẩm đóng gói và dán
nhãn sai quy định
EU, Mỹ, Hàn
Quốc

1994
Không nhập thủy sản của các nước chưa đáp ứng
3 điều kiện tương đương
EU
1995
Không nhập khẩu cá ngừ từ những có nghề khai

lên mạng cảnh báo
EU, Mỹ, Canada,
Nauy, Thụy Sĩ,
Hàn Quốc,
Singapore

Trích đoạn CHƯƠNG VI – THIẾT LẬP VÀ LƯU TRỮ HỒ SƠ Điều 16 Thiết lập hệ thống hồ sơ CHƯƠNG VI – THIẾT LẬP VÀ LƯU TRỮ HỒ SƠ Điều 16 Thiết lập hệ thống hồ sơ Đặc điểm sản xuất kinh doanh thủy sản trong chuỗi sản xuất thủy sản nuôi tại Việt Nam Giải pháp kỹ thuật cho mục đích truy xuất nguồn gốc thông dụng trên thế giới: Những yêu cầu cơ bản của một hệ thống truy xuất nguồn gốc:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status