BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN VĂN TẠO
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI
TÔM CÀNG XANH (Macrobrachium rosenbergii De Man, 1879)
TRÊN RUỘNG LÚA THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
TẠI HUYỆN THẠNH PHÚ - TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang, năm 2010 ii
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên
cứu của tôi. Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa được dùng
cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác.
Tác giả
Nguyễn Văn Tạo
ii
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ ix
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu 3
1.1.1 Vị trí phân loại 3
1.1.2 Đặc điểm về hình thái 3
1.1.3 Phân bố 4
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
1.1.6 Vòng đời và chu kỳ sống 6
1.1.7 Đặc điểm sinh sản 7
1.1.8 Đặc điểm sinh thái và môi trường sống 8
1.2 Tổng quan về nghề nuôi trồng thủy sản 10
1.2.1 Nghề nuôi TCX trên thế giới 10
1.2.2 Nghề nuôi TCX ở Việt Nam 14
1.2.3 Nghề nuôi TCX tại Bến Tre 17
1.2.4 Nghề nuôi TCX ruộng lúa tại huyện Thạnh Phú - Tỉnh Bến Tre 18
1.3 Một số khái niệm trong nghiên cứu 20
1.3.1 Hiệu quả kinh tế 20
1.3.2 Hiệu quả kỹ thuật 21
1.3.3 Hiệu quả xã hội 21
1.3.4 Phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững 22
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 23
3.3.6 Quản lý chăm sóc 46
3.3.7 Tình hình bệnh và cách quản lý bệnh trong nuôi TCX ruộng lúa 48
3.3.8 Thu hoạch và tiêu thụ tôm nuôi 49
3.4 Hiệu quả kinh tế 54
3.4.1 Hiệu quả kinh tế nuôi TCX trên ruộng lúa 54 v
3.4.2 Hiệu quả kinh tế nghề trồng lúa 56
3.4.3 Hiệu quả nghề nuôi TCX và trồng lúa 57
3.5 Hiệu quả về mặt xã hội 58
3.6 Những khó khăn, định hướng phát triển và kiến nghị của các hộ nuôi 59
3.6.1 Khó khăn gặp phải trong nuôi tôm hiện nay của các hộ 59
3.6.2 Phương hướng phát triển của hộ nuôi tôm 61
3.6.3 Kiến nghị của hộ nuôi 61
3.7 Giải pháp phát triển bền vững nghề nuôi TCX ruộng lúa 61
3.7.1 Những thuận lợi và khó khăn trong nuôi TCX ruộng lúa 61
3.7.2 Các giải pháp để phát triển nghề nuôi TCX ruộng lúa theo hướng bền vững 62
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 66
4.1. Kết luận 66
4.2 Đề xuất: 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC viDANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng 3.1: Phân bố tuổi của chủ hộ nuôi TCX ruộng lúa 30
Bảng 3.2: Trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi 32
Bảng 3.3: Năm kinh nghiệm của chủ hộ nuôi TCX ruộng lúa 32
Bảng 3.4: Đặc điểm ruộng nuôi TCX ruộng lúa của các hộ 34
Bảng 3.5: Các loại chất đáy ruộng nuôi TCX 37
Bảng 3.6: Kỹ thuật cải tạo ruộng nuôi TCX trước mỗi vụ nuôi 38
Bảng 3.7 Chất lượng tôm giống, kích thước giống thả và mật độ 41
Bảng 3.8: Các loại thức ăn sử dụng trong nuôi TCX ruộng lúa 44
Bảng 3.9: Số lần cho tôm ăn trong một ngày 45
Bảng 3.10: Chế độ thay nước ở địa bàn nghiên cứu 47
Bảng 3.11: Một số bệnh phổ biến thường gặp trong nuôi TCX ruộng lúa 48
Bảng 3.12: Tỷ lệ sống và khối lượng tôm nuôi khi thu hoạch 50
Bảng 3.13: Sản lượng, năng suất, giá bán TCX 51
Bảng 3.14: Cơ cấu chi phí nuôi TCX ruộng lúa 53
Bảng 3.15: Chi phí, thu nhập và LN của các hộ nuôi TCX 55
Bảng 3.16: Chi phí, thu nhập và LN của trồng lúa 56
Bảng 3.17: Hiệu quả nghề nuôi TCX và trồng lúa 57
Bảng 3.18: Khó khăn gặp phải trong nuôi tôm hiện nay của các hộ 59
Bảng 3.19: Phương hướng phát triển của hộ nuôi tôm 61
Bảng 3.20: Một số kiến nghị của hộ nuôi 61 ixDANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) 3
Hình 1.2: Sản lượng TCX nuôi toàn cầu 12
Hình 1.3: Giá trị TCX nuôi toàn cầu 12
triệu đồng/ha, trong đó LN từ nuôi TCX từ 23 ÷ 27 triệu đồng/ha và LN trồng lúa từ 3
÷ 7 triệu đồng/ha) [42]. Vì vậy, mô hình TCX ruộng lúa góp phần chuyển đổi cơ cấu
nông nghiệp, tăng LN cho người nuôi. TCX là loài tôm có kích thước lớn nhất trong
các loài tôm nước ngọt, thịt ngon, có giá trị dinh dưỡng, giá thành cao và cũng là đối
tượng nuôi quan trọng trong nghề nuôi thủy sản nước ngọt. Tuy nhiên, hiện nay chưa
có nhiều nghiên cứu sâu về nuôi TCX ruộng lúa để phát triển theo hướng bền vững.
Bến Tre là một tỉnh thuộc khu vực ĐBSCL và tiếp giáp biển Đông với hơn 65
km bờ biển, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế trên cả 03 vùng sinh thái mặn,
lợ và ngọt. Tuy nhiên, nghề nuôi thủy sản của Bến Tre mới bắt đầu phát triển từ năm
1980 và phát triển mạnh vào đầu năm 2000. Hiện nay, Bến Tre đang phát triển 05 đối
tượng nuôi chủ lực có giá trị kinh tế như: tôm sú, tôm chân trắng, TCX, cá tra và
nghêu. Mô hình nuôi TCX ruộng lúa ở huyện Thạnh Phú - tỉnh Bến Tre đã phát triển
nhanh trong 05 năm gần đây, bước đầu được đánh giá có hiệu quả kinh tế cao và đã
mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân, góp phần đa dạng hoá trong nông
nghiệp và giải quyết lao động nhàn rỗi trong nông thôn.
Tuy nhiên, trong thời gian gần đây LN từ mô hình nuôi TCX ruộng lúa mang lại
không ổn định và có chiều hướng giảm do chất lượng giống kém, tôm nuôi chậm lớn,
kích cỡ thu hoạch không đồng đều, năng suất dao động lớn, môi trường nuôi ngày càng
suy giảm. Vì vậy, kỹ thuật hay quản lý môi trường nuôi tốt rất quan trọng và nó có ý
nghĩa rất lớn để giúp cho nghề nuôi TCX trên ruộng lúa phát triển theo hướng bền vững. 2
Xuất phát từ tình hình thực tế trên, với lợi thế về tiềm năng phát triển nghề nuôi
TCX trên ruộng lúa tại Bến Tre, trên cơ sở khai thác hợp lý và hiệu quả tiềm năng diện
tích ruộng lúa hiện có, nâng cao và ổn định năng suất sản phẩm tôm nuôi, góp phần
củng cố cơ sở lý luận, xây dựng mô hình nuôi TCX trên ruộng lúa theo hướng bền
vững, cải thiện điều kiện thu nhập cho người dân trong vùng là vấn đề thật sự cần thiết
và có ý nghĩa xã hội sâu rộng. Do đó, việc thực hiện đề tài “Hiện trạng và giải pháp
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Vài nét về đối tượng nghiên cứu
1.1.1 Vị trí phân loại
Đây là giống có nhiều loài nhất trong họ tôm càng Palaemonidae, ước tính có
khoảng 200 loài. Trong đó, loài Macrobrachium rosenbergii, M.amerricanum, M.
carcinus và M. nippon là những loài có kích cỡ lớn nhất được nuôi phổ biến. TCX đực
có thể đạt chiều dài 320mm và con cái đạt 250mm. TCX được Holthius (2000) phân
loại như sau [52]:
Ngành: Arthropoda
Ngành phụ: Crustacea
Lớp: Malacostraca
Bộ: Decapoda
Bộ phụ: Macrura natantia
Họ: Palaemonidae
Họ phụ: Palaemoninae
Giống: Macrobrachium
Loài: Macrobrachium rosenbegii (De Man, 1879)
Tên tiếng Anh: Giant Freshwater Prawn (De Man, 1879)
1.1.2 Đặc điểm về hình thái
Hình 1.1: Tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) 4
Phần đầu ngực phía trước và phần bụng phía sau: Phần đầu ngực lớn, có dạng
hơi giống hình trụ, gồm phần đầu với 5 đốt gần nhau, mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực
với 8 đốt liền nhau mang 8 đôi phụ bộ. Phần đầu ngực được bao dưới tấm vỏ dày gọi
là giáp đầu ngực.
Phần bụng gồm có 6 đốt có thể cử động và một đốt đuôi. Mỗi đốt mang một
Ngoài các vùng phân bố tự nhiên trên, tôm còn được di nhập và nuôi nhiều nơi
trên thế giới. Ở Việt Nam TCX phân bố tự nhiên ở các tỉnh Nam bộ, đặc biệt là vùng
ĐBSCL. Ở các thủy vực có độ mặn 18‰ vẫn có thể tìm thấy TCX xuất hiện. Tuy
nhiên, tùy từng thủy vực với đặc điểm môi trường khác nhau và tùy theo mùa vụ của
TCX xuất hiện với kích cỡ thành thục và mức độ phong phú khác nhau [20].
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
TCX là loài ăn tạp thiên về động vật như nguyên sinh động vật, giun nhiều tơ,
giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh vụn, các loài tảo, mùn bã hữu cơ và cát mịn
[37] và trong điều kiện tôm nuôi thì tôm cũng ăn thức ăn viên công nghiệp. Hàm lượng
đạm tối ưu trong thức ăn cho tôm từ 27 ÷ 35%. Nhu cầu đạm thay đổi rất lớn theo giai
đoạn phát triển. Ngoài ra nhu cầu chất béo dao động trong khoảng 6 ÷ 7,5%, chất bột
đường được tôm tiêu hóa rất tốt (40% trong thức ăn vẫn cho kết quả rất tốt), hàm
lượng cholesterol 0,5 ÷ 1% rất cần thiết cho tôm con, cần thường xuyên bổ xung chất
khoáng và vitamin cho tôm [20].
Hình dạng và mùi vị thức ăn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hướng
tôm đến bắt mồi. Tôm tìm thức ăn bằng cơ quan xúc giác, chúng dùng râu quét ngang,
dọc phía trước hướng di chuyển, khi tìm gặp thức ăn chúng dùng chân ngực thứ nhất
kẹp gắp thức ăn đưa vào miệng. TCX rất ham ăn, có tính tranh giành cao, TCX lớn
chiếm chỗ và đánh đuổi tôm nhỏ, đặc tính của TCX nếu không đủ thức ăn thì chúng ăn
đồng loại yếu hơn, mới lột xác [16]. Tôm thường bắt mồi vào chiều tối hay sáng sớm,
tôm không ăn khi lột xác và sẽ ăn lại sau khi lột xác xong.
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Tôm lớn lên phải lột xác, chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào giai đoạn phát
triển, tình trạng sinh lý, điều kiện dinh dưỡng và chế độ thay nước ao nuôi … tôm nhỏ
thường có chu kỳ lột xác ngắn hơn tôm lớn. Mỗi lần lột xác cơ thể tôm tăng lên từ 9 ÷
15% khối lượng thân [33]. 6
12,9
3,5
8,2
13,8
18,6
22,5
25,0
27,6
32,9
4,7
6,6
4,8
3,9
2,5
2,6
5,3
Tôm cái khi bắt đầu thành thục khối lượng khoảng 30 ÷ 40 g thì sinh trưởng
giảm, vì dinh dưỡng tập trung cho sự phát triển của buồng trứng. Hiện tượng thường
thấy trong nuôi TCX là sự phân đàn khá rõ kể cả trong cùng một nhóm giới tính. Kích
thước của tôm có thể đạt 40 ÷ 50 g trong thời gian 4 ÷ 5 tháng nuôi [22].
Trong quá trình lớn lên tôm trải qua nhiều lần lột xác. Tôm nhỏ có chu kì lột
xác ngắn hơn tôm lớn. Chu kì lột xác của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như kích cỡ
tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của TCX [20].
Bảng 1.2: Chu kỳ lột xác của TCX ở các giai đoạn khác nhau [21]
Khối lượng (g/con) Chu kỳ lột vỏ (ngày)
2 ÷ 5
6 ÷ 10
11 ÷ 15
16 ÷ 20
bụng thứ nhất.
Tôm cái thường có kích thước nhỏ hơn tôm đực, có phần đầu ngực và đôi càng
thon nhỏ, 03 tấm bụng đầu tiên ở tôm cái rộng và dài tạo thành khoang bụng làm
buồng ấp trứng. Quá trình nở rộng của các tấm bụng này khi tôm tham gia sinh sản lần
đầu tiên và đây chính là đặc điểm quan trọng của tôm cái. Lỗ sinh dục của con cái nằm
ở phần ức, ngay gốc đôi chân ngực thứ ba, có dạng tam giác. Trên các đốt giữa của các
chân bơi còn có nhiều lông tơ hình thành ở thời kỳ lột xác tiền giao vĩ có tác dụng cho
trứng bám vào [21].
Buồng trứng của con cái nằm trên mặt lưng của phần đầu ngực, giữa dạ dày và
gan tụy. Khi buồng trứng thành thục sẽ có màu vàng và có thể nhìn thấy qua giáp đầu
ngực, trải dài từ sau mắt đến đốt đầu của phần bụng. Ống dẫn trứng nối từ buồng trứng
ở trước tim chạy dọc hai bên về phía bụng đổ về túi chứa tinh ở đốt gốc của chân ngực
thứ ba [21].
1.1.7.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ và ấp trứng
Trong tự nhiên cũng như trong điều kiện nhân tạo, tôm thành thục và giao vĩ
xảy ra hầu như quanh năm. Mùa đẻ rộ của TCX ở Đồng bằng Nam Bộ tập trung từ
tháng 4 đến tháng 6 và từ tháng 8 tháng 10. TCX cái thành thục lần đầu tiên ở khoảng
3,0 ÷ 3,5 tháng kể từ hậu ấu trùng 10 ÷ 15 ngày (PL
10-15
). Kích cỡ tôm nhỏ nhất đạt
thành thục từ 10 ÷13 cm và 7,5 g [33].
Quá trình lột xác tiền giao vĩ của tôm cái sẽ tiết ra chất dẫn dụ có tác dụng kích
thích tôm đực tìm đến. Sau khi tôm lột xác 01 ÷ 22 giờ, thường 03 ÷ 06 giờ, tôm bắt đầu 8
giao vĩ. Toàn bộ quá trình tiếp xúc và giao vĩ xảy ra trong vòng 20 ÷ 35 phút. Sau khi
giao vĩ 02 ÷ 05 giờ, có khi 06 ÷ 24 giờ, tôm cái bắt đầu đẻ trứng [21].
Tôm thường đẻ trứng vào ban đêm. Tôm cái thường di chuyển từ tầng đáy lên
C kéo dài, tôm sẽ chết hàng loạt [38].
1.1.8.2 pH
TCX sống chủ yếu ở các thủy vực có pH từ 6,5 ÷ 8,5, nếu pH > 9 tôm sẽ chết
[18]. Ngoài khoảng pH này, TCX hoạt động kém, sinh trưởng chậm, khi pH < 5 tôm 9
nổi đầu, dạt vào bờ, mang đổi màu, sau 6 giờ sẽ chết [26]. pH thích hợp cho TCX từ
7,5 ÷ 8,0 nhưng khoảng biến động giữa sáng và chiều phải nhỏ hơn 01 [66].
1.1.8.3 Oxy hòa tan
Lượng oxy hòa tan trong nước cần phải lớn hơn 04 mg/L để phát triển bình
thường [15]. Hàm lượng oxy hòa tan trong nước thích hợp cho TCX là 3 ÷ 15 mg/L,
nếu lượng oxy hòa tan trong nước ở mức dưới 01 mg/L tôm sẽ nổi đầu và ở 0,7 mg/L
tôm bắt đầu chết [66].
1.1.8.4 Tổng đạm amôn (TAN) và N-NO
2
-
TCX không bị stress và có thể chịu đựng được nồng độ amonia tổng số đến 01
mg/L, nhưng độ độc của NH
3
sẽ tăng khi pH trong nước tăng [44]. Ở pH 8,5; 9 và 9,5
nồng độ N- NH
4
+
tương ứng trong ao ương tôm không nên > 2 mg/L; 01 mg/L và 0,5
mg/L [45]. Nồng độ NO
2
-
10
1.1.8.8 Ánh sáng
TCX thích nghi ánh sáng vừa phải, cường độ tốt nhất là 400 Lux. Nếu ánh sáng
cao sẽ ức chế hoạt động của tôm vào ban ngày, nhưng TCX lại có tính hướng quang
vào ban đêm nên thường tích cực bắt mồi vào tầng mặt nếu có luồng ánh sáng kích
thích. Tôm lớn có tính hướng quang kém hơn tôm nhỏ [34].
1.2 Tổng quan về nghề nuôi trồng thủy sản
Ngành nuôi trồng thủy sản (NTTS) thế giới nói chung và của Việt Nam nói
riêng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề. Nếu những người NTTS không có những giải
pháp nhanh chóng, hiệu quả và đồng nhất thì không thể phát triển NTTS một cách bền
vững được. Ngoài các vấn đề về kỹ thuật nuôi và SXG để có thể nâng cao năng suất và
chất lượng thủy sản nuôi, đa dạng hóa đối tượng nuôi, loại hình nuôi, phát triển công
nghệ sinh học trong NTTS, sản xuất thức ăn phù hợp, các biện pháp phòng trừ dịch
bệnh, phương pháp bảo quản sau thu hoạch v.v… là các vấn đề mà bất cứ người nuôi,
nhà quản lý hoặc nhà nghiên cứu về NTTS nào cũng phải nhận thức một cách sâu sắc
về tầm quan trọng của chúng. Đó là sự ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng do ảnh
hưởng của các hoạt động nuôi. Tình trạng nhiễm hóa chất và kháng sinh trong thủy sản
nuôi làm ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu thụ. Tình trạng lan truyền mầm bệnh ở
các vùng nuôi do hoạt động di giống, nhập giống thủy sản trên toàn cầu và tình trạng
cấp nước bừa bãi. Sự phát triển vùng nuôi thiếu quy hoạch và đầu tư lâu dài đã trở
thành nguy cơ trước mắt đối với nhiều nước phát triển NTTS quá nhanh. Và trên hết là
sự cạnh tranh khóc liệt trên thương trường đòi hỏi các nước sản xuất phải tăng chất
lượng và hạ giá thành sản phẩm trong khi vẫn giử được sự phát triển bền vững đồng
thời phải hết sức nhanh nhạy trong công tác xúc tiến thương mại để chiếm lĩnh thị
trường. Chính vì vậy, việc có được những đánh giá toàn diện về bất cứ hoạt động
NTTS nào đều hết sức cần thiết.
1.2.1 Nghề nuôi TCX trên thế giới
Phong trào nuôi TCX phát triển mạnh mẽ không những ở các nước có TCX
phân bố tự nhiên như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippin, Ấn Độ, … mà còn
phát triển ở các nước như Hawaii, Jamaica, Florida, California, Brazil, Mexico,
sau 5,5 tháng, lệ sống 32,4% năng suất đạt 979 kg/ha/vụ. Trong trường hợp mật độ thả
20 con/m
2
sau 05 tháng nuôi, năng suất trung bình đạt 2.287 kg/ha/vụ.
Theo FAO (2002), số liệu ghi nhận đầu tiên cho thấy năm 1984, sản lượng TCX
nuôi trên thế giới đạt 5.246 tấn, năm 1989 đạt 17.608 tấn và năm 2000 đạt trên 119.000
tấn. Giá trị và sản lượng TCX nuôi toàn cầu tăng chậm từ năm 2000 ÷ 2004 [58]. 12
Hình 1.2: Sản lượng TCX nuôi toàn cầu [58]
Hình 1.3: Giá trị TCX nuôi toàn cầu [58]
Hiện nay, TCX được nuôi ở nhiều nơi trên thế giới, phần lớn sản lượng TCX
được nuôi ở Châu Á. Trong đó, Trung Quốc có sản lượng tôm lớn nhất, với tổng cộng
128.000 tấn vào năm 2001 (Hình 1.4), sản lượng của các nước Trung và Nam Mỹ là
rất ít, năm 2001 chỉ có 4 nước sản xuất được trên 40 tấn, đó là Cộng hòa Dominica,
Guatemala, Mexico và Mỹ [62].
Sản lượng (x 1.000 tấn)
Thời gian (năm)
Thời gian (năm)
Giá trị (triệu USD) 13
Hình 1.4: Sản lượng TCX được sản xuất ở các nước Châu Á năm 2001 [62]
Nhìn chung, nghề nuôi TCX thế giới hiện nay đang trên đà phát triển mạnh và
Thái Lan
Bangladesh
Đài Loan
Brazil
Ecuador
Malaysia
CH Dominica
Guatemala
Senegal
Mexico
Mỹ
French Guiana
Khác
128.338
28.000
24.230
12.067
7.000
6.859
5.380
800
752
62
53
50
48
44
25
153
2
, sau 4 ÷ 5 tháng năng suất đạt từ 800 ÷ 1.200 kg/ha, nuôi
TCX luân canh với ruộng lúa mật độ 0,2 ÷ 2,0 con/m
2
, năng suất đạt từ 150 ÷ 300
kg/ha. Ở Trà Vinh, nuôi trong ruộng lúa năng suất 150 ÷ 200 kg/ha, nuôi bán thâm
canh với mật độ 5 ÷10 con/m
2
, năng suất từ 500 ÷ 700 kg/ha. Tỉnh Đồng Tháp, năng
suất trung bình 500 ÷ 1.200 kg/ha, nuôi trong ruộng lúa 100 ÷ 150 kg/ka, nuôi quảng
canh cải tiến với mật độ 3 ÷ 4 con/m
2
, năng suất 500 kg/ha. Kết quả bước đầu nuôi
tôm bán thâm canh ở ĐBSCL mật độ 15 ÷ 27 con/m
2
, năng suất 452 ÷ 1.587 kg/ha
(trong đó ao nuôi mật độ 15 con/m
2
và tôm giống có nguồn gốc từ Thái Lan cho năng
suất cao nhất 1.587 kg/ha) [17].
Theo Trần Tấn Huy và ctv (2004), nuôi TCX trên ruộng lúa với mật độ từ 5
÷7,14 con/m
2
, năng suất đạt 1,01 ÷ 1,25 tấn/ha/vụ [7]. Theo Nguyễn Thanh Nguyên
(2003) nuôi TCX trên ruộng lúa ở Thốt Nốt năng suất trung bình đạt 725 kg/ha và LN
17,9 triệu đồng/ha, mức lãi này khá hấp dẫn cho người dân tham gia nuôi TCX trong
khu vực này [12]. Ở Đồng Tháp, TCX nuôi tập trung nhiều nhất ở huyện Thanh Bình
và Cao Lãnh TCX và được thả nuôi đơn trong đăng quầng, mật độ nuôi trung bình 62
con/m
2
quần đàn hỗn hợp đực - cái từ tôm mẹ thật [4].
Kết quả của các nghiên cứu trước đây cho thấy mỗi mô hình nuôi đòi hỏi các kỹ
thuật đặc thù phù hợp với các điều kiện sinh thái cụ thể. Mô hình nuôi tôm kết hợp với
trồng lúa phù hợp với những vùng canh tác hai vụ lúa, trong khi đó mô hình nuôi luân
canh tôm - lúa thì phù hợp cho những vùng ngập lũ hàng năm và vùng mà canh tác lúa
Hè - Thu nhiều rủi ro do lũ [64].
Ở Việt Nam những năm gần đây, TCX nuôi trong ao, mương vườn và ruộng lúa
với hình thức nuôi quảng canh cải tiến hay bán thâm canh mức thấp được Nguyễn
Thanh Phương và Lý Văn Khánh (2005) tóm tắt trong bảng 1.4 [24].