Khai thác tiềm năng du lịch sinh thái vùng du lịch bắc trung bộ việt nam - Pdf 22

1
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH
THÁI
VÀ KHAI THÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Du lịch sinh thái
1.1.1. Những tác động của du lịch đến môi trường - lý do ra đời của du
lịch
sinh thái
Du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử và ngày nay đã trở thành một
hiện
tƣợng kinh tế - xã hội phổ biến. Tại nhiều quốc gia, du lịch (DL) đã trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng trong nền kinh tế.
Hoạt
động du lịch liên quan tới nhiều lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế thế giới, với
sự
gắn kết phức tạp giữa kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trƣờng.
Theo Ông Francesco Frangialli - Tổng thƣ kí Tổ chức Du lịch Thế giới
Liên
hợp quốc (WTO): “Du lịch là một trong những ngành phát triển nhanh nhất,
đóng
góp lớn nhất cho phát triển bền vững và xoá đói giảm nghèo. Năm 2007 tổng
lƣợng du khách quốc tế đạt mức 900 triệu ngƣời, và Tổ chức Du lịch thế giới
-
Liên hiệp quốc dự đoán rằng con số này sẽ tăng lên 1,6 tỷ du khách vào năm
2020"[52, tr.2].
Sự phát triển của DL, bên cạnh những tác động tích cực cũng còn
nhiều tác
động tiêu cực đối với môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng kinh tế - xã hội.
1.1.1.1. Những tác động tích cực
Đối với môi trƣờng tự nhiên: Tính chất nhạy cảm của các vấn đề môi

với những quy chế bảo vệ phù hợp sẽ góp phần đề cao giá trị các cảnh quan thiên
nhiên. Đồng thời, thông qua hoạt động DL mà việc tuyên truyền giáo dục đối với
cộng đồng dân cƣ về các giá trị thiên nhiên và ý thức bảo vệ các giá trị tự nhiên đó.
Bên cạnh đó, từ các nguồn thu của hoạt động DL sẽ góp phần cải thiện kết
cấu hạ tầng đối với các địa phƣơng, các khu vực nhƣ hệ thống đƣờng sá, sân bay,
hệ thống cấp thoát nƣớc, hệ thống xử lý chất thải, nƣớc thải, hệ thống thông tin
liên lạc, để phục vụ hoạt động DL và phục vụ các nhu cầu khác của nền kinh tế.
1.1.1.2. Những tác động tiêu cực
3
Đối với môi trƣờng tự nhiên: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt
động du lịch đã và đang gây nên những tác động tiêu cực mang tính lâu dài và sâu
sắc đến môi trƣờng tự nhiên: vấn đề rác thải, khí thải gây suy thoái môi trƣờng một
cách nhanh chóng và gây hậu quả lâu dài. Phát triển DL thiếu kiểm soát có thể gây
nên xói mòn, sạt lở đất, đe dọa sự an toàn về thói quen sinh hoạt cũng nhƣ sinh
mạng của các động vật hoang dã, phá huỷ các rạn san hô, do tiếng ồn, ô nhiễm
không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm nguồn nƣớc, khai thác tài nguyên phục vụ nhu
cầu ẩm thực, khai thác các mẫu vật, các hàng lƣu niệm,…
Đối với môi trƣờng xã hội: Du lịch có thể trở thành con đƣờng lan truyền
các bệnh dịch, có thể gây nên tính thụ động, sự nhiễu loạn về kinh tế, tăng giá đất
đai, tạo ra sự mất cân đối và mất ổn định trong việc sử dụng lao động xã hội. DL
cũng có thể là con đƣờng gây ra một số tệ nạn xã hội, làm xói mòn bản sắc văn hoá
dân tộc, có thể gây sự hiểu lầm và thậm chí là xung đột giữa chủ và khách do sự
khác biệt về ngôn ngữ, tín ngƣỡng và cách ứng xử.
Vì vậy, phải lựa chọn đƣợc những loại hình DL mới nhằm vừa khai thác có
hiệu quả các nguồn lực để thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế vừa giảm thiểu những tác
động tiêu cực của phát triển DL đến môi trƣờng, đảm bảo phát triển bền vững, loại
hình du lịch sinh thái (DLST) ra đời.
1.1.2. Khái niệm về du lịch sinh thái
1.1.2.1. Một số định nghĩa về du lịch sinh thái
"DL sinh thái" là một khái niệm tƣơng đối mới và ngày càng thu hút sự

hình DL tham quan có trách nhiệm với môi trƣờng tại những vùng còn tƣơng đối
nguyên sơ để thƣởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo những đặc trƣng
văn hoá), có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích
cực cho sự phát triển kinh tế xã hội của nhân dân địa phƣơng". Định nghĩa này đã
đề cập đến khá đầy đủ các yếu tố, tuy nhiên "trách nhiệm với môi trƣờng" đã bao
gồm giáo dục môi trƣờng và đóng góp cho bảo tồn, nên đã có sự trùng lặp trong
định nghĩa.
5
Hiệp hội Du lịch Sinh thái (Ecotourism Society) định nghĩa: "DLST là loại
hình du lịch có trách nhiệm tới các khu tự nhiên nơi vừa bảo tồn môi trƣờng vừa
tăng cƣờng phúc lợi của ngƣời dân địa phƣơng" [47, tr.98]. Định nghĩa này chủ
yếu nhấn mạnh tính "trách nhiệm" trong hoạt động du lịch.
Trong Bản tuyên ngôn Quebec (UNEP/WTO 2002) vào cuộc họp chót của
năm du lịch quốc tế về du lịch sinh thái, đề nghị rằng 5 tiêu chí tiêu biểu đƣợc sử
dụng để định nghĩa du lịch sinh thái là:(1) sản phẩm dựa vào tự nhiên, (2) quản lý
ảnh hƣởng tối thiểu, (3) giáo dục môi trƣờng, (4) đóng góp bảo tồn và (5) đóng
góp vào cộng đồng. Trong định nghĩa, tiêu chí (1) vẫn thiếu yếu tố "VHĐP" trong
hoạt động du lịch.
Theo tác giả Phạm Trung Lƣơng.mối quan hệ giữa các loại hình DL với
DLST đƣợc phản ánh qua sơ đồ 1.1 sau:
Sơ đồ 1.1. Sơ đồ về mối quan hệ giữa các loại hình du lịch với DLST
Giáo dục nâng
- Nghỉ dƣỡng
- Tham quan
cao nhận thức
- Mạo hiểm
DL dựa vào
Du
lịch
- Thể thao

chƣa hẳn đã có hoạt động DLST. Vì vậy, cần thiết phải đƣa ra mô hình của một
điểm DLST.
Trên cơ sở nghiên cứu những kết quả đã công bố về DLST, theo tác giả
luận án, điểm DLST phải là một điểm DL hội đủ 4 yếu tố sau:
(1)- Điểm DLST phải là điểm du lịch có TNDL thiên nhiên hấp dẫn và
VHĐP đặc sắc. Trong đó, VHĐP đƣợc hình thành từ cuộc sống lâu đời trong mối
quan hệ hữu cơ giữa con ngƣời với thiên nhiên. Thiên nhiên nuôi sống con ngƣời
và con ngƣời bảo vệ thiên nhiên nhƣ bảo vệ nguồn sống của mình một cách tự
nhiên và bền vững. VHĐP ở mỗi vùng miền khác nhau thì khác nhau, tạo ra sự
khác biệt về văn hóa, chính sự khác biệt này tạo ra sức hút đối với KDL. Yếu tố
7
VHĐP trong TNDL là một trong những điểm khác biệt giữa du lịch dựa vào tự
nhiên (Nature – based tourism) và DLST (ecotourism).
(2)- Hoạt động của điểm DLST phải gắn liền với hoạt động diễn giải và
giáo dục môi trƣờng. Bao gồm giáo dục nhận thức để nâng cao sự hiểu biết về môi
trƣờng và giáo dục ý thức bảo vệ môi trƣờng (kể cả môi trƣờng tự nhiên và môi
trƣờng xã hội). Hoạt động diễn giải này đƣợc hƣớng tới tất cả các đối tƣợng tham
gia vào hoạt động DLST: KDL, nhân viên trong ngành du lịch, dân cƣ và CQĐP
góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trƣờng nhằm gìn giữ và nâng cao
những giá trị của tài nguyên DLST.
(3)- Hoạt động của điểm DLST phải đóng góp cho việc bảo tồn những giá
trị của TNDL: bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn gen, loài, và bảo tồn những giá trị
VHĐP. Việc đóng góp này của KDL có thể thực hiện một cách trực tiếp (Đóng
góp vào quỹ bảo tồn) hoặc gián tiếp thông qua các doanh nghiệp hoặc kinh phí nhà
nƣớc thu từ DLST rồi đầu tƣ trở lại. Những tác động xấu từ du lịch đến môi trƣờng
là không tránh khỏi và chỉ có thể đƣợc giảm thiểu nếu thực hiện tốt hoạt động diễn
giải và giáo dục môi trƣờng. Vì vậy những nỗ lực đóng góp cho bảo tồn là một yêu
cầu tất yếu để đảm bảo phát triển bền vững.
(4)- Hoạt động của điểm DLST phải có sự tham gia của CĐDCĐP, mang lại
lợi ích cho họ. Yếu tố VHĐP trong DLST đòi hỏi phải có sự tham gia của

nhập cho họ
Với mô hình trên, việc nhận thức về DLST sẽ trở nên dễ dàng hơn đối với
hầu hết các đối tƣợng liên quan đến DLST: Các nhà quản lý, các nhà kinh doanh
du lịch, KDL và CĐDCĐP. Mô hình sẽ là cơ sở để phân biệt DLST với các loại
hình du lịch khác. Đây cũng là căn cứ để xây dựng các tiêu chí đánh giá và công
nhận các điểm DLST trong hoạt động quản lý của nhà nƣớc.
1.1.3. Đặc điểm của du lịch sinh thái
9
Bên cạnh những đặc điểm của DL nói chung, DLST còn có những đặc điểm riêng
về tài nguyên, về sản phẩm và các đối tƣợng tham gia hoạt động DLST.
1.1.3.1. Đặc điểm của tài nguyên du lịch sinh thái
a.Tài nguyên du lịch sinh thái
Tài nguyên du lịch (TNDL) bao gồm TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn.
TNDL tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ
sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể đƣợc sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
Còn TNDL nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân
gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng
tạo của con ngƣời và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể đƣợc sử
dụng phục vụ mục đích du lịch.
DLST là hình thức DL dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phƣơng,
vì vậy "Tài nguyên DLST là một bộ phận quan trọng của TNDL bao gồm các
thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hoá bản địa gắn với một
HST cụ thể, đƣợc khai thác, sử dụng để tạo ra các sản phẩm DLST, phục vụ cho
mục đích phát triển DL nói chung, DLST nói riêng"[18, tr36]
Tài nguyên DLST rất đa dạng, Luận án chỉ đề cập đến những dạng tài
nguyên DLST có thể có ở VDLBTB Việt Nam.
Một là, các hệ sinh thái (HST) điển hình và đa dạng sinh học
Những HST ở Việt Nam thƣờng gặp bao gồm: HST rừng nhiệt đới và HST
núi cao; HST đất ngập nƣớc (Bao gồm HST rừng ngập mặn ven biển, HST đầm
lầy nội địa, HST sông, hồ và HST đầm phá); HST san hô, cỏ biển; HST vùng cát

theo mùa của một số loài chim. Đây cũng có thể là nơi cƣ trú hoặc di cƣ của nhiều
loài chim đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng. Sân chim đƣợc xem là một
trong những loại tài nguyên DLST đặc sắc có tính hấp dẫn rất cao đối với KDL.
11
Các cảnh quan tự nhiên : Các cảnh quan tự nhiên là sự kết hợp tổng thể các
thành phần tự nhiên, trong đó địa hình, lớp phủ thực vật, sông, thác nƣớc,… có vai
trò quan trọng tạo nên sự hấp dẫn của loại TNDL này, nhƣng vì thƣờng thƣờng
nằm ở những nơi hẻo lánh, tƣơng đối xa khu dân cƣ, hệ thống kết cấu hạ thấp kém
nên khả năng khai thác phục vụ nhu cầu du lịch thƣờng hạn chế.
Ba là, các giá trị văn hoá địa phƣơng
"VHĐP là các giá trị vật chất và tinh thần đƣợc hình thành trong quá trình
phát triển của một cộng đồng dân cƣ, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thế giới tự
nhiên và con ngƣời trong không gian của một HST cụ thể" ”[01, tr.115]. Các giá trị
văn hoá bản địa thể hiện sinh hoạt của cộng đồng dân cƣ nơi cƣ trú. Sự hình thành
những địa vực cƣ trú truyền đời từ thế hệ này qua thế hệ khác gắn với các vùng
sinh thái khác nhau. Các giá trị văn hoá bản địa đƣợc xem là tài nguyên DLST là
những giá trị văn hoá gắn với một HST đặc thù, thuần khiết, ít có sự giao lƣu thâm
nhập bởi các nền văn hoá khác nên các giá trị văn hoá bản địa này không đồng
nghĩa với các giá trị văn hoá, lịch sử trong DL văn hoá.
Các giá trị văn hoá bản địa đƣợc khai thác với tƣ cách là tài nguyên DLST
bao gồm: Kiến thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục
vụ cuộc sống; Đặc điểm sinh hoạt văn hoá của dân cƣ với các lễ hội truyền thống;
Kiến trúc dân gian, công trình gắn với các truyền thuyết tự nhiên của khu vực; Các
sản phẩm thủ công mỹ nghệ gắn với cuộc sống của cộng đồng; Các di tích lịch sử
văn hoá, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển tín ngƣỡng của cộng đồng,…
b. Những đặc điểm của tài nguyên DLST.
Nét đặc trƣng của tài nguyên DLST là sự gắn liền với một HST cụ thể, HST
càng nguyên sơ, đa dạng, độc đáo thì giá trị của tài nguyên DLST đó càng cao.
Các tài nguyên DLST trên có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tài nguyên DLST phong phú, đa dạng, đặc sắc và có tính hấp dẫn

những mức độ khác nhau.
13
Thứ năm, tài nguyên DLST có khả năng tái tạo và sử dụng lâu dài: Khả
năng tái tạo của tài nguyên DLST phụ thuộc rất lớn vào khả năng tự phục hồi tái
tạo của tự nhiên. Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp, có những loại tài nguyên đặc
sắc nhƣ những loài sinh vật quý hiếm, đặc hữu cũng có thể mất đi do những tai
biến của tự nhiên hoặc do tác động của con ngƣời. Vì vậy, việc khai thác hợp lý
những tài nguyên DLST, không ngừng bảo vệ, tôn tạo và phát triển những nguồn
tài nguyên vô giá đó là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST.
1.1.3.2. Đặc điểm của khách du lịch sinh thái
Trong cùng một chuyến đi du lịch, KDL có thể tham gia vào nhiều loại hình
du lịch khác nhau: Du lịch công vụ, du lịch văn hóa, du lịch thể thao, và sẽ trở
thành khách DLST khi họ tham gia vào các điểm DLST trong chuyến đi của họ.
Đặc điểm của khách DLST xuất phát từ những đặc điểm về nhu cầu DLST:
- Nhu cầu DLST là loại nhu cầu đặc biệt, nó không có giới hạn về số lần và
thời gian tham gia vì ngoài nhu cầu tham quan, tìm hiểu còn đáp ứng nhu cầu giải
trí, tái tạo sức khoẻ cho con ngƣời. Chính vì vậy mà cùng một tài nguyên DLST,
một KDL có thể tham gia nhiều lần mà không thấy thừa, không thấy nhàm chán
nếu nhƣ những sản phẩm DLST cung cấp đạt đƣợc những yêu cầu nhất định.
- Nhu cầu về DLST thƣờng khác nhau giữa các loại khách khác nhau, tính
thời vụ của DLST cũng khác nhau giữa các loại khách khác nhau tùy thuộc vào
điều kiện khí hậu, thời tiết của cả điểm đi và điểm đến của KDL.
- Các nhu cầu về dịch vụ tại các điểm DLST thƣờng đơn giản và mộc mạc.
Thay vì đi tàu du lịch 5*, ăn uống ở những nhà hàng sang trọng, lƣu trú tại những
khách sạn hạng sang, khách DLST có thể sử dụng thuyền, ghe nhỏ để thƣ giãn
ngắm cảnh, thấy thú vị khi ngồi ở nhà sàn, ở bãi cỏ, thích ngủ ở lều bạt, võng, nhà
sàn của các bản làng dân tộc,… Đặc điểm này đòi hỏi những ngƣời làm DLST cần
nghiên cứu kỹ những giá trị văn hoá độc đáo, đặc sắc, tận dụng những điều kiện tự
nhiên kỳ thú để thu hút KDL. Tránh tình trạng lai căng, cầu kỳ, cũng cần phải
tránh tình trạng lem nhem, cẩu thả trong các dịch vụ cung cấp cho khách.

15
Nguồn: Dịch từ www.TIES.com
Từ những nghiên cứu, TIES đã đƣa ra những đặc điểm của khách DLST
đích thực nhƣ sau:
- Là những ngƣời muốn có kinh nghiệm đích thực và sâu sắc trong cuộc
sống, mong muốn tìm kiếm những thử thách về sức lực và tinh thần.
- Là những ngƣời muốn đƣợc giao tiếp và tìm hiểu văn hoá địa phƣơng.
- Là những ngƣời dễ thích nghi và thƣờng ƣa chuộng những nơi nghỉ mộc
mạc, có thể chịu đựng đƣợc sự thiếu thoái mái, tiện nghi, đặc biệt thích đi theo
nhóm nhỏ khi đi du lịch.
- Họ luôn chủ động tìm kiếm hoạt động và ƣa trả tiền cho kinh nghiệm du
lịch hơn là sự thoái mái tiện nghi.
1.1.3.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch sinh thái
Những sản phẩm DLST cơ bản hiện nay bao gồm: Dã ngoại; Leo núi; Đi bộ
trong rừng; Tham quan, nghiên cứu đa dạng sinh học ở các khu rừng đặc dụng;
Tham quan miệt vƣờn; Quan sát sân chim; Thăm bản làng dân tộc; và các loại sản
phẩm DLST khác: tắm cát, tắm nắng, tắm bùn, tắm suối nƣớc nóng, đi bộ dƣới
trăng, lƣớt ván, đua thuyền,…
Đặc điểm của sản phẩm DLST xuất phát từ đặc điểm của tài nguyên DLST và đặc
điểm của khách DLST. Sản phẩm DLST gắn liền với cuộc sống đời thƣờng của
ngƣời dân bản địa.
đuổi những loại hình hoạt động cụ
thể
KDL hờ hững
(Loungers)
Mức độ quan tâm rất thấp, chú
trọng vào giải trí thƣ giãn và không
quan tâm gì hơn ngoài việc tìm thú
16
Sản phẩm DLST thƣờng mang tính tổng hợp, gắn liền giữa thiên nhiên với con

yếu do hoạt động phát triển kinh tế xã hội và hoạt động DLST gây nên nhằm đề
xuất các biện pháp tích cực trong việc điều chỉnh sự tác động đó theo chiều hƣớng
có lợi cho cả kinh tế và môi trƣờng.
Nhiệm vụ của các nhà quản lý lãnh thổ là tuyên truyền giáo dục ý thức gìn
giữ môi trƣờng và phát triển bền vững cho cộng đồng dân cƣ, cho các nhà điều
hành du lịch, phối kết hợp với các nhà KDDL để một mặt đảm bảo lợi ích kinh tế
cho các nhà KDDL, một mặt đảm bảo sự an toàn cho KDL, đảm bảo trật tự an toàn
xã hội cũng nhƣ tính hiệu quả trong nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững.
Riêng tài nguyên DLST là các vƣờn Quốc gia thì các nhà quản lý lãnh thổ
bao gồm hai hệ thống quản lý: đó là hệ thống quản lý theo ngành (Cục kiểm Lâm
thuộc Bộ NN& PTNT) và hệ thống quản lý theo lãnh thổ (CQĐP cấp tỉnh). Dù
thuộc hệ thống quản lý nào thì các nhà quản lý lãnh thổ cũng đều phải quán triệt
và thực hiện các chức năng trên đối với hoạt động DLST.
Ba là, các nhà điều hành, kinh doanh du lịch
Các nhà điều hành hoạt động DLST là những ngƣời trực tiếp chịu trách
nhiệm lựa chọn địa điểm tổ chức DLST, xác định phƣơng thức tiến hành, xác định
các loại hình sản phẩm DLST sẽ cung cấp cho du khách trong điều kiện thị trƣờng
có cạnh tranh. Các nhà điều hành KDDL vừa có trách nhiệm đảm bảo lợi ích của
tổ chức KDDL vừa phải đảm bảo các nguyên tắc bảo tồn và phát triển bền vững
của hoạt động DLST. Vì vậy, họ phải là những ngƣời am hiểu về thị trƣờng, có
đầy đủ kiến thức kinh doanh đồng thời phải quán triệt tôn trọng những nguyên tắc
của DLST. Muốn đạt đƣợc hiệu quả cao trong hoạt động điều hành kinh doanh
DLST, họ phải có sự phối kết hợp với các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản
lý lãnh thổ và những ngƣời dân địa phƣơng.
Bốn là, đội ngũ hƣớng dẫn viên du lịch
18
Đối với DLST, HDV phải là những ngƣời có kiến thức về du lịch, có trình
độ ngoại ngữ, am hiểu về các đặc điểm sinh thái, có kiến thức, có đầy đủ thông tin
về môi trƣờng tự nhiên, về văn hoá bản địa để có thể giới thiệu một cách sinh động
nhất đầy đủ nhất với du khách về những vấn đề mà họ quan tâm. Đây cũng là hoạt

Đây là nguyên tắc cơ bản, giúp ta phân biệt DLST với các loại hình DL khác nên
có ngƣời nói DLST là DL có trách nhiệm. Vì vậy, hoạt động diễn giải giáo dục
môi trƣờng đối với cộng đồng địa phƣơng, đối với du khách và đối với cán bộ
nhân viên ngành du lịch cũng là một đặc trƣng của DLST.
Các chƣơng trình hoạt động của DLST chủ yếu do các HDV địa phƣơng,
những ngƣời có kiến thức sâu rộng và am hiểu về giá trị của những TNTN xung
quanh họ để có thể truyền đạt lại cho du khách và các đối tƣợng khác. Những
HDV này giữ vai trò là ngƣời trung gian giữa thiên nhiên và cộng đồng của vùng
với du khách từ bên ngoài. Họ chịu trách nhiệm vừa giới thiệu về đặc điểm TNTN,
văn hoá của khu vực, vừa giám sát các hoạt động của KDL. Các phƣơng tiện, việc
sắp xếp để hỗ trợ các chƣơng trình DLST nhƣ các trung tâm thông tin, đƣờng mòn,
cơ sở lƣu trú, ăn uống, sách báo và các tài liệu khác phục vụ cho du khách cũng
mang tính giáo dục, diễn giải về môi trƣờng. Chính vì vậy, thông qua DLST, du
khách có thêm những hiểu biết về môi trƣờng tự nhiên và nâng cao đƣợc ý thức
bảo vệ môi trƣờng và tôn trọng văn hoá bản địa.
1.1.4.3. Nguyên tắc đóng góp cho bảo tồn để quản lý bền vững về môi trường
sinh thái
Tài nguyên DLST thƣờng rất nhạy cảm đối với những tác động từ hoạt
động du lịch hay hoạt động kinh tế, những hoạt động này có thể làm cho TNDL
thiên nhiên bị cạn kiệt, TNDL văn hoá bản địa bị mai một, lai căng. Trong khi
khách DLST họ cần tìm hiểu những giá trị nguyên sơ, những cái mới lạ, khác biệt
đối với họ cả đối với tự nhiên và đối với những giá trị văn hoá cộng đồng. Vi vậy,
20
việc đóng góp cho bảo tồn là một trong những đặc trƣng của DLST, nhằm gìn giữ
những giá trị của TNDL thiên nhiên cũng nhƣ giá trị của văn hoá địa phƣơng.
Nội dung của bảo tồn TNTN là bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn gen và
bảo tồn loài, đặc biệt là bảo tồn những loài động, thực vật quý hiếm đang có nguy
cơ tuyệt chủng. Còn bảo tồn những giá trị văn hoá bản địa là việc duy trì, tôn tạo
những làng nghề truyền thống, những phong tục tập quán, tín ngƣỡng, những lễ
hội, những phong cách kiến trúc, những nét văn hoá văn nghệ đặc trƣng,

tôn tạo các nguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế-xã hội, thẩm
mỹ của con ngƣời trong tƣơng lai thông qua việc duy trì đƣợc sự toàn vẹn về văn
hoá, đa dạng sinh học, sự phát triển của hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho
cuộc sống của con ngƣời. DLST là loại hình DL có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu
của DL bền vững, vì vậy DLST có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển DL bền vững
của một vùng hay một quốc gia, phù hợp với xu hƣớng hiện nay trên thế giới.
Những đóng góp của DLST đƣợc thể hiện qua các mặt sau:
1.1.5.1. Ý nghĩa về kinh tế
Phát triển loại hình DLST đúng nghĩa, sẽ góp phần làm tăng trƣởng kinh tế,
tăng thu nhập quốc dân, tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động. TNTN (Sông,
biển, đất đai, rừng, khí hậu,…) thực sự đƣợc khai thác phục vụ cho tăng trƣởng
kinh tế. Việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp - dịch vụ - nông
nghiệp đƣợc thực hiện. Trong khi đó, TNTN một mặt vẫn đƣợc khai thác để phục
vụ tăng trƣởng, mặt khác vẫn đƣợc bảo tồn, gìn giữ đảm bảo cho sự tăng trƣởng
kinh tế bền vững.
Phát triển DLST sẽ thu hút các nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc và nguồn vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài, hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ có điều kiện đầu tƣ theo hƣớng hiện
đại hoá, đặc biệt là đối với các vùng xa xôi hẻo lánh, làm giảm sự chênh lệch về
trình độ phát triển kinh tế và mức sống dân cƣ giữa các vùng. DLST góp phần tôn
22
vinh những giá trị văn hoá bản địa, các làng nghề truyền thống đƣợc duy trì, phát
triển, đem lại lợi ích kinh tế cho cộng đồng cũng nhƣ lợi ích quốc gia.
1.1.5.2. Ý nghĩa về xã hội
DLST luôn gắn liền với một phạm vi lãnh thổ nhất định mà sự gắn kết cộng
đồng đƣợc xem là nền tảng, là đặc tính hàng đầu trong đời sống văn hoá bản địa.
Hoạt động DLST sẽ tạo điều kiện cho CĐDCĐP cung cấp các yếu tố đầu vào cho
hoạt động DL: lƣơng thực, thực phẩm, hàng lƣu niệm, cung cấp nơi ăn, chốn ở cho
du khách. Đồng thời, hoạt động DLST cũng đem lại cho ngƣời dân địa phƣơng
việc làm trực tiếp, thu nhập, hoạt động giao lƣu văn hoá,… tạo ra đƣợc mối đoàn
kết trong cộng đồng, đoàn kết dân tộc và quốc tế.

sát khác nhau. Dƣới góc độ của ngƣời đầu tƣ và KDL, chất lƣợng của tài nguyên
DLST chính là mức độ thu hút đối với họ, biểu hiện qua một số tiêu chí cụ thể sau:
1.2.1.1. Quy mô của tài nguyên du lịch sinh thái
Các tiêu chí đánh giá quy mô của TNDL lại phụ thuộc vào loại TNDL đó là
gì, có thể sử dụng các chỉ tiêu nhƣ: Chiều dài (bãi biển, hang động, sông, suối, ),
chiều rộng (hang động, dòng sông, bãi biển, suối thác, ), chiều cao (núi, hang
động, thác nƣớc, ), diện tích (vƣờn quốc gia, hồ, làng quê, đầm phá )
Quy mô của tài nguyên DLST sẽ ảnh hƣởng đến sức chứa của điểm du lịch
chứa đựng tài nguyên DLST đó. Điều này sẽ liên quan đến quy mô đầu tƣ, quy mô
hoạt động của điểm du lịch và từ đó ảnh hƣởng đến đẳng cấp của nhà đầu tƣ cũng
nhƣ chất lƣợng dịch vụ tại điểm DLST đó.
1.2.1.2. Độ hấp dẫn của tài nguyên du lịch sinh thái
Độ hấp dẫn của tài nguyên DLST biểu hiện thông qua số lƣợng phong cảnh
đẹp, mức độ đa dạng của địa hình, mức độ phong phú, đa dạng sinh học, cùng với
sự độc đáo của VHĐP. Đối với TNTN, độ hấp dẫn còn có thể đƣợc phản ánh ở sự
công nhận của một cấp nào đó hay từ kết quả bình chọn đƣợc công bố của một tổ
24
chức uy tín nào đó. Chẳng hạn: ở cấp quốc gia (vƣờn quốc gia, khu bảo tồn loài
sinh cảnh quốc gia, ) hay cấp quốc tế (di sản thiên nhiên thế giới, khu dự trữ sinh
quyển thế giới, ) hay những kết quả bình chọn đƣợc công bố (hang động lớn nhất
và đẹp nhất thế giới, bãi biển đẹp nhất, vịnh đẹp nhất thế giới, ).
Bên cạnh những sự hấp dẫn của TNTN thì VHĐP cũng là một trong những
yếu tố quyết định chất lƣợng của tài nguyên DLST. VHĐP (kỹ thuật canh tác,
phong tục tập quán, kiến trúc truyền thống, những nét văn hóa dân gian, văn hóa
ẩm thực, ) đƣợc hình thành lâu đời trên cơ sở điều kiện của TNTN. Một sự khác
biệt, độc đáo, đặc trƣng theo vùng miền của VHĐP tạo nên sức hút cao đối với
KDL. VHĐP không chỉ có sức thu hút KDL đến với tài nguyên DLST mà còn có
khả năng giữ chân khách, kéo dài thời gian lƣu lại của khách nâng cao hiệu quả
hoạt động du lịch, tăng thu nhập để giữ gìn và tôn tạo những giá trị VHĐP có thể
bị mai một do những tác động của cơ chế thị trƣờng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status