Trang 1
TIỂU LUẬN
MÔN: DỊCH VỤ CÔNG
Đề tài: “Cung ứng dịch vụ văn hóa ở Việt Nam”.
LỜI MỞ ĐẦU
Cung ứng dich vụ công là một chức năng quan trọng của Nhà Nước trong xã hội
hiện đại, nhất là khi các Nhà Nước đang cải cách theo hướng gần dân hơn, đáp ứng tốt
hơn yêu cầu của nhân dân. Một yêu cầu bức xúc đặt ra của nhiều nước trên thế giới hiện
nay là làm rõ vai trò của nhà nước trong việc cung ứng dịch vụ công, từ đó xác định
những nhiệm vụ nào chỉ có thể do Nhà Nước tự đảm nhận và những dịch vụ nào có thể
thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân.
Cải tiến việc cung ứng dịch vụ công đã và đang là một chủ đề được nhiều chính
phủ trên thế giới quan tâm. Ở nước ta cải cách hành chính được xác định là trọng tâm của
việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Các
nội dung của cuộc cải cách hành chính nhằm hướng vào xây dựng một nền hành chính
trong sạch vững mạnh, từng bước hiện đại hóa nhằm phục vụ những lợi ích chung thiết
yếu, các quyền và nghĩa vụ của người dân. Thông qua cải cách hành chính, nhà nước từng
bước nâng cao chất lượng cung ứng dich vụ công cho nhân dân.
Quá trình ứng dịch vụ ở nước ta hiện nay đang tập chung vào một nội dung quan
trọng là tiến hành xã hội hóa ngày càng rộng rãi các dịch vụ công trong một số lĩnh vực
như: giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học công nghệ… bên cạnh, đó yêu cầu cải cách hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước trong việc cung ứng các dịch vị hành chính
cho công dân cũng đang trở thành một trọng tâm của việc đổi mới hoạt động của bộ máy
Nhà nước. Do phạm vi của dịch vụ công bao quát quá rộng nên tùy từng loại dịch vụ mà
nhà nhước có thể lựa chọn các hình thức cung ứng khác nhau phụ thuộc vào tính chất của
dịch vu cũng như khả năng cung ứng nó .
Đời sống Kinh tế - Xã hội phát triển, nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần tất yếu
cũng nâng lên đa dạng và phong phú. Các loại hình biểu diễn nghệ thuật nở rộ, trò chơi
điện tử, dịch vụ karaoke, kinh doanh băng đĩa phát triển, nhiều lễ hội được khôi phục…
đặt ra nhiệm vụ là nhà nước phải cung ứng các dịch vụ hành chính công và dịch vụ công
cộng thuộc lĩnh vực này sao cho tốt. Sở dĩ vì vậy mà chúng tôi nhận thấy lĩnh vực Cung
+ Dịch vụ công ích: cung cấp điên, nước sạch, vệ sinh môi trường, xây dựng
đường…
Trang 4
2.2. Cung ứng dịch vụ công về văn hóa: (theo ý kiến cá nhân của nhóm)
Là một trong những hoạt động của hoạt động sự nghiệp công (chức năng xã hội)
của Nhà nước.
Văn hóa bao gồm: lễ hội,triển lãm,nghệ thuật kiến trúc, bảo tàng, du lich, khách
sạn,vui chơi giải trí, ẩm thực,…
3. Cung ứng dịch vụ công về văn hóa ở một số nước trên thế giới
3.1. Ở nước Anh
Cơ quan quốc gia đầu tiên tài trợ cho nghệ thuật là Hội đồng khuyến khích Âm
nhạc và Nghệ thuật (CEMA), sử dụng quỹ công và quỹ từ thiện để hỗ trợ cho nghệ thuật.
Gần 20 năm sau chiến tranh, Bộ Tài chính là cơ quan nhà nước có trách nhiệm trợ
cấp cho hoạt động của Hội đồng Nghệ thuật Anh quốc, các bảo tàng quốc gia và phòng
trưng bày, thư viện Anh quốc v.v Năm 1965,g iao cho Bộ Giáo dục và Khoa học. Uỷ
ban Thường trực về Bảo tàng và Phòng trưng bày Năm 1963, có trách nhiệm trợ cấp cho
các Bảo tàng Quốc gia.
Các cơ quan chính quyền địa phương bắt đầu mở rộng sự hỗ trợ của mình, xây
dựng hoặc khôi phục các nhà hát, các bảo tàng, phòng trưng bày và các trung tâm cộng
đồng đa mục đích, cũng như điều hành các chương trình và lễ hội riêng của họ.
* Cung cấp tài chính cho Văn hoá:
Chi tiêu của Chính phủ trung ương thực hiện thông qua Bộ Văn hoá, Truyền thông
và Thể thao theo năm tài chính (từ 31/4 đến 1/3 của năm sau) 2002/2003 là 1000 triệu
Bảng, trong đó:
- 379 triệu bảng cho các bảo tàng, phòng trưng bày và thư viện Quốc gia;
- 296 triệu bảng cho nghệ thuật;
- 113 triệu bảng cho phát thanh - truyền hình và truyền thông (bao gồm cả điện
ảnh).
- 153 triệu bảng cho các toà nhà, công trình và địa điểm có giá trị lịch sử.
- 50 triệu bảng để dự phòng cho các hoạt động thể thao và nghệ thuật.
quan đến nghệ thuật và văn hóa. Các viện văn hóa chính như Thư viện Hoàng gia, Trung
tâm lưu trữ quốc gia, Viện di sản Hà Lan, nhiều viện bảo tàng quốc gia, và gần như toàn
bộ các cơ sở giáo dục như nhạc viện và viện giáo dục bậc cao hơn, đều nằm dưới sự quản
lý trực tiếp của chính quyền nhà nước. Trọng trách của cấp chính quyền trung ương là
Trang 6
đảm bảo sao cho các viện, tổ chức và công ty này hoạt động thật tốt. Nhà nước cũng bảo
trợ cho hàng trăm công ty biểu diễn nghệ thuật, các viện triển lãm nghệ thuật, các chương
trình nghệ thuật, và nhiều viện cơ sở cũng như trung tâm chuyên ngành. Sau nghệ thuật
và di sản văn hóa, cấp chính quyền trung ương chịu trách nhiệm trước nhất về hệ thống
phát thanh công cộng quốc gia.
Các thành phố địa phương và tỉnh thành, dành gần 2/3 ngân sách cho nghệ thuật và
văn hóa, cùng với nhà nước thực hiện phân phối, sắp xếp cung và cầu giữa các vùng và
địa phương. Về tài chính, phần lớn các viện bảo tàng của Hà Lan đều phụ thuộc vào chính
quyền thành phố địa phương. Ở Hà Lan, các cơ sở văn hóa công cộng như thư viện
thường được giao cho các địa phương quản lý. Nhà nước chỉ hỗ trợ cho các thư viện bằng
cách cấp kinh phí hoạt động cho một trung tâm đầu não.
3.3. Kinh nghiệm cho Việt Nam
- Xây dựng và hoàn thện cơ chế chính sách về lĩnh vực văn hóa, cung ứng dịch vụ
công về văn hóa của nhà nước.
- Phối hợp với tổ chức xã hội,tư nhân thực hiện cung ứng dịch vụ văn hóa theo
pháp luật và theo quy chế nhằm giảm bớt gánh nặng công việc cho nhà nước mà vẫn thực
hiện tốt chức năng của nhà nước.
- Cải thiện, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công trong khu vực nhà nước và
theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ.
- Nhà nước cho thuê hay bán một phần tài sản hoặc một phần số cổ phiếu của danh
nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ công ra ngoài xã hội cho tổ chức xã hội hay tư nhân.
- Tạo ra và duy trì được sự cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ (đặc biệt
là các tổ chức cung ứng dịch vụ công của nhà nước), nhà nước không chỉ diều tiết mà còn
khuyến khích và tạo thị trường.
- Nhà nước tạo ra sân chơi bình đẳng, đổi mới đi với nhau.
nước, nâng cao trách nhiệm của nhân dân trong việc tham gia bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa. Luật di sản văn hóa đã quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức cá
nhân đối với di sản văn hóa; vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ và phát huy các giá trị
di sản văn hóa; thành lập các bảo tàng trưng bày, triển lãm các hiện vật văn hóa ; tổ chức
việc thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về di sản văn hóa; khen thưởng và xử lý vi
phạm về di sản văn hóa.
Trang 8
Luật di sản văn hóa được ban hành năm 2001 và bổ sung năm 2009 đã thể hiện
quan điểm của Đảng và Chính phủ trong công tác bảo vệ các di sản văn hóa của đất nước.
+ Nghị định 103: Ngoài Luật di sản văn hóa và Chiến lược phát triển đến năm
2020 của chính phủ về văn hóa, chúng ta còn có các Nghị định, Quy chế như: Nghị định
số 103/2009/NĐ- CP của Chính phủ ban hành năm 2009 cùng với Quy chế hoạt động văn
hóa và kinh doanh văn hóa công cộng kèm theo…
Trong Nghị định kèm theo “quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh các hoạt
động dịch vụ văn hóa công cộng”, cũng đã nêu rõ ràng mục đích, đối tượng… về hoạt
động văn hóa. Ví dụ Điều 1 “các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công
cộng phải nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giáo dục nếp
sống lành mạnh và phong cách ứng xử có văn hóa cho mọi người; kế thừa và phát huy
truyền thống nhân ái, nghĩa tình, thuần phong mỹ tục; nâng cao hiểu biết và trình độ thẩm
mỹ, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân, ngăn chặn sự xâm nhập và bài trừ
những sản phẩm văn hóa có nội dung độc hại; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội
của đất nước”. Hay tại điều 2 quy định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:
“1, Phạm vi điều chỉnh:
a, Quy chế này quy định các hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa
công cộng bao gồm: lưu hành, kinh doanh băng, đĩa ca nhạc, sân khấu; biểu diễn nghệ
thuật, trình diễn thời trang; triển lãm văn hóa, nghệ thuật; tổ chức lễ hội; viết, đặt biển
hiệu; hoạt động vũ trường, karaoke, trò chơi điện tử, các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn
hóa và các hình thức vui chơi giải trí khác.
2, Phạm vi điều chỉnh: quy chế này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam và
tổ chức, cá nhân nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, trong trường hợp Điều ước
dưới mọi hình thức, thường xuyên chỉ đạo các đội đội kiểm tra liên ngành của các xã,
phừơng, huyện, thị tiến hành công tác kiểm tra, truy quét nạn buôn bán trái phép này.
2.2. Triển lãm, Bảo tàng.
Việt Nam đang có hơn 100 bảo tàng. Nhằm mục đích bảo tồn nền văn hóa đậm đà
bản sắc dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng rất nhiều các hoạt động
nhằm khơi dậy tinh thần dân tộc, gìn giữ các di sản, tài sản quốc gia như: tổ chức các
cuộc tìm kiếm di vật của cha ông để lại; xây dựng các bảo tàng lưu giữ hiện vật Cũng
như có các văn bản pháp luật về tổ chức, hoạt động không chỉ của các hoạt động văn hóa,
Trang 10
dịch vụ văn hóa công cộng mà cả những văn bản quy định riêng cho từng mảng dịch vụ.
Chẳng hạn, Nghị định số 18/2010/TT- BVHTTDL của Bộ văn hóa- thể thao và du lịch
quy định về tổ chức và hoạt động của bảo tàng: quy định chi tiết từ phạm vi, đối tượng
điều chỉnh; đặt tên, tổ chức bảo tàng; tới các hoạt động trong bảo tàng…
Ngoài ra, như chúng ta cũng biết Công nghệ thông tin là một trong những động lực
quan trọng nhất của sự phát triển. Cùng với một số ngành khoa học khác, công nghệ
thông tin đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của thế giới hiện đại.
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết (số 49/CP ngày 4/8/1993) về phát triển công
nghệ thông tin ở Việt Nam trong đó nêu rõ mục tiêu: “Mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn
hoá, an ninh, quốc phòng đều phải ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển”.
Hơn 10 năm qua các bộ, ngành trong cả nước đã triển khai nhiều đề án và kế hoạch
để thực hiện mục tiêu này. Sau khi thử nghiệm một số dự án ứng dụng tin học trong quản
lý, năm 2004, Cục Di sản văn hoá cùng với Công ty Cổ phần Truyền thống Việt Nam
(Vinacomm) xây dựng dự án tiền khả thi nhằm thiết lập và phát triển hệ thống thông tin
của ngành di sản văn hoá. Chúng tôi đã tiến hành điều tra hiện trạng ứng dụng công nghệ
thông tin của ngành. 90% trong tổng số 170 đơn vị bảo tàng và ban quản lý di tích đã trả
lời phiếu điều tra. Kết quả như sau: 78% đơn vị chỉ dùng máy tính để soạn thảo văn bản;
3% đơn vị có sử dụng các phần mềm tin học ứng dụng để quản lý hiện vật, quản lý khách
tham quan, quản lý công văn, thư điện tử, kế toán; chỉ có 2% đơn vị đã kết nối và sử dụng
Internet.
Sau đây chúng ta điểm qua vài nét về một số bảo tàng của Việt Nam mà Nhà nước
Bảo tàng Hà Nội, trước đây nằm ở số 5B phố Hàm Long, quận Hoàn Kiếm, Hà
Nội, là nơi trưng bày giới thiệu về thủ đô Hà Nội từ khi dựng nước đến nay.
Để kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, một dự án xây dựng mới bảo
tàng Hà Nội đã được thực hiện với số tiền đầu tư rất lớn, Bảo tàng Hà Nội mới nằm trong
khu vực xây dựng Trung tâm Hội nghị Quốc gia Việt Nam tại Mỹ Đình, xã Mễ Trì, huyện
Từ Liêm, Hà Nội; có kết cấu hình kim tự tháp ngược, trong đó tầng 4 có diện tích lớn
nhất, các tầng dưới nhỏ dần. Thiết kế của Liên doanh tư vấn GMP - ILAG (Đức).
Trong riêng từ năm 2010 đến 2011 các bảo tàng quy mô nhỏ hơn tại Hà Nội như
Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam theo số liệu tổng hợp thu hút được 500.000 lượt khách,
Trang 12
Bảo tàng Lịch Sử Việt Nam là 73.000 lượt. Từ năm 2010 đến nay Bảo tàng Hà Nội thu
hút được khoảng 130.000 lượt khách.
* Các bảo tàng khác
Kế hoạch xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia: Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc
gia là chủ trương chung của Đảng và Nhà nước. Khi hoàn thành bảo tàng sẽ trở thành
công trình chung, tài sản chung của đất nước.
Đây là một công trình văn hóa được xây dựng cho nhân dân, cho xã hội và đất
nước. Một bảo tàng mang tầm cỡ quốc gia sẽ góp phần nâng cao nhận thức, lòng tự hào
dân tộc của mỗi người dân. Cái được là vô hình và không thể đo đếm được.
Đầu tư xây dựng một nhà máy, một khu công nghiệp sẽ gắn liền với quyền lợi về
kinh tế. Còn lợi ích của bảo tàng mang lại không thể nhìn được, đếm được mà nó ảnh
hưởng đến ý thức của mỗi người dân. Nói cách khác, cái được của bảo tàng không thể
tính bằng tiền.
Mặt khác hai bảo tàng trăm năm tuổi Bảo tàng Cách mạng và Bảo tàng Lịch sử
Việt Nam cũng đã mang lại hiệu quả thiết thực. Thực tế trước nay bảo tàng đã thu hút một
lượng khách lớn, lên đến 800 đến 1 triệu lượt khách mỗi năm. Trong đó phải đến 60%
lượng khách là người nước ngoài. Con số này đã nói lên hiệu quả của hai bảo tàng hiện
có.
Còn lý do trong bảo tàng mở cửa hàng ăn, quán cà phê Theo nghị định 43 thì bảo
tàng được phép tận thu để tăng nguồn thu cho bảo tàng. Phần diện tích này chỉ được tận
trong những năm sau đó.
Rồi mười ba bảo tàng Việt Nam cùng phối hợp tham gia đưa những bộ sưu tập đặc
sắc và quý hiếm của mình đi trưng bày ở Vương quốc Bỉ và Cộng hoà Áo, với chủ đề
dung dị nhưng ấn tượng “Việt Nam - quá khứ và hiện tại” và “Việt Nam thần linh - tổ tiên
và anh hùng”, đã đưa người xem, lần đầu tiên, hiểu Việt Nam một cách khá trọn vẹn và
sâu sắc, mà bấy lâu nay, như báo giới Châu Âu thừa nhận “Quốc gia dân tộc ấy còn chứa
đựng nhiều bí ẩn rất cần được tìm tòi, khám phá”. Cuộc trưng bày đã thu hút được hàng
triệu lượt khách đến tham quan, gây được tiếng vang lớn trên thế giới.
Gần đây, Bảo tàng Guimet (Cộng hoà Pháp) cũng đã tiếp xúc với một số Bảo tàng
Việt Nam, mà đối tác chủ yếu là Bảo tàng nghệ thuật Điêu khắc Chăm ở Đà Nẵng và Bảo
tàng Lịch sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, để đưa bộ sưu tập điêu khắc đá Chămpa
Trang 14
sang Pháp trưng bày tại thủ đô Paris, nhằm tôn vinh một nền nghệ thuật của một trong các
cộng đồng dân tộc Việt Nam, trong quá khứ vàng son, đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật
chạm khắc đá.
2.3. Dịch vụ vũ trường, karaoke…
Tại cuộc họp báo công bố Nghị định 11/2006/NĐ-CP do Bộ Văn hóa - Thông tin
tổ chức, hầu hết các nhà báo đều quan tâm nhiều nhất đến những điểm mới của quy chế
trong hoạt động vũ trường, karaoke và trò chơi điện tử, vốn là những loại hình hoạt động,
kinh doanh văn hóa rất "nhạy cảm" hiện nay. Theo quy chế mới thì chỉ có khách sạn, nhà
văn hóa và trung tâm văn hóa mới được phép kinh doanh vũ trường. Như vậy, các câu lạc
bộ văn hóa không còn được phép kinh doanh vũ trường nữa. Cơ sở kinh doanh vũ trường,
karaoke phải cách trường học, bệnh viện, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn
hóa, cơ quan hành chính Nhà nước từ 200m trở lên. Người điều hành hoạt động trực tiếp
tại vũ trường phải có trình độ trung cấp chuyên ngành văn hóa nghệ thuật trở lên. Không
cho người dưới 18 tuổi làm việc hoặc vào khiêu vũ tại vũ trường. Tất cả các vũ trường, cơ
sở karaoke không được hoạt động sau 12 giờ đêm cho đến 8 giờ sáng hôm sau. Các cửa
hàng trò chơi điện tử phải cách các trường tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
từ 200m trở lên và không được hoạt động quá 11 giờ đêm.
Với loại hình kinh doanh karaoke, quy chế đã quy định rất cụ thể như sau: Phòng
mại dâm; 85% đối tượng trong độ tuổi từ 16 đến 25; Số tiền xử phạt lên tới 2 tỉ 521 triệu
đồng; 50 vụ đặc biệt nghiêm trọng, trong đó có 3 vụ đã khởi tố tại TP Hồ Chí Minh, Hà
Nội và Cần Thơ.
2.4. Tình hình kinh doanh khách sạn
Nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch cho Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đảm
bảo cung ứng dịch vụ khách sạn cho khách du lịch trong và ngoài nước, đặc biệt là du
khách nước ngoài khi đặt chân tới Việt Nam. Không chỉ khách sạn do Nhà nước quản lý
trực tiếp mà rất nhiều các tập đoàn tư nhân dưới sự cấp phép của nhà nước, sự thẩm định
của các hội đồng, các chuyên gia… về chất lượng khách sạn. Ví dụ như Tập đoàn Accor
Hotels tiếp tục dẫn đầu trên thị trường với số lượng các khách sạn ở thành phố nhiều nhất
và với hệ thống các khu nghỉ dưỡng Six Senses/Evason.
Trang 16
Báo cáo Khảo sát Ngành dịch vụ Khách sạn năm 2011 thực hiện bởi Grant
Thornton Việt Nam trình bày các thông tin về tài chính, tình hình hoạt động cũng như tiếp
thị của các khách sạn và khu nghỉ dưỡng Việt Nam cho năm tài chính 2010.
Năm 2010, một phần do sự phục hồi của nền kinh tế, ngành khách sạn ở Việt Nam
đã có một năm thành công đáng kể. Khách sạn 4 sao có sự tăng trưởng đáng kể nhất về
giá phòng, tăng 8,5%. Giá phòng khách sạn 5 sao chỉ tăng khoảng 0,8% và các khách sạn
3 sao tăng trưởng mạnh mẽ với 4,7%. Ngược lại với sự suy giảm trong năm 2009, công
suất thuê phòng trug bình của khách sạn 4 và 5 sao trong năm 2010 lần lượt tăng 5,3% và
5,0%. Tuy nhiên, công suất khách sạn 3 sao lại giảm 1.6%. Sự thay đổi này cho thấy sự
dịch chuyển về nhu cầu của khách hàng sang hướng các khách sạn có chất lượng cao hơn.
Du khách ngày nay chọn loại hình khách sạn theo sự tiện nghi và đa dạng về mặt dịch vụ
hơn là chỉ quan tâm đến giá cả. Công xuất sử dụng phòng cũng tăng ở khắp các vùng
miền trên khắp cả nước, tương ứng với sự gia tăng số lượng khách du lịch quốc tế đến với
Việt Nam.
2.5. Tổ chức lễ hội.
Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. "Lễ" là hệ
thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh,
phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa
ngành và để đánh vào ý thức trách nhiệm của giới nghệ sĩ.
Sự cấp tiến của ông sau đó cũng chìm vào im lặng, cho tới đầu năm 2012 lại được
xới lên sau quá nhiều rối ren, scandal trong các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, trình diễn
thời trang.
Thực trạng hát nhép, ăn mặc phản cảm, loạn danh xưng của giới nghệ sĩ, chân dài
làm khán giả nhức óc, hoa mắt. Sự ra tay liên tiếp của giới truyền thông phanh phui hiện
trạng hát nhép, ăn mặc hở hang càng cho thấy lỗ hổng trong công tác quản lý, thanh tra,
giám sát của các nhà quản lý.
Một nghịch lý nữa sẽ khiến các nhà tổ chức khá đau đầu, đó là những người hoạt
động nghệ thuật chuyên nghiệp (thường ít được khán giả biết tới) dù sở hữu tấm thẻ hành
nghề nhưng lại vấp khe cửa hẹp của các nhà tổ chức khi làm sự kiện. Ngược lại, những
cái tên mới nổi (kể cả bằng scandal hiếp dâm, lộ ngực, ăn mặc phản cảm, hát nhép…)
nhưng chưa có thẻ hành nghề lại được săn đón nhiệt trình và treo băng rôn quảng cáo
Trang 18
khắp nơi. Việc chưa có thẻ hành nghề (được các nhà quản lý so sánh như thẻ dược sĩ),
liệu các nghệ sĩ có được tham gia hoạt động biểu diễn nghệ thuật?
Về mặt bảo tàng cũng có nhiều ý kiến trái chiều: Dư luận đang rộ lên chuyện xây
dựng Bảo tàng lịch sử Quốc gia. Mỗi người mỗi ý kiến. Từ những chuyên gia chuyên
ngành cho đến dân thường. Hay! Trong thời buổi giá cả leo thang sốt sít sìn sịt từng ngày,
tưởng chuyện xây dựng Bảo tàng lịch sử Quốc gia nó thuộc tầm vĩ mô, thuộc hình thái
thượng tấng kén người quan tâm chứ, ai dè người bàn ra kẻ tán vào xôm đáo để! Lại
thêm, 11.000 tỷ có là gì? Nhìn ra thế giới có bao bảo tàng đồ sộ ngốn hàng chục tỷ đô mà
ngườì ta vẫn chịu chơi, chịu chi và thực tế họ đã thu lãi bộn cả tiền bạc cũng như tinh
thần. 11.000 tỷ có là gì, khi một Vinashin, một Vinasine đã ném sông ném biển mấy lần
như thế. Đó là chưa kể hàng trăm công trình, dự án, khu công nghiệp ngốn cả núi tiền giờ
đang ủ mền đắp chiếu. Hàng chục ngàn căn hộ bỏ hoang tiêu tốn cả trăm ngàn tỷ.
Thực tế hơn cả có lẽ là luồng ý kiến đánh thẳng vào thực trạng kinh tế hiện thời
đang khó. Bao chương trình an sinh đang thiếu vốn ngược xuôi. Cũng 11.000 tỷ ấy, người
ta đưa ra bao phép so sánh thay vì xây bảo tàng có thể xây 11.000 nhà trẻ hay 5.000
trường mầm non nông thôn hoặc hơn nửa triệu ngôi nhà tình nghĩa. 11.000 tỷ ấy có thể
đĩa, sau quá trình thẩm định nội dung vi phạm mới có thể xử phạt.
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUNG ỨNG DVC
VỀ VỀ VĂN HÓA
Tập trung làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt để nâng cao nhận thức
về xây dựng, phát triển văn hoá; hoàn chỉnh quy hoạch phát triển và phát huy hiệu quả
hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá từ thành phố đến cơ sở, bảo tồn, tôn tạo, xây
mới và phát huy tác dụng các giá trị văn hoá tiêu biểu của thủ đô; phát triển hệ thống
thông tin đại chúng, phát thanh truyền hình, báo chí.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển văn hoá, chống
các hiện tượng tiêu cực, các ảnh hưởng độc hại trong đời sống văn hoá.
Tập trung xây dựng bộ máy thanh tra chuyên ngành và đội ngũ kiểm tra ở các
phòng văn hoá thông tin có trình độ quản lý, có trang bị hiện đại nhằm hoàn thành tốt các
nhiệm vụ thanh kiểm tra.
Trang 20
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật, nhất là tuyên truyền cán bộ luật, các
văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hoá - thông tin phù hợp từng đối tượng,
từng vùng.
Đưa ra các tiêu chí các danh hiệu “Gia đình văn hoá” , “Làng văn hoá” , khu phố
văn hoá, trường học, cơ quan văn hoá phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng dân.
Nghiên cứu tập trung tuyên truyền vận động, xây dựng các chế tài phù hợp cải tạo các
phong tục tập quán lạc hậu, các tệ nạn mê tín dị đoan gây mất trật tự xã hội, chia rẽ khối
đoàn kết dân tộc. Đồng thời tránh chủ nghĩa chạy theo thành tích, cần coi trọng chất
lượng của phong trào.
Giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể (những phong tục, tập quán tốt
đẹp, nghệ thuật diễn xướng và lễ hội dân gian) nhằm giáo dục truyền thống của các địa
phương cho các thế hệ, thu hút khách thập phương, tôn vinh các danh nhân, địa danh văn
hóa, những danh lam thắng cảnh của địa phương và qua đó tạo thêm việc làm và tăng thu
nhập cho nhân dân.
Đầu tư tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa khác nhau nhằm bảo tồn các giá trị văn
hóa, giáo dục truyền thống và phát triển du lịch.
phẩm văn hóa, nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa, giữ gìn và phát huy
bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Cần nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước
trên lĩnh vực văn hóa - thể thao - du lịch. Xây dựng cơ chế, chính sách chế tài ổn định phù
hợp với yêu cầu quản lý văn hóa trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về văn hóa.
Các cơ quan chức năng như ngành văn hóa, quản lý thị trường cần phối hợp chặt chẽ hơn
nữa với chính quyền các địa phương trong việc phòng chống và đấu tranh với các hoạt
động như buôn bán băng đĩa lậu, karaoke, biểu diễn nghệ thuật, kinh doanh các dịch vụ
văn hóa công cộng… không đúng với quy định của pháp luật.
Trang 22
KẾT LUẬN
Nhận thức về dich vụ công và vai trò của Nhà nước trong cung ứng dịch vụ công
vẫn còn là vấn đề mới mẻ ở nước ta. Thiết nghĩ Chính Phủ và người dân đều cần phải
quan tâm hơn nữa đến chức năng này. Hoạt động cung ứng dịch vụ công là sự thể hiện
trực tiếp nhất về hình ảnh của Nhà Nước trước công dân. Hoạt động cung ứng dịch vụ
công nói chung, dịch vụ công về văn hóa nói riêng cũng phản ánh năng lực của bộ máy
hành chính nhà nước, vì đó là những sản phẩm cụ thể của nhà nước đối với tổ chức và
công dân.
Hơn nữa, những hoạt động liên quan đến văn hóa thường diễn ra liên tục và có tính
nhay cảm lớn. Vì vậy việc cải cách cung ứng dịch vụ công về văn hóa là một nội dung cơ
bản để phục vụ tốt hơn các nhu cầu văn hóa của người dân. Trong đó giải pháp tiến hành
xã hội hóa vẫn được coi là một hướng đi có tính thực tiễn và phù hợp, tuy nhiên trong thòi
gian tới cung cần nghiên cứu những hình thức cung ứng mới như thành lập các cơ quan
dịch vụ hành chính tự quản theo mô hình ở các nước phát triển (Anh, Mỹ, Canada ).
Trang 23
Tài liệu tham khảo
- Tập bài giảng Dịch vụ công- Học viện hành chính.
- Nghị định 103/2009/NĐ- CP của Chính phủ ban hành ngày 06- 11- 2009 ban
hành quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng.
- Thông tư số 18/2010/NĐ-BVHTTDL của Bộ văn hóa thể thao và du lịch ban