B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC LUẬT THNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ - LUẬT
&
TỐ TỤNG HÌNH SỰ
THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC HỘI
THẨM VÀ THẨM PHÁN ĐỘC LẬP XÉT XỬ VÀ
CHỈ TUẦN THEO PHÁP LUẬT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2012
LỜI TỰA
Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với sự
phân công, phân nhiệm rành mạch và có sự phối hợp giữa ba quyền đó. Và về
tính độc lập của hệ thống tư pháp, Hiến pháp nước ta không quy định quyền lực
nhà nước theo thuyết tam quyền phân lập như Hiếp pháp ở một số nước tư sản,
không thừa nhận việc tổ chức song song và sự tồn tại độc lập, kiềm chế lẫn nhau
giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng thực tế cho thấy chế
định tư pháp nước còn nhiều bất cập khi nói về nguyên tắc “xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật”, vì lí do trên, nhóm tác giả xin được trình bày ý kiến về
thực tiễn xét xử ở nước ta về vấn đề thực hiện nguyên tắc “Hội Thẩm và Thẩm
phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và phân tích khách quan nhưng chắc hẳn bài làm
của nhóm vẫn còn những thiếu sót nhất định. Mong được sự góp ý và đánh giá
của Cô để nhóm có thể hiểu một cách sâu sắc hơn về vấn đề này. Nhóm em xin
chân thành cảm ơn Cô!!!
MC LC
1. KHÁI QUÁT CHUNG …………………………………………………………………… 1
1.1 Khái niệm ……………………………………………………………………………….1
1.2 Cơ sở nguyên tắc ……………………………………………………………………….1
1.2.1 Cơ sở lí luận ………………………………………………………………….1
1.2.2 Cơ sở thực tiễn ……………………………………………………………….2.
của công dân. Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cột mốc để đánh giá hiệu quả của
công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng người đúng tội, đúng pháp
luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội, muốn vậy, khi xét xử, Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Có thể nói: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của các hình thức tố tụng, nó cũng là
một trong những điều kiện bảo đảm công tác xét xử đạt hiệu quả. Tuy nhiên, trong
hoạt động xét xử của các cấp Toà án ở nước ta trong thời gian qua đã tồn tại không ít
các yếu tố gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện nguyên tắc nêu trên. Và không
phải khi nào nguyên tắc này cũng được hiểu đúng, đầy đủ và thực hiện triệt để. Dưới
đây là những nội dung cơ bản, thực tiễn xét xử và định hướng trong việc “Khi xét xử,
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.
NI DUNG
THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC: “HI THẨM V THẨM PHN XÉT XỬ
ĐC LẬP V CHỈ TUÂN THEO PHP LUẬT” TRONG TỐ TNG HÌNH SỰ.
1. KHÁI QUÁT CHUNG:
1.1 Khái niệ m và c ơ s ở c ủ a nguyên t ắ c :
“Khi xét xử Thẩm Phán và Hội Thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là
một trong những nguyên tắc của luật TTHS, được hiểu là trong quá trình xét xử, Thẩm
phán và Hội thẩm nhân dân không bị ràng buộc bởi bất cứ yếu tố nào khác ngoài pháp
luật, loại trừ mọi sự can thiệp từ bên ngoài vào hoạt động xét xử của Tòa án.
1.2 Cơ sở nguyên tắc:
1.2.1 Cơ sở lí luận:
Việc quy định nguyên tắc này gắn liền với việc tổ chức bộ máy Nhà nước theo cơ chế
phân công và kiểm sát quyền lực. Tính độc lập của Thẩm phán, Hội thẩm là một trong
những biểu hiện rõ nét của cơ chế phân chia quyền lực ở Việt Nam. Sự vi phạm
nguyên tắc này sẽ dẫn đến sự lạm dụng của quyền lực và xã hội.
Nguyên tắc: “Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đã được đề cập trong Bộ
luật Hồng Đức. Điều 672 Bộ luật này quy định: “Các quan phải xét xử cho công bằng
và đúng pháp luật”. Điều 720 cũng qui định: “Không ai được cố chấp ý riêng mình,
Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên cũng quy định: “Trong khi thi hành chức
quyền của mình, các Thẩm phán đều độc lập và chỉ phục tùng pháp luật”. Điều 127
Hiến pháp nước Cộng hòa dân chủ Đức cũ (năm 1949) quy định: “Thẩm phán độc lập
khi xét xử, chỉ tuân theo Hiến pháp và pháp luật”. Khoản 1 điều 97 Hiến pháp nước
Cộng hòa liên bang Đức năm 1959 quy định: “Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật”… tuy những quy định trên khác nhau về hình thức nhưng nội dung cơ
bản giống nhau, đều đặc biệt nhấn mạnh tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân trong xét xử.
Nguyên tắc Thẩm phán độc lập khi xét xử không chỉ được thực hiện trong việc đánh
giá chứng cứ mà cả trong thẩm vấn, tranh luận trước phiên tòa và việc ra bản án, quyết
định. Hiện tại, còn rất nhiều hạn chế, bất cập trong việc đảm bảo tính độc lập của
Thẩm phán. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động xét xử của các
Thẩm phán thiếu khách quan. Những hạn chế, bất cập này tồn tại trong cả nhận thức
lẫn trong thực tiễn tổ chức thực hiện hoạt động xét xử. Có khá nhiều sự lẫn lộn giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng làm ảnh hưởng đến tính độc lập của Thẩm phán. Điều
này liên quan trước hết đến chức năng điều tra, truy tố và xét xử. Một số các nhà
nghiên cứu có quan điểm rằng: Hiện nay, ở Việt Nam mặc dù nguyên tắc độc lập
trong hoạt động xét xử của Thẩm phán được đề cao nhưng địa vị pháp lý của các chủ
thể tham gia hoạt động tố tụng nhìn chung chưa được xác định một cách thoả đáng.
Trong tố tụng, nhất là tố tụng Hình sự có sự tham gia của hai chủ thể gần như đối lập
nhau là bên bị buộc tội và bên buộc tội. Trong quan hệ tố tụng, Thẩm phán như một
người đứng giữa để phân xử đúng sai nhân danh Nhà nước. Địa vị của Thẩm phán
phải khác với bên buộc tội hay bên gỡ tội. Cách tiếp cận phổ biến của các cơ quan tiến
hành tố tụng hiện nay là bên bị buộc tội bị coi như là bên đã có tội rồi. Như vậy, sự
độc lập của Thẩm phán trong hoạt động xét xử đòi hỏi Thẩm phán phải có trách nhiệm
xét xử đúng pháp luật, phải ngăn chặn được sự lạm dụng địa vị pháp lý trong quan hệ
tố tụng. Trong quan hệ tố tụng có nhiều chủ thể tham gia với ba xu hướng rất rõ ràng:
Buộc tội, gỡ tội và xét xử. Mỗi xu hướng thường được hiện thực hóa với nhưng qui
trình, thủ tục và yêu cầu đặc trưng. Ba xu hướng này phải được tôn trọng và được đảm
bảo độc lập thực sự. Xét ở khía cạnh này, một số qui định của pháp luật hiện hành
Khi xét xử, Hội đồng xét xử được độc lập đưa ra các quyết định theo nhìn nhận và
đánh giá vụ án của mình mà không bị sự chỉ đạo của lãnh đạo của Tòa án hay Tòa án
cấp trên.
Hội đồng xét xử có thể thỉnh thị án tức là xin ý kiến của Tòa án cấp trên trong những
vụ án phức tạp hay những vụ án có tình huống hoặc lĩnh vực chưa có điều luật điều
chỉnh hay văn bản hướng dẫn về cách giải quyết. Các ý kiến do lãnh đạo Tòa án hoặc
Tòa án cấp trên đưa ra mang tính tham khảo nên trong trường hợp này Hội đồng xét
xử vẫn không bị mất đi tính độc lập của mình mà càng tăng thêm tính có căn cứ, hợp
pháp của các quyết định và các bản án.
Thật vậy, Tòa án cấp trên không quyết định trước là Tòa án cấp dưới phải xét xử một
vụ án cụ thể như thế nào. Theo các quy định của Hiến pháp năm 1992 thì hệ thống cơ
quan xét xử của Nhà nước ta được tổ chức theo một hệ thống dọc từ Trung ương đến
địa phương (điều 127 Hiến pháp, Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân). Trong hệ
thống đó Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất. Tuy nhiên “cao nhất” ở
đây không có nghĩa với sự chỉ huy tuyệt đối. Có thể nói Thẩm phán và Hội thẩm là
người chịu sự quản lí của chánh án và Tòa án cấp trên. Thông qua các công tác tổ
chức xét xử như họp bàn trước khi xét xử, phân công Thẩm phán, Hội thẩm xét xử vụ
án, chánh án có tác động đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm. Ngoài ra,
việc có quy định “Tòa án cáp trên” có thể hủy án “Tòa án cấp dưới” cũng ảnh hưởng
đến tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm. Chính vì vậy, Thẩm phán và Hội thẩm
phải có chính kiến, quan điểm của mình trong việc đánh giá chứng cứ, xác định tội
danh, mức hình phạt và giải quyết các vấn đề khác dựa trên quy định cùa pháp luật,
đảm bảo xét xử công bằng khách quan. Mặt khác, khi Tòa án cấp trên xét xử theo thủ
tục phúc thẩm hay giám đốc thẩm hủy bản án của cấp dưới để xem xét lại thì Thẩm
phán của Tòa án cấp dưới phải xem xét lại vụ án đó, nhưng khi xem xét lại họ vẫn có
quyền độc lập (chẳng hạn, khi hủy án sơ thẩm để xem xét lại, Tòa án cấp phúc thẩm
không quyết định trước những chứng cứ mà Tòa án cấp sơ thẩm phải chấp nhận hoặc
cần phải bác bỏ, cũng như không quyết định trước về điều khoản BLHS và hình phạt
mà Tòa án cấp sơ thẩm sẽ phải áp dụng).
2.1.2 Sự độc lập với Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát:
Hội đồng xét xử để ép họ phải xét xử vụ án theo ý chủ quan của mình. Mọi hành động
can thiệp dưới bất kì hình thức nào đều làm ảnh hưởng tới khách quan của vụ án và
đều bị coi là bất hợp pháp. Tuy nhiên, trong hoạt động xét xử, Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, của bất kì ai và
phải nắm bắt dư luận xã hội, nhưng khi quyết định, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
phải thể hiện bản lĩnh nghề nghiệp của mình, xem xét mọi vấn đề một cách độc lập,
không được để cho ý kiến bên ngoài làm ảnh hưởng đến tích khách quan của vụ án.
Ngoài ra, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn đặt đưới sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản. Nhà nước công khai nguyên tắc Đảng lãnh đạo tại điều 4 Hiến
pháp 1992 và được quy định cụ thể trong các Nghị quyết như: NQ 08/NQ - TW,…
giữa tổ chức Đảng và Thẩm phán còn có mối quan hệ khác ngoài mối quan hệ giữa
Đảng viên và tổ chức Đảng qua thủ tục Thẩm phán. Theo quy định hiện hành thì cùng
với việc lấy phiếu tín nhiệm của cán bộ công chức trong cơ quan người được đề nghị
còn phải lấy ý kiến của cấp ủy Đảng. Chính vì những lí do này mà yêu cầu được đặt ra
là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nhận thức đúng đắn sự lãnh đạo cùa Đảng
đối với hoạt động tư pháp để đảm bảo sự độc lập trong xét xử.
Đối với yêu cầu của người tham gia tố tụng, với dư luận và cơ quan báo chí: việc phán
quyết của Tòa án bao giờ cũng làm xuất hiện mâu thuẫn về lợi ích, đó là mâu thuẫn
giữa bị cáo và người bị hại, giữa nguyên đơn và bị đơn, giữa Nhà nước và người phạm
tội. Ai cũng có nhu cầu kết quả xét xử đưa lại lợi ích tốt nhất cho họ. Sau phán quyết
của Tòa án sẽ có rất nhiều bình luận từ quần chúng nhân dân, dư luận và báo chí, đặc
biệt là những vụ án bị cấp trên xử hủy, những vụ án lớn được xã hội quan tâm. Những
vấn đề đó đều tác động mạng mẽ đến tâm lí của Thẩm phán và Hội thẩm khi thực hiện
nhiệm vụ xét xử. Vì vậy, phải đặt ra yêu cầu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
với yêu cầu của người tham gia tố tụng, báo chí và dư luận nghĩa là việc xét xử chỉ
dựa trên những chứng cứ, những quy định của pháp luật, không phụ thuộc vào yêu
cầu khách quan của những cá thể này.
2.1.4 Sự độc lập giữa các thành viên của Hội đồng xét xử:
Sự độc lập giữa các thành viên trong Hội đồng xét xử là một điều kiện quan trọng để
Thẩm phán và Hội thẩm đánh giá vụ án một cách khách quan toàn diện và đầy đủ. Sự
giao chủ tọa phiên tòa nghiên cứu kỹ hồ sơ trước và phải chuẩn bị ý kiến sẽ thẩm vấn
như thế nào và sẽ có hướng giải quyết vụ án như thế nào, sau đó báo cáo trước một tập
thể rộng, hẹp khác nhau nhưng bao giờ cũng có cán bộ lãnh đạo của Tòa án. Người
lãnh đạo của Tòa án này sẽ có ý kiến tổng hợp và hướng dẫn cách xử xự cụ thể đến
mức độ nào tùy theo từng người và cũng tùy từng trường hợp. Việc báo cáo án là để
tranh thủ ý kiến tập thể làm sáng tỏ tình tiết vụ án giúp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa
có thêm cơ sở vững chắc, một niềm tin nội tâm vững vàng khi mà vụ án được quyết
định đưa ra xét xử. Các ý kiến không làm ảnh hưởng đến tính độc lập xét xử của
Thẩm phán và Hội thẩm tại phiên tòa. Mối quan hệ giữa Hội thẩm và Thẩm phán
mang tính pháp lí và chuyên môn, hướng dẫn và hỗ trợ. Thật vậy, mặc dù Hội thẩm
nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi xét xử, song Thẩm phán là người xét xử
chuyên nghiệp được đào tạo ở trường lớp, có trình độ pháp lí vững vàng, dày dạn kinh
nghiệm thực tiễn xét xử dễ dẫn đến tình trạng xét xử chỉ dựa vào chuyên môn thuần
túy do những hạn chế kinh nghiệm sống trong cộng đồng dân cư, ít có điều kiện gần
gũi với nhân dân. Bù vào đó Hội thẩm nhân dân là người xét xử không chuyên, có hạn
chế về trình độ pháp lí, nhưng có kiến thức xã hội uyên thâm, có điều kiện gần gũi với
nhân dân lao động, thấu hiểu được nguyện vọng của quần chúng nhân dân, nắm bắt
được tình hình địa phương. Cả hai chủ thể này bổ sung cho nhau và cùng hướng tới
mục đích chung là chất lượng xét xử, Thẩm phán là người có nhiệm vụ hướng dẫn và
bồi dưỡng thực tế về nghiệp vụ pháp lí cho Hội thẩm nhân dân, còn Hội thẩm nhân
dân là người cộng sự, hỗ trợ cho Thẩm phán, bổ sung những thiếu hụt về chuyên môn
mà Thẩm phán không thể có hoặc không chuyên sâu, để cho phiên tòa xét xử được
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, được mọi người đồng tình ủng hộ.
Khi nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán cung cấp cho nhân dân cách nghiên cứu hồ sơ như
thế nào thì đem lại kết quả chính xác, nhanh chóng, hướng dẫn cho Hội thẩm nhân
dân cách ghi chép, tổng hợp nội dung vụ án như thế ấy để được ngắn gọn và đầy đủ để
phục vụ tốt nhất cho việc thẩm vấn tại tòa. Đồng thời Thẩm phán có thể khai thác vốn
chuyên môn của Hội thẩm nhân dân trong lĩnh vực đời sống xã hội, đề nghị Hội thẩm
nhân dân giảng giải về kiến thức cơ bản địa phương, tập quán địa phương…mà bản
thân Thẩm phán chưa rõ nhằm phục vụ cho việc thẩm vấn xét xử được thuận lợi (tất
định hình phạt trên cơ sở quy định của pháp luật, các vấn đề của vụ án được đưa ra
giải quyết thảo luận dân chủ, biểu quyết theo đa số, ý kiến của Hội thẩm được Thẩm
phán tôn trọng. Nếu ý kiến của Hội thẩm là thiểu số thì được quyền trình bày bằng văn
bản và để vào hồ sơ vụ án.
Và trong giai đoạn này, mối quan hệ ngang bằng của Hội thẩm và Thẩm phán cũng
thể hiện tính tập trung và dân chủ rất cao. Xét trong mối quan hệ độc lập, đây là mối
quan hệ quan trọng có ý nghĩa đảm bảo tính khách quan trong hoạt động xét xử của
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Điều 17 BLTTHS quy định: “Khi xét xử, Thẩm
phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ
Thẩm phán và Hội thẩm trong quá trình xét xử sẽ quyết định các vấn đề, kể cả bản án
một cách độc lập căn cứ vào những chứng cứ khách quan, ý thức pháp luật (nghĩa là
những hiểu biết về pháp luật và thái độ đối với pháp luật) và niềm tin nội tâm của
mình (sự tin tưởng một cách chắc chắn vào sự đúng đắn của kết luận mình đưa ra) mà
không phụ thuộc bất cứ sự chỉ dẫn, tác động, sức ép của cơ quan, cá nhân nào.
2.2 Tính tuân theo pháp luật của Hội thẩm và Thẩm phán khi xét xử:
Thẩm phán và Hội thẩm độc lập xét xử nhưng không có nghĩa là tùy tiện trong xét xử
mà phải tuân theo pháp luật. Trong quá trình xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm phải
tuân theo các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án và điều này được thể hiện ở
những khía cạnh sau:
2.2.1 Phải tuân theo các quy định của Bộ luật hình sự trong việc định tội và
lượng hình (bao gồm cả luật thực định và khoa học về luật hình sự). Pháp luật hình sự
là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự
quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và
sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, pháp luật hình sự
góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh. Chính vì thế, thi hành nghiêm chỉnh Bộ luật hình sự là nhiệm vụ
của Thẩm phán và Hội Thẩm:
Tính độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau. Độc lập là biểu hiện của tuân theo pháp luật, Thẩm phán và Hội
thẩm xét xử độc lập là một phần nội dung của nguyên tắc. Thẩm phán và Hội thẩm
độc lập với nhau và độc lập với các yếu tố khác. Nếu Thẩm phán và Hội thẩm xét xử
độc lập, không chịu bất kì sự tác động nào thì phán quyết của Hội đồng xét xử mới có
tính khách quan, quyết định của Hội đồng xét xử mới đảm bảo đúng pháp luật, vì vậy,
độc lập là điều kiện cần thiết để Thẩm phán và Hội thẩm tuân theo pháp luật.
2.3.1 Tuân theo pháp luật là cơ sở để thể hiện tính độc lập trong xét xử:
Xét ở khía cạnh thuần túy của tính độc lập, để có thể tự mình đưa ra phán quyết, Thẩm
phán và Hội thẩm phải có kiến thức pháp luật và phải chấp hành quy định của pháp
luật.Khi nắm chắc kiến thức pháp luật, Thẩm phán và Hội thẩm có điều kiện để thể
hiện sự độc lập trong phán quyết của mình. Xét ở khía cạnh khác thì tuân theo pháp
luật là đã loại trừ các tác động khác đến hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội
Thẩm, bởi vậy họ mới có sự độc lập.
2.3.2 Độc lập trong việc thống nhất với chỉ tuân theo pháp luật:
Độc lập nhưng phải dựa trên những quy định của pháp luật. Mọi kết luận của bản án,
quyết định của Hội đồng xét xử phải phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
Bản án phải xác định đúng người đúng tội và đúng với các thiệt hại do hành vi tội
phạm gây ra. Mỗi nhận định của bản án đều phải dựa trên những chứng cứ và tình tiết
xác thực được thẩm tra tại phiên tòa có lập luận chặt chẽ, không kết luận dựa trên ý
nghĩ chủ quan, cảm tính cá nhân của mỗi thành viên Hội đồng xét xử. Yếu tố độc lập
và chỉ tuần theo pháp luật không thể tách rời nhau.
Những phân tích trên có thể thấy rằng yếu tố độc lập và chỉ tuân theo pháp luật có mối
quan hệ biện chứng với nhau, độc lập trong sự thống nhất với việc tuân theo pháp luật.
3. THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA THẨM PHÁN VÀ HỒI THẨM:
3.1 Mối quan hệ giữa Hội thẩm và Thẩm phán, và những mối quan hệ khác
Hiện nay, theo các quy định của Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Thẩm phán và Hội
thẩm thực hiện nhiệm vụ tố tụng theo sự phân công của Chánh án hoặc Phó Chánh án.
Như vậy, Thẩm phán và Hội thẩm trở thành người tiến hành tố tụng và làm nhiệm vụ
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, tại hội nghị tổng kết công tác ngành năm
1991, chánh án TAND Tối cao kết luận:“Từ nay các đồng chí không sử dụng từ
“thỉnh thị án” mà coi đây chỉ là việc hỏi ý kiến Tòa án cấp trên một số vướng mắc cụ
thể. Tòa án nhân dân tối cao cũng không cho ý kiến hướng dẫn mức án cụ thể mà việc
xem xét và quyết định mức án đối với từng vụ án cụ thể hoàn toàn thuộc thẩm quyền
của Hội đồng xét xử. Cũng từ nay, các tòa chấm dứt ngay tình trạng tại phiên tòa
HĐXX tuyên bố “hoãn phiên tòa để xin ý kiến cấp trên”. Do đó khi chuẩn bị xét xử,
các Thẩm phán phải nêu cao ý thức trách nhiệm, làm tròn trách nhiệm Nhà nước và
luật pháp giao phó,mọi phiên tòa phải được tiến hành theo đúng thủ tục tố tụng đã
quy định và Hội đồng xét xử phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về
những quyết định của mình”.
Kết luận của chánh án TAND Tối cao từ ngày ấy cho đến hôm nay vẫn còn nguyên
giá trị. Sáu năm trước, Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020 cũng tiếp tục chỉ rõ:“Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với
trách nhiệm quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng
thẩm quyền và trách nhiệm cho điều tra viên,kiểm sát viên và thẩm phán để họ chủ
động trong thực thi nhiệm vụ,nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về các hành vi tố tụng của mình.” Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của cải cách tư pháp.
Năm 2007, chánh án TAND tối cao ban hành chỉ thị có nội dung cấm lãnh đạo Tòa án
địa phương duyệt án: “Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm chính
về quản lí đối với các mặt công tác, đặc biệt là chất lượng xét xử, không được lạm
dụng việc tổ chức công tác xét xử, trao đổi ý kiến về chuyên môn nghiệp vụ để hình
thành chế độ duyệt án, áp đặt quan điểm cá nhân trái với nguyên tắc độc lập xét xử và
chỉ tuân theo pháp luật trong việc giải quyết các vụ án…”
Nghị quyết 49/NQ-TW đã đi vào cuộc sống 6 năm, nhưng thực tiễn thi hành còn
nhiều bất cập. Còn một số phiên tòa, tuy không phổ biến nhưng vẫn còn có những
phán quyết không thể hiện kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa. Báo chí cũng đã
từng phản ánh việc chánh án tòa địa phương nọ đã chỉ đạo các thẩm phán phải tuân
thủ việc báo án, cụ thể: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử (tất cả các loại án), Thẩm phán
được mối quan hệ hành chính giữa cấp trên và cấp dưới. Không có quy định nào của
pháp luật cho phép họp báo án xin đường lối lại thống nhất kết quả xét xử về tội danh
và hình phạt của bị cáo trước khi xét xử (bị cáo phạm tội gì và xử phạt cụ thể mức án
bao nhiều năm tù, cho hưởng án treo hay không ).
Việc họp án và thống nhất nội dung kết quả xét xử như vậy không thể gọi là “xin
đường lối chung” mà chuyển thành việc “duyệt án”. Việc yêu cầu thẩm phán chủ tọa
phiên tòa phải dừng tuyên án là vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử của thẩm phán là
vi phạm Chỉ thị số 01/2007 của chánh án TAND tối cao. Ở đây cần phân biệt rõ giữa
quan hệ quản lý hành chính và quan hệ tố tụng làm sao để nguyên tắc khi xét xử thẩm
phán và Hội thẩm độc lập chỉ tuân theo pháp luật được đảm bảo thực hiện đúng với
bản chất của nó.”
3.3 Năng lực của Thẩm phán hiện nay:
Hiện nay, bên cạnh những Thẩm phán được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn
nghiệp vụ, bề dày kinh nghiệm xét xử thì vẫn còn không ít Thẩm phán, nhất là một số
Thẩm phán sơ cấp còn hạn chế về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cũng như
thiếu tự tin, ỷ lại hoặc sợ trách nhiệm, không tự quyết định được những vấn đặt ra khi
xét xử, nên đã chủ động xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên, và điều này cũng ảnh hưởng
không nhỏ đến tính độc lập xét xử. Đánh giá về hạn chế, thiếu sót của đội ngũ Thẩm
phán tại kết luận Hội nghị tổng kết công tác năm 2005 và triển khai công tác năm
2006, Chánh án Toà án nhân dân tối cao đã nêu: “Trong một số trường hợp tinh thần
kiên quyết bảo vệ pháp luật của Thẩm phán còn yếu, không giữ vững nguyên tắc độc
lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật để việc tác động trái pháp luật từ bên ngoài ảnh
hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án, cá biệt vẫn còn trường hợp cán bộ, Thẩm
phán vi phạm phẩm chất đạo đức, vi phạm pháp luật phải xem xét, xử lý kỷ luật hoặc
thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự, có đơn vị xảy ra mất đoàn kết nội bộ, làm ảnh
hưởng đến công tác của đơn vị”.
3.4 Bị ảnh hưởng bởi những nhận định chủ quan của các cơ quan ngôn luận
Trong thời đại công nghệ, truyền thông đang phát triển mạnh như hiện nay, với xu thế
dân chủ hoá mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có hoạt động tố tụng, vai
trò của các cơ quan ngôn luận ngày càng được nâng cao. Nhiều vụ án được thông tin
đó là tốt, nhưng nếu việc xét xử ấy không phù hợp với chủ trương, ý chí của cấp uỷ,
chính quyền địa phương thì có thể bị địa phương đánh giá ngược lại. Là người chịu sự
quản lý về nghiệp vụ của Toà án cấp trên, nhưng Chánh án, Thẩm phán Toà án địa
phương lại đồng thời chịu sức ép từ chính quyền địa phương, nên trong công tác xét
xử, những người này cũng không thể độc lập.
3.6 Quy định của pháp luật còn hạn chế và dẫn đến những bất cập
Hiện nay, do một số quy định của pháp luật vẫn còn bất cập, chồng chéo, các chuẩn
mực để đánh giá phán quyết của Toà án, nhất là phán quyết trong các vụ việc dân sự,
kinh doanh thương mại, hành chính…chưa thống nhất, rõ ràng, nên trong thực tiễn có
không ít trường hợp, các bản án, quyết định của Toà án cấp dưới đúng pháp luật,
nhưng vẫn bị kháng cáo, kháng nghị lên Toà án cấp trên và các bản án, quyết định này
đã bị sửa, huỷ theo ý chí hay sự đánh giá chủ quan. Trong những trường hợp này,
người đã có có quyết định hoặc bản án bị cải sửa, huỷ (vượt quá tỷ lệ cho phép) sẽ bị
khiển trách, kiểm điểm một cách vô lý. Điều này đã tác động đến tâm lý của Thẩm
phán, Hội thẩm khi xét xử và tới lượt mình, Thẩm phán, Hội thẩm không được độc lập
giải quyết vụ án theo suy nghĩ của mình mà phải “uốn” theo ý kiến của những người
tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác.
4. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN:
Tòa án được xác định là cơ quan duy nhất có chức năng xét xử nhân danh nhà nước và
pháp luật, là nơi thể hiện tập trung nhất của nền công lý cho nên việc cải cách hoạt
động tư pháp của tòa án được xem là một khâu then chốt. Tòa án chỉ có thể thực hiện
tốt chức năng của mình khi Tòa án thực sự không chịu ảnh hưởng của bất kỳ yếu tố
nào và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử.
Tuy nhiên trong thực tiễn, Tòa án vẫn chưa có một vị thế độc lập mà còn bị tác động
bởi yếu tố bên trong cũng như yếu tố bên ngoài bởi các yếu tố khách quan cũng như
chủ quan. Tòa án là nơi nhân danh công lý mang lại công bằng cho xã hội thì vấn đề
“độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” trong hoạt động xét xử càng trở nên có ý nghĩa.
“Độc lập” được quy định trong nguyên tắc là độc lập giữa các thành viên của HĐXX,
giữa HĐXX với cá nhân, tổ chức, các cơ quan nhà nước, giữa Tòa án cấp dưới và Tòa
án cấp trên. Độc lập nhưng phải tuân theo pháp luật và pháp luật là cấp trên duy nhất
“hình thức” nên được nhìn nhận lại từ khía cạnh bảo đảm độc lập của cá nhân người
thẩm phán, đó là chưa nói đến việc người thẩm phán nhân danh đất nước khi ra phán
quyết. Để có được những Thẩm phán thật sự có năng lực, cần tuyển chọn Thẩm phán
không chỉ từ đội ngũ cán bộ toà án mà còn từ đội ngũ các chức danh tư pháp khác như
điều tra viên, công tố viên, luật sư, kể cả những luật gia đã qua đào tạo nghề Thẩm
phán nhưng chưa làm Thẩm phán. Để được làm Thẩm phán, các ứng viên cần trải qua
một kỳ thi quốc gia nhằm tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa họ cho chức
danh này. Vì vậy, cần nghiên cứu từng bước chuyển từ chế độ xét tuyển Thẩm phán ở
từng cấp toà án hiện hành sang chế độ thi tuyển cấp quốc gia. Những người trúng
tuyển kỳ thi quốc gia nếu có đủ các tiêu chuẩn khác mà pháp luật quy định sẽ được
Chủ tịch nước xem xét và ra quyết định bổ nhiệm làm Thẩm phán.Thẩm phán sẽ là
Thẩm phán của quốc gia, nên có thể điều động họ dễ dàng khi thấy cần thiết. Việc bổ
nhiệm Thẩm phán cần tiến hành theo ngạch, bậc và theo nguyên tắc Thẩm phán không