Sáng kiến kinh nghiệm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 18 - 24 tháng tuổi - Pdf 22

Phần i
Lời mở đầu
giáo dục mầm non là ngành học mở đầu trong hệ thống giáo dục quốc
dân, là giai đoạn đầu trong hệ thống của sự phát triển nhân cách, có vị trí quan
trọng trong sự nghiệp giáo dục con ngời .
Nh chúng ta đã biết, trẻ em không chỉ là niềm hạnh phúc của mỗi gia
đình. Mà còn là tơng lai của nhân loại. chính vì vậy mà mục tiêu chung của
ngành học mầm non là tiến hành giáo dục trẻ theo nhiều nội dung nhằm giúp
trẻ phát triển toàn diện .một trong những nội dung hết sức cần thiết và quan
trọng đó là ;phát triển ngôn ngữ cho trẻ .Ngôn ngữ giữ vai trò hết sức quan
trọng vì ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, giáo dục nhận thức cho trẻ là vũ khí
chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của dân tộc và của nhân loại. Nhận thức đợc vai
trò và tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ
Cho trẻ đợc sự chỉ đạo của sở giáo dục & đào tạo hà giang ;phòng giáo
dục yên minh ;ban giám hiệu trờng mầm non hoa hồng. Tôi đã mạnh dạn
nghiên cứu đề tài ;một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi từ 18
-> 24 tháng tuổi. Đề tài nghiên cứu đợc hoàn thành tôi xin chân thành cảm ơn
ban giám hiệu phòng giáo dục yên minh, đặc biệt là ban giám hiệu Trờng
mầm non hoa hồng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài này.
1
Phần ii
Nội dung
1. t ên đề tài :
Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ lứa tuổi từ 18-24 tháng tuổi.
2. Lý do chọn đề tài:
Ngôn ngữ là một hiện tợng xã hội đặc biệt vì nó ra đời và tồn tại cùng với sự
hình thành và phát triển của xã hội loài ngời. ngôn ngữ dùng để phục vụ mọi thành
viên trong xã hội từ việc học tập, lao động đến việc vui chơi giải trí. Có thể nói rằng
trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào con ngời cũng cần đến ngôn ngữ.
Ngôn ngữ giúp con ngời trao đổi t tởng tình cảm, bộc lộ những cảm xúc và

nhiều từ, hiểu đợc ý nghĩa của từ, biết sử dụng từ trong giao tiếp. Phát triển từ cho
2
trẻ là quá trình hình thành giúp trẻ làm quen với các từ mới, củng cố vốn từ làm cho
vốn từ phong phú tích cực hoá ngôn ngữ cho trẻ.Quá trình lày liên quan chặt chẽ với
giai đoạn nhận thức tiếp theo của trẻ để hình thành các biểu tợng về thế giới xung
quanh.
Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi từ 18 -> 24 tháng tuổi, giai đoạn này ngời ta gọi là giai
đoạn tiền ngôn ngữ vì đặc điểm sinh lý ở lứa tuổi này có vùng ngôn ngữ bắt đầu
hình thành và phát triển mạnh, do đó mà trẻ đợc tác động mạnh mẽ về ngôn ngữ từ
phía môi trờng xung quanh trẻ, thì vùng ngôn ngữ của trẻ có điều kiện phát triển
nhanh. Nhng trong thực tế môi trờng gia đình: ông, bà, bố, mẹ hay môi trờng xã
hội: cô giáo còn ít quan tâm đến việc phát triển vốn từ cho trẻ nên nhìn chung vốn
từ của trẻ còn nhiều hạn chế.
Là giáo viên Mầm Non đã trải qua quá trình giảng dạy nhiều năm trong
ngành, Tôi hiểu đợc việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng quan trọng. Nhng
thực tế ở địa phơng nơi Tôi công tác do địa bàn rộng, thôn bản rải rác nên trẻ còn
gặp nhiều thiệt thòi của môi trờng sống. Bên cạnh đó điều kiện cơ sở vật chất, trang
thiết bị đồ dùng dạy và học còn thiếu thốn, việc dạy trẻ theo các nội dung chơng
trình còn đơn điệu do đó việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn những hạn chế nhất
định. Từ đó với tâm huyết yêu nghề mến trẻ, với sự ham muốn khám phá những
điểm mạnh, điểm yếu về ngôn ngữ của trẻ, Tôi đã nghiên cứu kỹ phơng pháp dạy
trẻ phát triển ngôn ngữ theo chơng trình của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo ban hành .
Ngoài ra Tôi tự tìm tòi biện pháp đúc rút kinh nghiệm từ thực tế dạy trẻ ở các nội
dung và chọn đề tài: Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi từ
18 -> 24 tháng tuổi làm đề tài nghiên cứu, nhằm nâng cao hiệu quả phát triển
ngôn ngữ cho trẻ tại trờng Mầm Non Hoa Hồng huyện Yên Minh tỉnh Hà Giang.
3.Mục đích yêu cầu:
Bớc đầu nghiên cứu thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ ở lứa tuổi từ 18 ->
24 tháng tuổi tại trờng Mầm Non Hoa Hồng. Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến
nghị góp phần nâng cao chất lợng ngôn ngữ cho trẻ.

hạn những lời nói trong xã hội. Ngoài ra chúng ta có thể nói thêm rằng ngôn ngữ
phát triển sẽ cho thấy sự biểu hiện những thái độ, những sắc thái tình cảm khác
nhau một cách tinh tế. chỉ khi hệ thống tín hiệu ngôn ngữ phát triển mới có khả
năng bộc lộ tình cảm thể hiện tính đa nghĩa.
Tất cả những đặc điểm vừa nói trên cho ta thấy đợc ngôn ngữ phát triển tới
đỉnh cao tột bậc có thể gọi là một hệ thống tín hiệu đặc biệt của con ngời.
b.Cơ sở tâm lý:
Dới ảnh hởng hoạt động với đồ vật ngôn ngữ của tuổi ấu nhi phát triển mạnh,
các biểu tợng thông qua hoạt động đó tạo ra cơ sở lĩnh hội nghĩa của các từ và có
thể liên kết chúng với hình ảnh của các sự vật, hiện tợng trong thế giới xung quanh.
Tuy vậy việc phát triển ngôn ngữ của trẻ ở độ tuổi này phần lớn là tuỳ thuộc
vào sự dạy bảo của ngời lớn. Những trẻ mà ngời lớn ít giao tiếp thì thờng nói rất
chậm. Để kích thích trẻ nói, ngời lớn cần dạy trẻ bày tỏ nguyện vọng của mình
bằng lời nói mới đáp ứng nguyện vọng của nó.
Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ theo hai hớng chính đó là:
+ Hoàn thiện sự thông hiểu của ngời lớn.
+ Hình thành và phát triển ngôn ngữ tích cực riêng của trẻ.
Đối với trẻ năm đầu, năm thứ hai, sự thông hiểu ngôn ngữ của trẻ mang tính
chất tình huống của trẻ.
Ví dụ: Khi bảo trẻ thổi kèn thì chúng ta phải mang kèn ra thổi thử sau đó đứa
trẻ mới cầm kèn để thổi.
Do sự kết hợp giữa lời nói với tình huống cụ thể đợc lặp đi lặp lại nhiều lần
mà dần dần đứa trẻ hiểu đợc lời nói mà không cần phụ thuộc vào tình huống cụ thể
nữa.
Sau 18 tháng việc hiểu lời nói tách khỏi tình huống cụ thể đợc tiến bộ rõ rệt,
nhờ đó ngời lớn có thể dùng lời nói để chỉ dẫn hành động của trẻ hoặc yêu cầu trẻ
thực hiện một hành động bằng lời mà mình không cần thực hiện trớc.
Ví dụ: Ngời lớn có thể yêu cầu trẻ cất đồ chơi vào nơi quy định mà không cần
đi cất cho trẻ xem.
4

giờ học, trò chuyện, vui chơiTrẻ lĩnh hội các tri thức một cách thoải mái , nhẹ
nhàng, hứng thú chứ không bị gò bó, ép buộc. Trong cuộc sống hàng ngày , khi
giao tiếp với ngời lớn, với bạn bè trẻ sẽ có cơ hội để nhận thức những biểu tợng về
thế giới xung quanh, từ đó giúp trẻ hiểu đợc ý nghĩa của một số loại từ, phát triển
năng lực ngôn ngữ trong tự nhiên.
Tóm lại: Giáo dục học có thể nói là cơ sở để xác định nội dung tốt nhất trong
việc dạy nói cho trẻ.
d.Cơ sở sinh lý:
5
Mối quan hệ với giải phẫu sinh lý là cơ sở tự nhiên của việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ. Học thuyết về các tín hiệu đã khẳng định ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu
thứ hai, là sự hoạt động đặc biệt của vỏ bán cầu đại não. Chính vi vậy việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ phải liên quan mật thiết với việc phát triển, hoàn thiện bán cầu đại
não và hệ thần kinh nói chung. Các nhà giải phẫu đã khẳng định: Trong ba năm đầu
là kết thúc sự trởng thành về mặt giải phẫu những vùng não chỉ huy ngôn ngữ. biết
đợc những điều này sẽ giúp giáp viên phát triển cho trẻ đúng lúc mới đặt đợc kết
quả tốt.
Đứa trẻ nào khi sinh ra cũng có cơ chế phát âm nhng cha hẳn đã nói đợc. Nh-
ợc điểm nàydo sự phát triển không đầy đủ của hệ thần kinh và trung tâm ngôn ngữ,
cần phải thúc đẩy việc hoàn chỉnh cơ chế phát âm của trẻ làm cho nó phát triển bình
thờng sao cho quá trình nắm vững khẩu ngữ không bị ngng trệ giủptẻ tích luỹ nội
dung cho ngôn ngữ, tức là tích luỹ các biểu tợng, các ý nghĩ. Ngôn ngữ phát triển sẽ
giúp cho t duy của trẻ phát triển do đó cả các nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ
phải tiến hành càng sớm càng tốt.
Để ngôn ngữ của trẻ phát triển hoàn thiện thì bộ máy phát âm của trẻ phải
hoàn thiện. Khi trẻ bị chứng dị tật của bộ máy phát âm nh: hở hàm ếch, ngắn lỡi,
các bệnh về phổi, thanh khí quản, thì việc dạy nói cho trẻ hết sức khó khăn. Chính
vì thế trong thời kỳ mang thai ngời mẹ phải có chế đọ dinh dỡng đặc biệt, phòng
tránh ốm đau để khi đứa trẻ sinh ra đợc hoàn thiện.
Tóm lại: Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ có quan hệ khăng khít với nhiều

vật và hành động câu các nhân vật đó trong tranh ( nếu nội dung tranh gần gũi với
trẻ ). Trẻ có thể hiểu đợc nội dung các câu chuyện ngắn, đơn giản, ngần gũi với trẻ.
chính vì vậy khi tiến hành một giờ dạy kể chuyện theo tranh cho trẻ, cô giáo cần
chú ý nội dung bức tranh phải thật gần gũi với sinh hoạt của trẻ. Câu chuyện chỉ
gồm từ 1 đến 3 nhân vật đang hoạt động.
Trình tự tiến hành kể chuyện theo tranh của lứa tuổi từ 18 -> 24 tháng tuổi
gồm những bớc sau:
+ Cô giới thiệu tên tranh, các nhân vật trong tranh.
+ Cô kể mẫu câu chuyện thật đơn giản theo nội dung bức tranh.
+ Cô cho trẻ quan sát và đàm thoại về nội dung bức tranh, đặt câu hỏi để trẻ
dựa vào câu chuyện trả lời.
Khi tiến hành kể chuyện theo tranh cho trẻ ngoài việc tuân thủ các bớc lên
lớp theo đúng giáo trình: hớng dẫn và gợi ý và thực hiện chơng trình chăm sóc
giáo dục trẻ nhà trẻ từ 3 -> 36 tháng. của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo. Ngay vào đầu
giờ học Tôi đã chú trọng tạo ra các tình huống gây hứng thú nhằm tập trung thu hút
và sự chú ý của trẻ vào bài học một cách nhẹ nhàng. các lần dạy sau trẻ tập kể bằng
cách đa ra các mẫu câu cho trẻ tập nói theo cô.
*Nghe đọc thơ: Trẻ từ 18 -> 24 tháng tuổi rất thích nhẩm đọc theo cô và có
khả năng học thuộc bài thơ. Khi đọc thơ cho trẻ nghe, cô đọc diễn cảm, rõ ràng toàn
bộ bài thơ làm nhiều lần, kết hợp với các động tác minh hoạ. Cô đọc với âm lợng
vừa đủ để cả lớp cùng nghe, phát âm chuẩn xác tránh nói ngọng. Khi đọc phải ngắt
nghỉ đúng chỗ, thể hiện đợc vần điệu, nhịp điệu của bài thơ. Chú ý đến các từ tợng
hình, tợng thanh.
Tiến trình tiết học nghe đọc thơ cho trẻ từ 18 -> 24 tháng tuổi. Cô cho 7
-> 8 trẻ ngồi xung quanh cô. Cô đọc chậm rãi toàn bộ bài thơ làm nhiều lợt và
khuyến khích trẻ đọc theo cô từ cuối của các câu. Khi Cô đọc phải chú ý sửa sai cho
trẻ.
Nhận biết tập nói: Trẻ ỏ lứa tuổi này không những có khả năng nhận biết
từng sự vật riêng lẻ mà còn có khả năng khái quát hoá đơn giản các sự vật hiện t-
ợng. Vì vậy : Khi dạy trẻ từ 18 -> 24 tháng tuổi nhận biết tập nói, Tôi chú trọng sử

Cho trẻ ôn luyện các vật đã học trong tháng, lúc đầu cô cho trẻ xem, nhắc lại
từng vật một sau đó cho trẻ nhận biết lựa chọn tất cả các vật cùng một lúc, mỗi lần
cho trẻ luyện tập gồm 3 bớc:
B ớc 1: Quan sát.
Khi cho trẻ quan sát vật, cô không nói ra ngay tên gọi, đặc điển của vật mà
nên đặt thành câu hỏi ngắn gọn, chính xác để dịnh hớng sự trả lời của trẻ và phát
huy tính chủ động, tích cực trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Nếu trẻ không
trả lời đợc, cô nói cho trẻ biết và đặt lại câu hỏi để trẻ nhắc lại.
B ớc 2: Luyện tập.
Trong bớc luyện tập cô nên đa ra nhiều dạng câu hỏi để trẻ trả lời. Ví dụ:
+ Con gì đây?
+ Cái gì đây?
+ Để làm gì?
+ Nh thế nào?
+ Có cái gì?
Cùng một nội dung trả lời, cô phải đặt nhiều dạng câu hỏi khác nhau. Ví dụ:
+ Gà gáy thế nào?
+ Con gì gáy òóo ?
8
Với những câu hỏi trên nhằm phát triển ngôn ngữ đồng thời kích thích sự
phát triển t duy cho trẻ.
B ớc 3: Trò chơi.
Phần cuối cô cho trẻ chơi trò chơi chọn tranh lôtô theo tên gọi của vật hoặc
trò chơi vận động ( Chim bay ) nhẹ nhàng phù hợp với nội dung bài dạy nhằm củng
cố kiến thức trẻ vừa lĩnh hội.
b.Kết quả so sánh đối chứng:
Tr ớc khi thực hiện đề tài
-
- tiết học đơn điệu, trẻ chóng
chán

lớp lớn cũng nh khi bớc vào học ở trờng tiểu học.
9
c.Những bài học kinh nghiệm:
Để cho trẻ có một nền tảng vững chắc về ngôn ngữ ngay từ khi bắt đầu tập
nói, thì việc cung cấp và phát triển ngôn ngữ cho trẻ là vô cùng quan trọng, nó
quyết định việc học tập cũng nh việc giao tiếp của trẻ. Là một giáo viên trực tiếp
giảng dạy nhiều năm Tôi nhận thấy rằng, Để cung cấp ngôn ngữ cho các cháu một
cách có hiệu quả thì ngời giáo viên phải thực hiện tốt một số công việc sau:
- Phải thực sự yêu nghề, mến trẻ. Thờng xuyên tham khảo học hỏi trau dồi
kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
- Nghiên cứu tìm hiểu tình hình thực tế về kinh tế xã hội và dân c tại địa bàn
nơI mình công tác.
- Nghiên cứu kỹ đối tợng trẻ của lớp mình giảng dạy về tâm sinh lý cũng nh
khả năng phát triển ngôn ngữ riêng của từng trẻ.
- Xây dựng kế hoạch chi tiết việc cung cấp ngôn ngữ, cung cấp vốn từ cho
các cháu sao cho phù hợp với thực tế nơi địa bàn mình dạy học mà cụ thể là của
nhóm lớp mình dạy.
- Xây dựng giáo án tiết dạy sao cho linh hoạt phù hợp với địa phơng nơi mình
dạy, để trẻ đợc học theo phơng châm Học mà chơi, chơi mà học mà vẫn đảm
bảo theo yêu cầu, nhiệm vụ của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã chỉ đạo.
Có thực hiện nh vậy thì việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở độ tuổi từ 18 -> 24
tháng tuổi mới đạt hiệu quả cao.
Phần iii
Kết luận
1. Kết luận chung :
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi từ 18 -> 24 tháng tuổi là vô cùng
quan trọng,đặc biệt là trẻ ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số lại càng quan trọng
hơn. Bởi vì từ khi trẻ đợc sinh ra trong quá trình nuôi dỡng hàng ngày, trẻ thờng
xuyên tiếp xúc với bố mẹ, ông bà, anh chị, và bà con lối xóm. Do đó ngôn ngữ tiếng
mẹ đẻ của trẻ chiếm u thế ( có thể nói là chiếm 100% vốn ngôn ngữ của trẻ ). Chính

2. Lý do chọn đề tài:
3. Mục đích yêu cầu:
4. Những cơ sở lý luận:
a. Cơ sở ngôn ngữ:
b. Cơ sở tâm lý:
c. Cơ sở giáo dục:
d. Cơ sở sinh lý:
5. Thời gian phạm vi thực hiện đề tài:
6. Các biện pháp thực hiện:
a. Các b ớc tiến hành để tổ chức tốt tiết dạy:
b. Kết quả so sánh đối chứng:
7. Những bài học kinh nghiệm:
a. giá trị thực hiện:
b. ý nghĩa thực tiễn:
c. Những bài học kinh ngiệm:
iii. kết luận:
1. Kết luận chung:
2. Những kiến nghị đề xuất:
12
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status