Hoàn thiện hạch toán chi phí, doanh thu và xác định kết quả hoạt động dịch vụ tại công ty TNHH du lich thông minh việt nam - Pdf 22

Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, cùng với sự đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,
các doanh nghiệp ở nước ta đã đi vào thực hiện hạch toán độc lập đảm bảo
nguyên tác tự trang trải và có lãi. Chính điều này các doanh nghiệp phải từng
bước nâng cao công tác quản lý, tăng cường hạch toán kinh tế nội bộ, thực
hiện triệt để công tác tiết kiệm trong sản xuất kinh doanh.
Do đó vấn đề chi phí, doanh thu và kết quả kinh doanh là thường xuyên
được đặt ra đối với tất cả các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
Nếu như trước đây, trong cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa tập trung,
tổ chức hạch toán chi phí, doanh thu và kết qủa ở các đơn vị kinh tế được Nhà
nước "lo" cho hầu như toàn bộ: kinh doanh có lãi thì đơn vị được hưởng còn
thua lỗ thì Nhà nước chịu. Nhưng sang cơ chế quản lý kinh tế mới" cơ chế
vận hành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN là
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính
sách và các công cụ quản lý khác" thì việc tổ chức kế toán chi phí, doanh thu
và kết quả sản xuất kinh doanh trở nên vô cùng quan trọng. Vì trong cơ chế
quản lý đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh,
quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện: Thị
trường có vai trò hướng dẫn các đơn vị kinh tế, lựa chọn lĩnh vực hoạt động
và phản ánh tổ chức sản xuất kinh doanh có hiệu quả hay không hiệu quả.
Đơn vị kinh tế nào tổ chức tốt các nghiệp vụ về chi phí đã bỏ ra, xác
định đúng đắn doanh thu và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
có ý nghĩa kinh tế to lớn, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có những
quyết định đúng đắn trong kinh doanh để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất
với chi phí thấp nhất. Ngược lại, nếu công ty nào không xác định và không
làm tốt ba chỉ tiêu này sẽ dẫn đến tình trạng gặp nhiều khó khăn trong hoạt
đông kinh doanh của mình, cuối cùng dễ lâm vào tình trạng "phá sản". Trên
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
1
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp

sản xuất ra các sản phầm theo yêu cầu của thị trường nhằm mục đích kiếm
lợi. Đó các quá trình mà các doanh nghiệp phải bỏ ra những chi phí nhất định,
những chi phí dưới hình thức hiện vật hoặc hình thái giá trị đó là điều kiện vật
chất bắt buộc để các doanh nghiệp có được thu nhập. Do vậy để tồn tại phát
triển và kinh doanh có lãi thì buộc các doanh nghiệp phải tìm cách giảm tới
mức tối thiểu các chi phí của mình, muốn vậy các nhà quản trị doanh nghiệp
cần phải nắm chắc bản chất và khái niệm về chi phí sản xuất.
Về bản chất của chi phí, dưới từng gốc độ nghiên cứu người ta có cách
hiểu khác nhau:
Đối với các nhà kinh tế học: Đó là các phí tổn phải chịu khi sản xuất
hàng hoá hay dịch vụ trong kỳ kinh doanh.
Đối với các nhà quản lý tài chính, thuế, ngân hàng thì đó chỉ là những
khoản chi liên quan trực tiếp đến quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp thì chi phí được coi là toàn bộ các
khoản phải bỏ ra để mua các yếu tố cần thiết để nhằm phục vụ cho quá trình
sản xuất và mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp trong giới hạn đầu
tư không đổi.
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
3
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
Còn đối với các nhà kế toán thường quan niệm chi phí như một khoản
phải hy sinh hay phải bỏ ra để đạt được mục đích nhất định, nó được xem như
một lượng tiền phải trả cho các hoạt động của doanh nghiệp trong việc tạo ra
sản phẩm.
Song dự dưới góc độ nào thì chi phí sản xuất của các doanh nghiệp cũng
được tính toán xác định trong từng thời kỳ cụ thể, phù hợp với kỳ thực hiện
kế hoạch và kỳ báo cáo.
Từ việc nhìn nhận bản chất của chi phí dưới nhiều góc độ khác nhau nên
các khái niệm về chi phí cũng được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau.

công tác kế toán ở doanh nghiệp. Để việc xác định những chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Hạch toán chi
phí chính xác là điều kiện để xác định đúng đắn giá vốn hàng bán, chi phí
hàng bán và chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong quá trình sản xuất
kinh doanh, qua đó phản ánh được chính xác kết quả hoạt động kinh doanh
của đơn vị mình.
2.1. Khái niệm giá vốn hàng bán.
Giá vốn hàng bán phản ánh giá thực tế (giá gốc) của khối lượng thành
phẩm, hàng hoá và dịch vụ xuất bán trong kỳ.
Đối với sản phẩm, lao vụ, dịch vụ thì giá vốn hàng bán chính là giá thành
phân xưởng hay giá thành sản xuất của nó. Còn với hàng hoá thì giá vốn hang
bán bao gồm phí thu mua phân bổ cho hàng bán và trị giá mua của hàng mua.
2.2. Khái niệm chi phí bán hàng.
• Chi phí bán hàng là những khoản chi phí phát sinh có liên quan đến
hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá lao vụ, dịch vụ trong kỳ.
Chi phí bán hàng không tạo ra giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá (trừ
một phần rất nhỏ chi phí tiếp tục hoàn chỉnh sản phẩm ở lĩnh vực lưu thông
mà người ta gọi là chi phí có tính chất sản phẩm), nó chỉ làm cho hình thái giá
trị thay đổi từ hình thái này sang hình thái khác. Tức là từ hình thái hàng hoá
sang hình thái tiền và ngược lại. Vì vậy, muốn bảo đảm cho quá trình tái sản
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
5
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng được bình thường thì tất yếu phải có
chi phí bán hàng trong quá trình sản xuất kinh doanh.
• Phân loại chi phí bán hàng: là việc sắp xếp chi phí bán hàng thành
những khoản khác nhau theo tiêu chuẩn phân loại nhất định. Phân loại chi phí
bán hàng một cách khoa học, hợp lý là một trong những vấn đề có ý nghĩa
quan trọng trong việc đề ra các biện pháp quản lý chặt chẽ và có phương
hướng phấn đấu và hạ thấp chi phí bán hàng. Phân loại chi phí bán hàng còn

Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí có liên quan chung
đến toàn bộ hoạt động của cả doanh nghiệp mà không tách riêng ra được cho
bất kỳ một hoạt động nào.
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm nhiều loại như: Chi phí quản lý
kinh doanh, quản lý hành chính và chi phí quản lý chung khác.
Nội dụng các yêu tố phí thuộc chi phí quản lý gồm:
+ Chi phí nhân viên quản lý: Gồm các khoản tiền lương, các khoản
phụ cấp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của ban Giám
đốc, nhân viên quản lý ở các phòng ban của các doanh nghiệp.
+ Chi phí vật liệu quản lý: Phản ánh giá trị vật liệu xuất dùng cho
công tác quản lý doanh nghiệp, như: giấy, bút, mực, vật liệu sữa chữa TSCĐ,
công cụ, dụng cụ,
+ Chi phí đồ dùng văn phòng: là những chi phí phản ánh giá trị dụng
cụ, đồ dùng văn phòng cho công tác quản lý.
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: là phần giá trị hao mòn của những TSCĐ
dùng cho công tác quản lý.
+ Chi phí về thuế, phí và lệ phí: là khoản chi phí về thuế , lệ phí như
thuế môn bài, thu trên vốn, thuế nhà đất, và các khoản phí, lệ phí khác.
+ Chi phí dự phòng: phản ánh các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn
kho, dự phòng phải thu khó đòi tính vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh các chi phí về dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài như: tiền điện, nước, điện thoại, điện báo, thuê nhà, thuê
người sửa chữa TSCĐ thuộc văn phòng quản lý.
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
7
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
+ Chi phí khác bằng tiền: phản ánh các khoản chi phí khác thuộc quản
lý chung của doanh nghiệp ngoài các chi phí kể trên như: Tiền chi phí cho hội
nghị, tiếp khách, giao dịch, công tác phí, tàu xe đi phép, dân quân tự vệ, đào
tạo cán bộ, lãi vay vốn dùng cho sản xuất kinh doanh phải trả.

mua ngoài dựng vào sản xuất kinh doanh.
+ Yếu tố chi phí khác bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh vào các yếu tố trên dựng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.
3.2. Phân theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận
tiện cho việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân theo khoản mục. Cách
phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng
đối tượng. Theo quy định hiện hành, giá thành toàn bộ của sản phẩm bao gồm
5 khoản mục sau chi phí:
+ Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp.
+ Chi phí nhân công trực tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung.
+ Chi phí bán hàng.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp.
3.3. Phân theo cách thức kết chuyển chi phí.
Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sản phẩm và
chi phí thời kỳ. Chi phí sản phẩm là những chi phí gắn liền với các sản phẩm được
sản xuất ra hoặc được mua; còn chi phí thời kỳ là những chi phí làm giảm lợi tức
trong một kỳ nào đó, nó không phải là một phần giá trị sản phẩm được sản xuất ra
hoặc được mua nên được xem là các phí tổn, cần được khấu trừ ra từ lợi tức của
thời kỳ mà chúng phát sinh. Cách phân loại này tạo điều kiện cho việc xác định
giá thành công xưởng cững như kết quả kinh doanh được chính xác.
3.4. Phân theo quan hệ của chi phí với khối lượng công việc, sản
phẩm hoàn thành.
Để thuận lợi cho việc lập kế hoạch và kiểm tra chi phí, đồng thời làm
căn cứ để đề ra các quyết định kinh doanh, toàn bộ chi phí sản xuất kinh
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
9
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
doanh lại được phân theo quan hệ với khối lượng công việc hoàn thành. Theo

2. Các phương thức bán hàng.
 Bán hàng trực tiếp: Là phương thức giao hàng cho người mua trực
tiếp tại kho, tại các phân xưỏng sản xuất (không qua kho của các doanh
nghiệp). Bán hàng trực tiếp còn bao gồm bán buôn và bán lẻ, hay bán thẳng
cho người mua và bán cho người buôn, song phương thức giao hàng phải
được thực hiện tại đơn vị sản xuất.
Bán buôn là các quá trình bán hàng cho các doanh nghiệp thương mại
các tổ chức kinh tế khác. Kết thúc quá trình bán buôn hàng hoá vẫn nằm trong
lĩnh vực lưu thông chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng
của hàng hoá chưa được thực hiện hoàn toàn. Đặc điểm của bán buôn thường
là bán khối lượng lớn, được tiến hành theo các hợp đồng kinh tế.
Bán lẻ là giai đoạn cuối cùng của quá trình vận động hàng hoá từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu dùng. Đó là hành vi trao đổi diễn ra hàng ngày thường
xuyên với người tiêu dùng. Thời điểm xác định tiêu thụ là khi doanh nghiệp
mất đi quyền sở hữu hàng hoá và được quyền sở hữu tiền tệ.
 Phương thức chuyển hàng thèo hợp đồng: Theo phương thức này, bên
bán chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm ghi trên hợp đồng. Số hàng
chuyển đi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi người mua thanh
toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng chuyển giao thì số hàng này mới
được coi là tiêu thụ. Bán hàng theo phương thức này vẫn gồm hai loại bán
buôn và bán lẻ, song phương thức giao hàng không tại kho hoặc đơn vị sản
xuất mà giao tại bên mua hoặc tại các cửa hàng tiêu thụ.
 Bán hàng qua đại lý: Về bản chất, bán hàng theo phương thức này là
bán theo phương thức chuyển hàng. Song, trong trường hợp này, bên giao
phải trả cho bên đại lý một khoản tiền gọi là tiền hoa hồng.
 Bán hàng cho trả góp: Thực chất của phương thức bán hàng này là
bán hàng trực tiếp kết hợp với nghiệp vụ cho khách hàng vay vốn. Vì vậy,
tiền thu được từ quá trình bán hàng phải chia làm hai phần: phần doanh thu
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
11

12
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.1. Phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền.

Giá thực tế của Giá thực tế của thành
Thành phẩm, hàng + phẩm, hàng hoá nhập Khối lượng
hoá tồn kho đầu kỳ kho trong kỳ thành
phẩm,
= × hàng
hoá
Khối lượng thành Khối lượng thành xuất kho
phẩm, hàng hóa tồn + phẩm, hàng hóa trong
kỳ
kho đầu kỳ nhập kho trong kỳ
1.1.2. Phương pháp giá thực tế đích danh.
Phương pháp này, khi xuất loại hàng nào thì tính theo giá thực tế đích
danh của loại hàng đó. Phương pháp này thích hợp với những hàng hoá giá trị
cao gắn với những đặc điểm riêng của nó.
1.1.3. Phương pháp giá thực tế nhập trước, xuất trước.
Giá thực tế của thành phẩm,
hàng hoá xuất bán
=
Giá thực tế đơn vị của
thành phẩm, hàng hoá
nhập kho theo từng
lần nhập kho
x
Khối lượng thành phẩm,
hàng hoá xuất kho trong
kỳ thuộc khối lượng từng

thành phẩm, hàng + phẩm, hàng hoá nhập
tồn kho đầu kỳ kho trong kỳ
=
Giá hạch toán của Giá hạch toán của
thành phẩm, hàng + thành phẩm, hàng hoá
hoá tồn kho đầu kỳ nhập kho trong kỳ
Trên thực tế, phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền và phương
pháp giá hạch toán là những phương pháp đưọc sử dụng phổ biến nhất.
2. Hạch toán chi tiết chi phí bán hàng.
Chi phí bán hàng là những khoản chi mà doanh nghiệp bỏ ra có liên quan
đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ dịch vụ trong kỳ như chi
phí nhân viên bán hàng, chi phí dụng cụ bán hàng, chi phí quảng cáo
Hạch toán chi tiết chi phí bán hàng thường được phân bổ cho đối tượng
hạch toán theo tiêu chuẩn hợp lý, có thể dựa vào doanh thu kế hoạch hoặc dựa
vào giá hàng tồn hoặc hàng bán, kỳ hạch toán là (tháng, quý, năm). Căn cứ
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
14
Trị giá thực tế của
khối lượng thành
phẩm, hàng hoá
xuất bán trong kỳ
Hệ số chênh
lệch giữa
giá thực tế
và giá hạch
toán
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
vào các chứng từ gốc như hoá đơn bán hàng, các bảng phân bổ khấu hao,
bảng tính lương, phiếu xuất kho kế toán lập sổ chi tiết chi phí bán hàng. Số
liệu trên sổ chi tiết chi phí bán hàng được đối chiếu với sổ cái TK 641- Chi

giảm trừ doanh thu, giá vốn, doanh thu bán chịu theo trùng loại mặt hàng,
theo thị trường, theo đối tượng khách hàng.
IV. HẠCH TOÁN TỔNG HỢP CHI PHÍ, DOANH THU VÀ XÁC
ĐỊNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ.
1. Hạch toán giá vốn hàng bán.
Để phản ánh tình hình hàng bán theo phương thức giao hàng trực tiếp, kế
toán sử dụng tài khoản 632 - Giá vốn hàng bán. Tài khoản này phản ánh trị
giá vốn hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ đã bán (được chấp nhận thanh toán
hoặc đã thanh toán) và kết chuyển trị giá vốn hàng bán sang tài khoản 911 -
xác định kết quả kinh doanh để tính kết qủa kinh doanh.
Bên Nợ:
- Trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hoá xuất kho đã xác định
là bán.
- Trị giá vốn của thành phẩm tồn kho đầu kỳ (phương pháp kiểm kê định
kỳ ở DNSX).
- Trị giá vốn thực tế của thành phẩm sản xuất xong nhập kho và lao vụ,
dịch vụ đã hoàn thành (phương pháp kiểm kê định kỳ ở DNSX).
- Thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ phải tính vào giá vốn hàng bán.
Bên Có:
- Kết chuyển trị giá vốn thực tế của thành phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch
vụ hoàn thành vào bên Nợ TK 911 -xác định kết quả kinh doanh.
- Kết chuyển trị giá vốn của thành phẩm tồn kho cuối kỳ vào bên Nợ TK
155 - Thành phẩm (phương pháp kiểm kê định kỳ ở DNSX).
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư
1.1. Hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường xuyên.
 Khi xuất kho thành phẩm, hàng hoá đi tiêu thụ hoặc trả lương cho
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
16
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
công nhân viên hoặc chia lợi nhuận cho liên doanh, cho cổ đông hoặc các

TK 157
Hàng gửi bán khi đã tiêu thụ
1.2. Hạch toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
Theo phương pháp này, tuỳ theo lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp
mà hình thành các phương pháp hạch toán riêng.
 Đối với sản xuất và dịch vụ.
+ Đầu kỳ tiến hành kết chuyển giá trị thành phẩm tồn kho:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 155 - Thành phẩm
Có TK 157 - Hàng gửi bán
+ Trong kỳ giá thành thực tế của thành phẩm nhập kho hoặc đem tiêu
thụ ngay và giá thành lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành, kế toán ghi:
Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán
Có TK 631 - Giá thành sản xuất
+ Cuối kỳ, tiến hành kiểm kê và xác định giá thực tế của khối lượng
thành phẩm tồn kho, kế toán ghi:
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
18
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
- Đối với doanh nghiệp sản xuất.
Nợ TK 157 - Hàng gửi bán
Nợ TK 155 - Thành phẩm
Có TK 632 - Giá vốn hàng bỏn
- Đối với doanh nghiệp thương mại
Nợ TK 156, 157
Có TK 611
+ Sau khi xác định được trị giá thành phẩm tồn kho cuối kỳ, kế toán
xác định trị giá thành phẩm đã tiêu thụ trong kỳ theo công thức:
Trị giá thành Trị gía thành Trị giá thành Trị giá thành
phẩm thiêu thụ = phẩm tồn đầu + phẩm nhập kho - phẩm tồn kho

trong quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, lao vụ như chi phí bao gói, phân
loại, chọn lọc, vận chuyển, bốc dỡ, giới thiệu, bảo hành sản phẩm, hàng hoá,
hoa hồng trả cho đại lý bán hàng Chi phí bán hàng có kết cấu như sau:
Bên nợ:- Chi phí bán hàng thực tế phát sinh trong kỳ.
Bên có:- Các khoản ghi giảm chi phí bán hàng.
- Kết chuyển chi phí bán hàng trừ vào kết quả trong kỳ.
TK 641 không có số dư và chi tiết thành:
- TK 6411 " Chi phí nhân viên"
- TK 6412 " Chi phí vật liệu, bao bì"
- TK 6413 " Chi phí dụng cụ, đồ dùng"
- TK 6414 " Chi phí khấu hao TSCĐ"
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
20
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
- TK 6415 " Chi phí bảo hành"
- TK 6417 " Chi phí dịch vụ mua ngoài"
- TK 6418 " Chi phí bằng tiền khác"
2.2. Phương pháp hạch toán.
Việc hạch toán chi phí bán hàng được khái quát qua sơ đô sau:
SƠ ĐỒ 3: SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ BÁN HÀNG.
TK 334,338 TK 641
Chi phí nhân công Giá trị thu hồi ghi giảm chi phí
TK 152,153 TK 911
Chi phí vật liệu, dụng cụ Kết chuyển chi phí bán hàng
TK 214
Chi phí khấu hao TSCĐ

TK 111,112,331 TK 142,(1422)

Các chi phí liên quan khác Chi phí chờ K/c K/c Chi phí `

khái quát bằng sơ đô sau:
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
22
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
SƠ ĐỒ 4: SƠ ĐỒ HẠCH TOÁN CHI PHÍ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP.
TK 334,338 TK 642 TK 111,138

Chi phí nhân viên quản lý Các khoản ghi giảm
chi phí quản lý

TK 152,153 TK 911
Chi phí vật liệu, dụng cụ Kết chuyển chi phí quản lý
tài khoản xác định kết quả
TK 214 TK 142 (1422)
Chi phí khấu hao TSCĐ Chờ kết chuyển Kết chuyển
TK 333,111,112
Thuế, phí và lệ phí
TK139,159
Chi phí dự phòng

TK 335,142
Chi phí theo dự toán
TK 331,111,112
Chi phí khác
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
23
Học viện Ngõn hàng Chuyên đề tốt nghiệp
4. Hạch toán doanh thu.
4.1. Nội dung, kết cấu.
Doanh thu bán hàng được theo dõi chi tiết cho từng loại sản phẩm, hàng

TK 512 Cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành các tiểu khoản sau:
- TK 5121 "Doanh thu bán hàng".
- TK 5122 "Doanh thu bán sản phẩm".
- TK 5123 "Doanh thu cung cấp dịch vụ".
Tài khoản này chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ
như: giao thông vận tải, du lịch, bưu điện
Nguyên tác: - TK 512 chỉ dùng cho các đơn vị thành viên hạch toán phụ
thuộc trong một công ty hay Tổng công ty, nhằm phản ánh số doanh thu tiêu
thụ nội bộ trong kỳ.
- Chỉ phản ánh vào TK 512 số doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ, lao vụ của các đơn vị thành viên cung cấp lẫn nhau.
- Chỉ phản ánh vào TK 512 khi sản phẩm hàng hoá đã được coi là tiêu thụ.
- Phải phản ánh đúng giá trị hàng bán thực tế ghi trên hoá đơn.
- Không hạch toán vào tài khoản này các khoản doanh thu bán hàng cho
các doanh nghiệp không trực thuộc công ty, tổng công ty.
 TK 531 Hàng bán bị trả lại
Kết cấu chủ yếu của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: - Ghi trị giá hàng bán bị trả lại theo giá bán chưa có thuế GTGT.
Bên Có: - Kết chuyển trị giá hàng bán bị trả lại sang TK 511 hoặc 512.
Sau khi kết chuyển tài khoản này không có số dư.
 TK 532: Giảm giá hàng bán.
Kết cấu chủ yếu của tài khoản này như sau:
Bên Nợ: Ghi số tiền giảm giá cho khách hàng theo giá bán.
Bên Có: Kết chuyển số tiền giảm giá sang TK 511 hoặc TK 512
Sau khi kết chuyển tài khoản này không có số dư.
Hà Minh Thu Lớp: LTĐH 5E
25

Trích đoạn Hạch toán doanh thu tại Công ty TNHH Du lịch thông minh Việt Nam. Hạch toán xác định kết quả kinh doanh của Công ty TNHH Du lịch thông minh Việt Nam TẠI CÔNG TY TNHH DU LỊCH THÔNG MINH VIỆT NAM I NHẬN XÉT CHUNG.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status