Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP dầu khí toàn cầu GP bank - Pdf 22


MỞ ĐẦU

CHƯƠ
NG 1 NH
QU
ẢN LÝ R
1.1 T
ổng quan v
1.1.1 Khái ni
1.1.2 Ch
ức nă

2.3 Đánh giá ho
ph
ần Dầu khí To
2.3.1 K
ết quả
2.3.2 H
ạn chế
CHƯƠ
NG 3 GI
HÀNG TH
3.1 Đ
ịnh h
ưiii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

đem lại nguồn thu chủ yếu nhưng cũng là hoạt động có mức độ rủi ro cao nhất.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng mang tính hệ thống, chủ yếu bắt nguồn từ
RRTD; nếu không có biện pháp xử lý phù hợp, có thể lây lan, gây tổn thương và
mất niềm tin đối với khách hàng, và có thể làm sụp đổ ngân hàng. Do vậy, quản lý
RRTD luôn là vấn đề mang tính sống còn, là thước đo năng lực quản lý và là bộ
phận trọng tâm trong chiến lược hoạt động của bất kỳ ngân hàng nào.
Tại GP.Bank, trong những năm qua, mặc dù công tác quản lý RRTD đã
được ngân hàng chú trọng, song cho đến nay công tác này vẫn còn nhiều bất cập,
do đó rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng của GP.Bank vẫn ở mức cao.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn nêu trên, tác giả mạnh dạn lựa chọn thực
hiện đề tài “Quản lý RRTD tại NHTMCP Dầu khí Toàn cầu” với mong muốn tiếp
tục quá trình nghiên cứu và đưa ra những giải pháp hữu hiệu trong quản lý RRTD
ở GP.Bank nói riêng và hệ thống NHTM nói chung, nhằm nâng cao hiệu quả kinh
doanh của NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu về chủ đề này
Về quản lý rủi ro trong hoạt động NHTM nói chung và quản lý rủi ro tín
dụng nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới dạng đề tài, luận văn thạc
sỹ, luận án tiến sỹ. Kết quả nghiên cứu của các công trình này đã được các nhà
quản lý vĩ mô, các nhà quản trị ngân hàng tham khảo trong việc xây dựng cơ chế,
chính sách và biện pháp triển khai trong thực tiễn. Song trong điều kiện hệ thống
NHTM Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới, tự do hóa
tài chính đang từng bước thực hiện theo các lộ trình đã cam kết, vấn đề quản lý rủi
ro trong hoạt động tín dụng luôn được các cán bộ khoa học, các NHTM quan tâm, 2

nghiên cứu để có biện pháp quản trị tốt. Tại GP.Bank, quá trình nghiên cứu về rủi
ro và quản lý rủi ro mới chỉ dừng lại ở những tư vấn từ các chuyên gia và giải
pháp nội bộ ngân hàng. Do đó rất cần phải có công trình nghiên cứu sâu về rủi ro

kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tín dụng và quản lý rủi
ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Dầu khí Toàn cầu
Chương 3: Giải pháp quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
cổ phần Dầu khí Toàn cầu
4

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Có nhiều khái niệm về NHTM, theo Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941:
“Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công
chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức ký thác số tiền mà họ dùng cho chính họ
vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”.
Luật Ngân hàng ở Ấn Độ năm 1950 quan niệm: “Ngân hàng là cơ sở nhận các
khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
Luật Ngân hàng Đan Mạch năm 1930 quy định: “Những nhà băng thiết yếu
gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và
các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ
chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm”.
Ở Việt Nam, Luật các TCTD năm 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004) quy
định: ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động của ngân
hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Các loại hình ngân hàng chủ yếu bao

Vay từ các tổ chức tín dụng khác: Trong quá trình hoạt động, NHTM có thể
thiếu vốn tạm thời, khi đó NHTM có thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng khác (phổ
biến là thông qua thị trường liên ngân hàng).
Vay từ NHTW: Chức năng cơ bản của NHTW là ngân hàng của các ngân
hàng, là ngân hàng cho vay cuối cùng trong nền kinh tế. Vì vậy NHTM có thể vay
vốn NHTW khi cần thiết, bằng hình thức chiết khấu, tái chiết khấu, tái cấp vốn của
NHTW đối với NHTM nhằm bù đắp thiếu hụt, tạo sự cân đối nguồn vốn trong quá
trình hoạt động của NHTM.
1.1.1.2 Hoạt động sử dụng vốn
Hoạt động sử dụng vốn bao gồm các hoạt động chủ yếu sau:
* Hoạt động ngân quỹ
Hoạt động này phản ánh các khoản vốn của ngân hàng được dùng vào mục
đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện quy định về dự trữ
bắt buộc do NHTW đề ra. Ngân quỹ là tài sản có tính thanh khoản cao và tính sinh lời
thấp, chủ yếu đáp ứng chi trả thường xuyên của ngân hàng.
* Hoạt động tín dụng
Đây là hoạt động đem lại nguồn thu lớn nhất của ngân hàng và chứa đựng 6

nhiều rủi ro nhất.
* Hoạt động đầu tư tài chính
Ngoài hoạt động chính là cho vay thì các ngân hàng sử dụng nguồn vốn của
mình tham gia vào các hoạt động đầu tư tài chính như: góp vốn liên doanh, kinh
doanh và đầu tư chứng khoán…Các hoạt động này diễn ra trên thị trường tài chính,
không những giúp ngân hàng thu được nguồn lợi nhuận cao và ổn định mà còn giúp
cho ngân hàng đa dạng hóa danh mục đầu tư.
* Hoạt động dịch vụ
Hoạt động dịch vụ ngân hàng rất đa dạng bao gồm: cung ứng các phương tiện

* Hoạt động tuân thủ theo quy định nghiêm ngặt, quy chế đặc biệt
Để bảo vệ người gửi tiền và người đi vay trong trường hợp ngân hàng phá sản,
NHTW áp dụng những qui định nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng
bằng một cơ chế gồm nhiều vòng:
Vòng 1: Qui định việc đa dạng hoá danh mục đầu tư của ngân hàng. Theo qui
định này các ngân hàng không được phép cho một khách hàng vay vượt quá một tỷ lệ
so với vốn tự có; Dư nợ của 10 khách hàng tốt nhất không được phép vượt quá 30%
tổng dư nợ.
Vòng 2: Điều khoản về “van an toàn” được qui định dưới dạng tái chiết khấu
thương phiếu của các NHTM. Thông qua hoạt động tái chiết khấu này, NHTW thực
hiện tái cấp vốn cho các NHTM.
Vòng 3: Các qui định buộc các NHTM theo dõi, giám sát hoạt động của chính
mình thông qua việc lập các báo cáo tài chính, quản trị rủi ro và giám sát từ xa các
hoạt động ngân hàng.
1.2.3 Phân loại TDNH
Dựa vào các tiêu thức khác nhau người ta phân chia thành các loại TDNH
khác nhau:
- Căn cứ vào thời hạn tín dụng:
TDNH ngắn hạn: Là loại tín dụng không quá 12 tháng, thường được sử dụng để
bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và nhu cầu thanh toán của các cá nhân.
TDNH trung hạn: Là loại tín dụng trên 12 tháng đến 60 tháng, được sử dụng
cho các hoạt động mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và
xây dựng các công trình quy mô nhỏ của các doanh nghiệp, xây dựng nhà ở hoặc mua
sắm tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân.
TDNH dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, được sử dụng cho
các hoạt động đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. 8


của mình để điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng 9

và chuyển hướng cấp tín dụng bằng cách phân bổ nguồn lực TDNH trong nền kinh tế.
Nhờ đó mà thúc đẩy hoặc hạn chế một số ngành phù hợp với định hướng phát triển
kinh tế xã hội. Ngoài ra, Nhà nước sử dụng TDNH để thực hiện chính sách tiền tệ
quốc gia thông qua các công cụ lãi suất để điều tiết lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân
đối tiền hàng, ổn định giá cả.
* TDNH góp phần quan trọng vào việc làm giảm chi phí sản xuất và lưu thông
Thông qua hoạt động TDNH, vốn trong nền kinh tế được luân chuyển nhanh,
từ đó giảm khối lượng đưa vào lưu thông, giảm chi phí lưu thông tiền tệ. Vốn TDNH
được cung cấp đầy đủ, kịp thời cho các doanh nghiệp làm cho quá trình sản xuất kinh
doanh được diễn ra liên tục, chu kỳ sản xuất kinh doanh được rút ngắn. Đây là yếu tố
góp phần cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình.
* TDNH là công cụ thực hiện chính sách xã hội, nâng cao đời sống dân cư
Việc tài trợ TDNH góp phần giải quyết một loạt vấn đề chính sách xã hội,
thông qua dự án cho vay ưu đãi đối với người nghèo, tổ chức kinh tế xã hội, các
chương trình cho vay với mục đích xóa đói giảm nghèo, phát triển sản xuất công nông
nghiệp. Loại tín dụng này thường do các ngân hàng chính sách thực hiện. Ngoài ra,
TDNH giúp cho người dân cải thiện và nâng cao mức sống cho mình thông qua việc
vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất và tiêu dùng.
1.3 Quản lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.3.1 Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng thương mại
1.3.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Wikipeda “rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm
có thể phát sinh từ một vài tiến trình hay một vài sự kiện hay rủi ro là sự không chắc
chắn liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tương lai”.
Việc nhận thức về rủi ro không chỉ dừng lại với việc nhìn nhận rủi ro gắn với

vốn dài hạn so với việc đầu tư cho vay hay sử dụng vốn, khi lãi suất thị trường biến
động làm cho lãi suất đầu tư cho vay giảm xuống khi đó ngân hàng sẽ bị lỗ do lãi suất
sử dụng vốn giảm.
* Rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái. Sự biến động về
giá trị của đồng tiền là nguyên nhân dẫn tới rủi ro ngoại hối. Rủi ro này có thể phát
sinh ở tất cả các nghiệp vụ ngân hàng liên quan tới ngoại tệ như: huy động, cho vay
bằng ngoại tệ, mua bán, đầu tư chứng khoán bằng ngoại tệ. Biểu hiện của rủi ro này là
sự chênh lệch về kỳ hạn, sự biến động tăng giảm tỷ giá hối đoái, dẫn tới ngân hàng
thua lỗ trong các hoạt động kinh doanh ngoại hối. 11

* Rủi ro hoạt động ngoại bảng
Hoạt động ngoại bảng là các hoạt động không thuộc cân đối tài sản nội bảng.
Tuy vậy các hoạt động ngoại bảng sẽ có ảnh hưởng đến trạng thái tương lai của bảng
cân đối tài sản nội bảng, bởi vì hoạt động ngoại bảng có thể tạo ra những tài sản có và
tài sản nợ bổ sung cho bảng cân đối nội bảng. Rủi ro hoạt động ngoại bảng là toàn bộ
rủi ro đối với những khoản mục ngoại bảng như rủi ro đối với thư tín dụng trong
trường hợp ngân hàng phải thanh toán theo đúng cam kết với bên nhận bảo lãnh trong
khi đó bên yêu cầu bảo lãnh không thực hiện cam kết với ngân hàng.
* Rủi ro khác
Rủi ro khác bao gồm rủi ro về công nghệ, rủi ro do môi trường, rủi ro thị
trường, rủi ro pháp lý, rủi ro do tình hình chính trị, rủi ro do điều kiện của thiên
nhiên,… là những rủi ro mà NHTM luôn tính đến trong quá trình hoạt động.
1.3.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
Tín dụng bao giờ cũng phát sinh trên cơ sở tín nhiệm dù là quan hệ tín dụng có
dựa trên quan hệ về tài sản hay không. Điều này có nghĩa là để thiết lập quan hệ tín
dụng bên chuyển giao vốn và bên nhận chuyển giao vốn phải tin tưởng nhau. Người

Hiện nay, theo quy định các khoản tín dụng được chia thành 5 nhóm:
* Nhóm I: Đạt tiêu chuẩn hoặc bình thường (Standard or Pass loans)
Đó là những khoản vay không có dấu hiệu rủi ro, tất cả các chỉ tiêu đánh giá
cho món vay được coi là tốt. Khoản vay được đảm bảo đầy đủ cả gốc và lãi bằng tiền
hoặc giá trị thay thế tiền như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, tín phiếu kho bạc.
* Nhóm II: Cần quan tâm hoặc cảnh giác (Specially mentioned or Watch
loans)
Đó là những khoản vay có dấu hiệu rủi ro tiềm ẩn, tuy nhiên chưa có nguy cơ
rủi ro nhiều. Đối với những khoản vay này ngân hàng phải có những biện pháp phòng
ngừa kịp thời vì nếu không có biện pháp đốc thúc hợp lý thì món vay thuộc nhóm này
sẽ là nợ xấu cho ngân hàng.
* Nhóm III: Dưới chuẩn (Substandard loans)
Các nhóm vay thuộc nhóm này là nợ xấu, khách hàng có biểu hiện là không có
khả năng trả nợ. Việc trả nợ không theo đúng cam kết mà ngân hàng đã phải tìm đến
biện pháp là thực hiện phát mại tài sản để thu hồi nợ.
* Nhóm IV: Khó đòi (Doubtful loans)
Đây là những khoản vay mà có khả năng mang lại tổn thất rất lớn đối với ngân
hàng.
* Nhóm V: Tổn thất tín dụng (Loss loans) 13

Bao gồm các khoản tín dụng không thu hồi được cả gốc lẫn lãi. TSBĐ thuộc
nhóm này là không thể thu hồi hay có thì rất thấp.
Ở Việt Nam, theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN quy định về việc phân
loại nợ, trích lập và dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD
có quy định ít nhất mỗi quý một lần, trong thời hạn 15 ngày làm việc đầu tiên của
tháng tiếp theo, TCTD phải tiến hành phân loại nợ gốc, riêng đối với quý IV, việc này
sẽ được thực hiện trong thời hạn 15 ngày làm việc đầu tiên của tháng 12. Quyết định

- Môi trường kinh tế
Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc
biệt, nhạy cảm, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố của nền kinh tế trong nước và
ngoài nước. Bất kỳ sự biến động tiêu cực nào của nền kinh tế cũng sẽ ảnh hưởng xấu
đến hoạt động của ngân hàng.
- Môi trường pháp lý
Hệ thống văn bản pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và tạo
hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng. Một hệ thống văn bản đồng bộ, phù hợp và
cơ chế giám sát chặt chẽ sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng hoạt động an toàn và hiệu quả.
- Những nguyên nhân bất khả kháng
Đó là những nguyên nhân như bão lụt, hạn hán, động đất, hoả hoạn gây thiệt
hại về tài sản của ngân hàng và khách hàng. Khi đó khách hàng có thể mất khả năng
hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng.
1.3.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại
* Thứ nhất: Nhân tố con người
Con người là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín
dụng. Trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng cũng như
việc bố trí sắp xếp, đào tạo và sử dụng cán bộ của ngân hàng, thực thi qui trình quản
lý rủi ro tín dụng là những yếu tố có liên quan trực tiếp đến nợ quá hạn, nợ xấu, rủi ro
tín dụng. Bên cạnh đó, trình độ và ý thức của các chủ doanh nghiệp, những người sử
dụng tín dụng, cũng có tác động rất lớn đến rủi ro tín dụng. Như vậy có thể nói chất
lượng nguồn nhân lực của ngân hàng và khách hàng càng cao thì mức độ rủi ro tín
dụng càng thấp và ngược lại.
* Thứ hai: Nhân tố cơ chế chính sách
Cơ chế chính sách hoạt động của ngân hàng là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng và công tác quản lý rủi ro tín dụng. Một hệ thống chính sách nhất quán,
đồng bộ, chặt chẽ, hiệu quả, đáng tin cậy sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những rủi ro
có thể xảy ra.
* Thứ ba: Nhân tố công nghệ


* Phù hợp mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập
Thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng chính vì vậy
không ít những ngân hàng đã chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà mắc sai sót trong việc 16

quản lý rủi ro. Nguyên tắc này là nền tảng của lý thuyết quản trị rủi ro vì trong quá
trình hoạt động của mình ngân hàng luôn phải tính đến rủi ro xảy ra không lớn hơn
mức thu nhập thu được. Ngân hàng không thể chấp nhận món vay mà tính toán rủi ro
gánh chịu lại cao hơn mức thu nhập ngân hàng thu được.
* Tính toán mức rủi ro cho phép với khả năng
Rủi ro tính toán phải phù hợp với phần trích DPRR trong từng giai đoạn và
tuân thủ quy định. Đây là nguyên tắc hết sức quan trọng vì nếu không tuân thủ
nguyên tắc này thì ngân hàng rất dễ lâm vào tình trạng khủng hoảng về vốn, có thể
dẫn tới phá sản ngân hàng.
* Hiệu quả kinh tế
Chỉ cấp tín dụng cho các phương án, dự án vay vốn hiệu quả kinh tế, hoặc các
phương án phục vụ đời sống có nguồn thu đảm bảo trả nợ ngân hàng cả gốc và lãi. Không
cấp tín dụng cho các phương án, dự án thuộc các lĩnh vực mạo hiểm và Pháp luật cấm.
* Phù hợp với chiến lược chung của ngân hàng
Sự phù hợp giữa quản lý rủi ro tín dụng với hoạt động khác và chiến lược phát
triển chung của ngân hàng. Điều này sẽ tạo sự phát triển đồng đều, hiệu quả, an toàn
và bền vững trong hoạt động của ngân hàng.
1.3.3.2 Nội dung quản lý rủi ro tín dụng
Nội dung quản lý RRTD là vấn đề phức tạp, bao gồm: Chính sách tín dụng, sổ
tay tín dụng, kiểm tra tín dụng, xếp hạng tín dụng, xử lý RRTD.
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng quy định những nguyên tắc cơ bản chung nhất của hoạt
động cấp tín dụng nhằm thống nhất hoạt động cấp tín dụng đối với các tổ chức và cá

cáo thông tin trong nội bộ phòng tín dụng.
- Quy trình tiếp nhận, kiểm tra và ra quyết định đối với đơn xin vay của khách
hàng. Quy trình thẩm định phải đảm bảo tính khoa học đồng thời hạn chế được rủi ro.
- Danh mục các loại tài sản có thể chấp nhận làm TSBĐ và những loại tài sản
không được ngân hàng chấp nhận làm TSBĐ.
* Sổ tay tín dụng
Xây dựng sổ tay tín dụng thực chất là việc tập hợp toàn bộ văn bản quy định
hướng dẫn hoạt động cấp tín dụng của một ngân hàng. Việc thực hiện theo quy trình,
quy định, hướng dẫn của sổ tay tín dụng là yêu cầu bắt buộc của cán bộ tín dụng. Đây
là cuốn cẩm nang giúp cho cán bộ tín dụng thực hiện theo một quy trình thống nhất,
minh bạch, tuân thủ các quy định của pháp luật Nhà nước.
* Kiểm tra tín dụng 18

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan có thể làm suy yếu tình hình
tài chính của một số công ty, cá nhân đang có dư nợ ở ngân hàng. Các món nợ của
các đối tượng khách hàng trên có thể sẽ trở thành nợ xấu. Nhiệm vụ của cán bộ tín
dụng phụ trách khoản vay phải có trách nhiệm theo dõi bám sát món vay mà mình
quản lý, thực hiện kiểm tra thường xuyên hoặc định kỳ theo quy trình tín dụng.
* Xếp hạng tín dụng
Thực chất của việc xếp hạng tín dụng là mô hình lượng hóa rủi ro. Mô hình
này vừa khắc phục được phương thức truyền thống là sử dụng định tính để đánh giá
khoản vay đồng thời cho phép xử lý nhanh chóng các đơn xin vay, giảm chi phí, đảm
bảo tính khách quan, góp phần tích cực vào việc kiểm soát RRTD.
Xếp hạng tín dụng là việc chấm điểm RRTD của khách hàng, đánh giá mức độ
rủi ro hiện tại, dự đoán rủi ro tiềm tàng để đưa ra các biện pháp phòng ngừa, đảm bảo
tín dụng, thực hiện việc trích lập dự phòng đối với từng khách hàng, đáp ứng yêu cầu
phân loại xếp hạng khách hàng theo chỉ đạo của NHNN.

cao, thì doanh nghiệp có khả năng
trả nợ tức thời càng lớn.
- Chỉ tiêu thanh toán phản ánh khả
năng của doanh nghiệp trong việc
chuyển đổi tài sản lưu động thành
tiền để trả các khoản nợ ngắn hạn.
Chỉ tiêu này của doanh nghiệp phải
lớn hơn 1, nếu nhỏ hơn 1 thì chứng
tỏ doanh nghiệp đang gặp khó khăn 19

thanh toán nợ
dài hạn
=

Nợ dài hạn

trong việc trả nợ đúng hạn

CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG
Doanh thu

Vòng quay
hàng tồn
kho
=
Hàng tồn kho bq
Doanh thu

doanh thu, chỉ tiêu này càng cao
càng có lợi thế. CHỈ TIÊU ĐÒN CÂN NỢ

Nợ phải trả

Tỷ số nợ =

Tổng nguồn vốn
Nguồn vốn chủ sở hữu

Tỷ số vốn
chủ sở
hữu
=

Tổng nguồn vốn
- Tỷ số nợ hay còn gọi là hệ số đòn
bẩy càng cao phản ánh hoạt động
của doanh nghiệp dựa vào nguồn
vốn vay càng lớn. Ngân hàng cần
xem xét những dự án vay vốn mà
tỷ số này cao.
- Tỷ số vốn càng cao chứng tỏ
doanh nghiệp hoạt động kinh doanh

tài sản
=
Tổng tài sản bq
Lợi nhuận sau thuế

Tỷ suất lợi
nhuận/vốn
chủ sở hữu
=
Vốn chủ sở hữu bq

- Tỷ lệ sinh lời trên doanh thu phản
ánh tỷ lệ lãi phát sinh trên một đơn
vị doanh thu là bao nhiêu. Với một
mức doanh thu, nếu doanh nghiệp
nào càng giảm chi phí đầu vào thì tỷ
lệ sinh lời trên doanh thu càng cao,
điều đó chứng tỏ doanh nghiệp hoạt
động tốt.
- Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản
phản ánh tính hiệu quả trong việc
sử dụng tổng tài sản của doanh
nghiệp như thế nào.
- Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu
phản ánh tính hiệu quả trong việc sử
dụng vốn sở hữu như thể nào.
Ghi chú: Bq- bình quân; TSLĐ- Tài sản lưu động; ĐTNH - Đầu tư ngắn
hạn; TSCĐ - Tài sản cố định; ĐTDH - Đầu tư dài hạn
* Xử lý rủi ro
Khi phát sinh rủi ro từ hoạt động cấp tín dụng, việc xử lý rủi ro phải được

nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro tín dụng điều này thể hiện ở những điểm
chính sau:
* Sổ tay tín dụng
Văn bản tín dụng của VPBank đã được được hệ thống và tập hợp thống nhất
thành một tập văn bản nhằm tạo điều kiện cho các cán bộ tín dụng tra cứu nhanh nhất
và đầy đủ nhất.
* Quy trình kiểm tra, giám sát vốn vay
Các nhân viên phòng nghiệp vụ trực tiếp giải quyết và quản lý hồ sơ cho
vay có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn; sử dụng
vốn vay và trả nợ; kiểm tra tình hình TSBĐ khoản vay của khách hàng nhằm hạn
chế rủi ro, bảo đảm an toàn vốn vay, đánh giá mức độ tín nhiệm và phân loại 22

khách hàng, kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm, đảm bảo hoạt động tín
dụng hoạt động an toàn và hiệu quả.
Việc thực hiện kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi cho vay phù hợp
với VPBank, đặc điểm kinh doanh và sử dụng vốn của khách hàng.
* Hệ thống xếp hạng tín dụng
Hệ thống xếp hạng tín dụng của VPBank được xây dựng cho đối tượng
khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá nhân. Hệ thống xếp hạng doanh
nghiệp chia thành 3 phần.
Phần một: Chấm điểm RRTD
Cán bộ tín dụng sẽ xác định khách hàng thuộc nhóm cụ thể, sử dụng các bảng
xếp hạng tín dụng phù hợp để đánh giá mức độ rủi ro của từng khoản tín dụng. Trong
mỗi bảng xếp hạng có các yếu tố chấm điểm khác nhau, điểm cao nhất là 100, thấp
nhất là 20, trong một số trường hợp điểm số có thể là âm (dưới 0). Tùy vào kết quả
chấm điểm, khách hàng được chia làm 6 mức độ RRTD: thấp, thấp, trung bình, trung
bình, cao, cao tương ứng với 6 mức đánh giá: xuất sắc, tốt, trung bình, dưới trung


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status