kiểm soát trong quản trị - Pdf 22

Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
I. Vấn đề 1
1.1 Đặt vấn đề 03
1.2 Lý thuyết liên quan 03
1.3 Giải quyết vấn đề 05
1.3.1Ngân sách là việc hoạch định.
1.3.2Ngân sách là việc động viên.
1.3.3Ngân sách là việc kiểm soát.
II. Vấn đề 2
2.1 Đặt vấn đề 17
2.2 Lý thuyết liên quan 19
2.3 Giải quyết vấn đề 22
III. Vấn đề 3
3.1 Đặt vấn đề 33
3.2 Lý thuyết liên quan 33
3.3 Giải quyết vấn đề 36
KẾT LUẬN 41
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
1
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm soát là chức năng sau cùng trong tiến trình quản trị. Kiểm soát là quá
trình tiến hành những hành động sửa sai cần thiết để đảm bảo sứ mạng và mục tiêu
của tổ chức được hoàn thành càng nhiều hiệu quả và hiệu năng càng tốt. Kiểm soát
không chỉ dừng lại ở những hoạt động đã diễn ra và kết thúc, nó còn là quá trình
kiểm soát trước đối với những sự việc sắp xảy ra, điều này đặc biệt quan trọng đối
với công tác quản trị trong các doanh nghiệp ngày nay, nó giúp cho các doanh
nghiệp chủ động đối phó với những nguy cơ sắp tới nhằm giảm thiểu rủi ro trong

Có phát biểu cho rằng: “Ngân sách (Budget) bao hàm cả việc hoạch định, động
viên, cũng như kiểm soát”. Chúng ta cần phân tích kĩ qua từng chức năng của quản
trị tương ứng với từng mục đích của ngân sách thì mới có thể chứng minh nhận
định trên hoàn toàn đúng hay không?
1.2 Lí thuyết liên quan
Có nhiều cách định nghĩa về ngân sách, tùy theo mục đích nghiên cứu. Có
người thì cho rằng : “Ngân sách là một kế hoạch dự báo các kết quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp trong một thời gian cụ thể trong tương lai, có thể là tháng,
quý, năm ”. Một trong những cách định nghĩa phổ biến có thể là: “Một kế hoạch
hành động được lượng hóa và được chuẩn bị cho một khoảng thời gian cụ
thể”. Vậy ngân sách gồm những đặc điểm gì?
Theo bài viết về “Định nghĩa ngân sách” của mạng thanhlapdoanhnghiep thì ngân
sách gồm các đặc điểm sau:
• Ngân sách phải được lượng hóa
Điều này có nghĩa là ngân sách phải được biểu thị bằng các con số, thực tế
thường là một số tiền. Một danh sách liệt kê những gì bạn dự tính có thể hữu ích,
nhưng nó không phải là một bảng ngân sách nếu nó không được thể hiện bằng các
con số. Như vậy ngân sách còn có thể bao hàm kế hoạch về quỹ thời gian, kế
hoạch nguồn lao động…
• Ngân sách phải được chuẩn bị từ trước
Bảng ngân sách phải được lập trước thời gian dự định thực hiện ngân sách
đó. Các số liệu trong hoặc sau thời gian thực hiện ngân sách có thể cũng quan
trọng, nhưng không phải là một phần của bảng ngân sách.
3
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
• Ngân sách phải được áp dụng cho một khoảng thời gian cụ thể
Bảng ngân sách được lập cho một khoảng thời gian xác định cụ thể (thường,
nhưng không nhất thiết, là một năm). Một kế hoạch tài chính mở cho tương lai
(không có điểm kết thúc) không được coi là bảng ngân sách.
• Ngân sách phải là một kế hoạch hành động

Ngân sách giúp cho việc hỗ trợ việc lập kế hoạch hoạt động thực tế bằng
cách buộc các nhà quản lý để xem xét các điều kiện như thế nào có thể thay đổi và
những gì trong các bước cần phải được thực hiện ngay bây giờ và bằng cách
khuyến khích các nhà quản lý để xem xét các vấn đề trước khi chúng phát sinh. Nó
cũng giúp phối hợp các hoạt động của các nhà quản lý hấp dẫn để kiểm tra mối
quan hệ giữa hoạt động của chính mình và các ban ngành khác. Yếu tố cần thiết
khác của ngân sách bao gồm:
• Để kiểm soát tài nguyên.
• Để giao tiếp kế hoạch quản lý trung tâm trách nhiệm khác nhau.
• Để khuyến khích các nhà quản lý phấn đấu để đạt được các mục tiêu ngân
sách.
• Để đánh giá hiệu quả của các nhà quản lý.
• Để cung cấp khả năng hiển thị hiệu suất của công ty.
Tóm lại, mục đích của ngân sách là:
• Cung cấp một dự báo về doanh thu và chi phí, đó là, xây dựng một mô hình
kinh doanh của một doanh nghiệp như thế nào có thể thực hiện tài chính nếu
chiến lược nhất định, các sự kiện và kế hoạch được thực hiện.
• Kích hoạt tính năng hoạt động thực tế tài chính của doanh nghiệp được đo so
với dự báo.
• Thiết lập các hạn chế chi phí cho một dự án , chương trình hoặc hoạt động .
1.3 Giải quyết vấn đề:
1.3.1 Ngân sách là việc hoạch định.
Trước tiên, chúng ta cần hiểu khái niệm hoạch định là gì: “Hoạch định là
một quá trình ẩn định những mục tiêu, xây dựng và chọn lọc những biện pháp tốt
nhất để thực hiện mục tiêu đó.”
6
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
Theo Robert Kreitner thì “hoạch định là quá trình chuẩn bị cho sự thay đổi
và đương đầu với sự không chắc chắn bằng cách định ra những bước hành động
trong tương lai”.

. Giáo trình Quản trị học-Trường Đại học kinh tế TP.HCM-NXB Phương Đông, trang 110-111.
7
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
Ví dụ cụ thể để minh chứng là:
Quá trình tính toán chi phí bắt đầu từ một doanh nghiệp nhỏ bắt đầu với một
danh sách của tất cả các thứ mua sắm cần thiết bao gồm cả tài sản hữu hình (ví dụ,
máy móc, thiết bị…) và dịch vụ (ví dụ: tu sửa, bảo hiểm…), vốn lưu động , nguồn
và tài sản thế chấp. Ngân sách phải có một câu chuyện giải thích làm thế nào bạn
quyết định về số lượng dự trữ này và mô tả các kết quả tài chính dự kiến hoạt động
kinh doanh. Các tài sản nên được đánh giá với chi phí mỗi thứ cần được bố sung.
Bạn đang có dự định kinh doanh cho riêng mình (theo mô hình doanh
nghiệp tư nhân), bằng phương tiện ngân sách, bạn có thể tính toán xem bạn phải
cần bao nhiêu để thành lập một doanh nghiệp, và cần bao nhiều để điều hành nó.
Bạn phải vạch định trước các chỉ tiêu, ví dụ như: doanh số/ doanh thu; hàng hoá
được sử dụng (nguyên vật liệu ); chi phí cố định:
• Lương – cho nhân viên ở văn phòng và cửa hàng
• Tiền thuê nhà xưởng hay thuê văn phòng
• Tiền trả hàng tháng cho dịch vụ công như Điện, Nước…
• Chi phí cho bảo trì hay sửa chửa làm mới định kỳ của tòa nhà
• Chi phí vệ sinh, lau kính…
• Chi phí xe cộ xăng nhớt / phụ cấp xe
• Công tác phí
• Chi phí cho điện thọai cố định trong văn phòng
• Tiền tem thư, lệ phí bưu điện
• Chi phí điện thọai di động
• Chi phí thuê đường truyền Internet
• Phí thuê bao hay quản lý và nâng cấp trang web
• Chi phí làm tiếp thị, quảng cáo
• Chi phí hội họp
• Phí Bảo hiểm

“Đừng xem lập ngân sách là điều bắt buộc phải làm mà hãy xem đó là việc
cần thiết cho doanh nghiệp”, ông Tâm khuyên. Bởi, ngân sách định hướng cho DN
kinh doanh trong tương lai; giúp doanh nghiệp biết rõ những nguồn lực hiện có và
từ đó tìm cách sử dụng các nguồn lực này hiệu quả.
2
Lấy ví dụ một số doanh nghiệp trang trí nội thất, nhóm hoạch định
ngân sách có những thành viên với nhiệm vụ như sau:
• Trưởng Phòng Hành chính-Nhân sự sẽ phải dự báo chi phí hành chính, số
lượng nhân công cần thiết cho kế hoạch sản xuất kinh doanh, tuyển dụng
nhân viên mới hoặc cắt giảm lao động cũng như chi phí cho việc giữ nhân
viên làm việc lâu dài cho doanh nghiệp. Các khoản chi phí này sẽ tùy thuộc
vào việc thỏa thuận lương bổng, tùy thuộc vào lĩnh vực và địa bàn doanh
nghiệp đang hoạt động. Những thay đổi về giá cả hoặc chi phí thuê mướn
cũng sẽ được trưởng bộ phận hành chánh nhân sự cập nhật và dự báo.
2
Theo Doanhnhansaigon.vn
9
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
• Trưởng Phòng Vật tư sẽ đưa ra dự báo về giá nguyên liệu trong thời gian tới,
bao gồm nguyên liệu thô và tất cả các máy móc thiết bị cần thiết cho hoạt
động của doanh nghiệp.
• Trưởng Phòng Thiết kế sẽ dự báo về nguồn nhân lực và vật lực cần thiết
trong thời gian tới nhằm đảm bảo chất lượng công việc thích hợp để đạt
được mục tiêu đề ra của người chủ đầu tư.
• Kế toán trưởng sẽ cho biết kế hoạch có liên quan đến tình hình tiền mặt của
doanh nghiệp và cung cấp số liệu chi phí cũng như hiệu quả hoạt động của
mỗi bộ phận trong doanh nghiệp. Kế toán trưởng còn có nhiệm vụ tổng hợp
và liên kết tất cả các ngân sách để đưa ra ngân sách tổng hợp đồng thời dự
báo lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được.
Từ đây, chúng ta đã thấy được mối liên hệ hỗ trợ qua lại, cần thiết của công

nhu cầu nào đó mà con người muốn được thỏa mãn, và trong quá trình theo đuổi
nhu cầu của chính mình, họ thường làm việc nổ lực hơn. Động cơ thúc đẩy là một
phản ứng nối tiếp (sơ đồ dưới).
3
3
Giáo trình Quản trị học-Trường Đại học kinh tế TP.HCM-NXB Phương Đông, trang 180-181
11
Nhu Cầu
Sự Thỏa Mãn
Mong Muốn
Hành Động
Thôi Thúc
Biến thành
Là nguyên nhân
Dẫn tới
Đáp ứng
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
Cụ thể hơn là chúng ta đi vào những lý thuyết về động viên của một số nhà nghiên
cứu.
Đầu tiên, chúng ta cần tìm hiểu về thuyết hai yếu tơ của Herzberg.
Từ việc tập hợp các ý kiến về những biện pháp có tác dụng động viên và
những biện pháp không có tác dụng động viên người lao động, tác giả đã phân biệt
hai nhóm yếu tố:
Nhóm yếu tố động viên: liên quan đến tính chất công việc, nội dung công
việc và những phần thưởng. Chẳng hạn như các yếu tố: sự thách thức của công
việc, các cơ hội thăng tiến, ý nghĩa của các thành tựu, sự nhận dạng khi công việc
được thực hiện, ý nghĩa của trách nhiệm…
Nhóm các yếu tố duy trì: liên quan đến quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, bối
cảnh làm việc hoặc phạm vi công việc. Chẳng hạn như các yếu tố: phương pháp
quan sát, hệ thống phân phối thu nhập, quan hệ với đồng nghiệp, điều kiện làm

mức thưởng đối với nhân viên kinh doanh của mình càng cao thì doanh số bán
được dự án của họ ngày càng nhiều. Đây là động lực để nhân viên kinh doanh ra
sức tìm kiếm khách hàng tiềm năng.
Thực trạng hiện nay cho thấy, người lao động luôn tìm kiếm những công
việc có mức lương cao, khen thưởng nhiều phù hợp với trình độ của họ. Một công
việc mà mức lương họ được nhận không xứng đáng với công sức họ bỏ ra thì họ sẽ
không chọn, dù đã chọn thì cũng chẳng gắn bó được lâu. Đó là lí do tại sao mà một
số lượng sinh viên tốt nghiệp hiện nay không mặn mà gì với các doanh nghiêp nhà
nước.
13
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào “tiền” cũng là có thể động viên được
con người. Bởi lẽ có khi nhu cầu của con người không chỉ là vật chất mà theo tháp
nhu cầu của Maslow còn có: nhu cầu được an toàn, nhu cầu được công nhận tôn
trọng và nhu cầu tự khẳng định mình. Vậy trong trường hợp này thì ngân sách còn
bao hàm việc động viên nữa hay không? Để trả lời câu hỏi này chúng ta hãy cùng
qua ý sau.
Thứ hai, ngoài các yếu tố động viên về vật chất biểu hiện trực tiếp như trên
thì ngân sách còn bao hàm các yếu tố động viên khác thoả mãn được nhu các nhu
cầu khác: nhu cầu về thành tựu, nhu cầu quyền lực, nhu cần trách nhiệm, sự tiến
bộ…
Khi tham gia một dự án, đó chính là khi nhà quản trị cho nhân viên cơ hội,
cơ hội để được công nhận nếu dự án thành công tốt đẹp, cơ hội để có sự tiến bộ,
phát triển và tạo cho nhân viên sự hứng thú với công việc, hình thành giá trị với
công việc (bởi khi chọn người tham gia dự án, nhà quản trị đã tuyển lựa những
người có niềm say mê và khả năng trong công việc). Đây cũng là các yếu tố dẫn
đến sự thoả mãn trong trong thuyết phòng ngừa động viên của F.Herzberg.
Thứ ba, động viên mọi nguồn lực trong doanh nghiệp là một tiêu chí
trong việc lập ngân sách. Liên hệ với cả việc hoạch định và động viên vào việc
thực hiện ngân sách thì chúng ta thấy giữa chúng có mối liên hệ mật thiết trong quá

hoạt động, giảm thiểu rủi ro, kiểm soát về mọi mặt nhằm mang lại lợi nhuận cao
nhất có thể. Trong đó, kiểm soát ngân sách chặt chẽ được xem là một trong những
giải pháp hữu nhất để quản lý dòng tiền.
Chúng ta không cần nêu lại định nghĩa về kiểm soát và so sánh giữa kiểm
soát và ngân sách bởi vì một trong những công cụ kiểm soát thì có ngân sách.
Ngân sách giống như là một kế hoạch hành động vì thực hiện ngân sách
toàn thể nhân viên hành động để đạt mục tiêu đã đề ra; ngân sách còn cho thấy
những nguồn lực nào trong doanh nghiệp sẽ được sử dụng và sử dụng như thế nào
để đạt được mục tiêu.
Ngân sách khác với kế hoạch hành động ở chỗ là ngân sách thể hiện các kết
quả dưới dạng kết quả tài chính. Và kiểm soát xảy ra khi so sánh những con số
thực tế với con số theo ngân sách đã được duyệt.
15
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
Kiểm soát thực hiện ngân sách là một công cụ quản lý hữu ích. Nó giúp các
nhà quản lý làm việc hiệu quả hơn mà không làm mất đi kĩ năng cá nhân hay sự
linh hoạt.
Kiểm soát phải là một quá trình chủ động. Bạn có thể đặt ra nhiều câu hỏi để
thấy sự cần thiết của việc kiểm soát thực hiện ngân sách của doanh nghiệp mình.
Một số câu hỏi có thể nên đặt ra, như: Chúng ta đã đạt được mục tiêu đề ra chưa?
Nếu không thực hiện được hạn mức chi tiêu hay mục tiêu đã đề ra thì tình hình sẽ
đi đến đâu và nguyên nhân là gì? Tôi có thể làm gì để nâng cao hiệu quả hoạt động
ở bộ phận tôi đang làm việc? Có nên điều chỉnh ngân sách do những phát sinh mới
không?
Việc kiểm soát sẽ được tăng cường nếu kết quả thực tế được theo dõi và đối
chiếu với các số liệu dự báo trong ngân sách. Từ đó, bạn sẽ có khả năng phát hiện
những khó khăn mới nảy sinh và đưa ra biện pháp đối phó kịp thời. Không có bảng
ngân sách nào là hoàn hảo cả. Những tình huống ngoài dự tính luôn xảy ra. Ví dụ
như đối thủ cạnh tranh bất ngờ tung ra thị trường một sản phẩm mới, thị trường sản
phẩm của bạn bị thu hẹp. Bất cứ một tình huống nào cũng có thể làm các số liệu dự

• Chủ động nguồn lực;
• Tiên đoán các rủi ro thông qua việc giả định các yếu tố thay đổi tác động
như thế nào đến doanh nghiệp;
• Tạo chuẩn để so sánh với các kết quả hoạt động của doanh nghiệp;
• Kiểm soát chi phí và đánh giá năng lực quản lý của cán bộ;
• Tạo động lực cho sự gắn bó với công việc của nhân viên thong qua ngân
sách về lương bổng;
• Đề cao tinh thần tập thể và cải thiện việc trao đổi thong tin
trong doanh nghiệp.
• Từ đây, chúng ta hoàn toàn đồng ý với quan điểm “Ngân sách
(Budget) bao hàm cả việc hoạh định, động viên, cũng như kiểm soát”.
4
. Theo />17
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
II. Vần đề 2
2.1 Đặt vấn đề
Câu 2: Bạn hãy quan sát các siêu thị tại TP HCM và thử xác định các khủng
hoảng có thể có tại một siêu thị nào đó và đề xuất cách giải quyết chúng.
Theo thực trạng phát triển của Việt Nam thì thành phố Hồ Chí Minh là một
trong những đô thị có tốc độ phát triển nhanh chóng, nơi đây cũng có đời sống
được đánh giá là cao so với mặt bằng chung của Việt Nam và trên thế giới, nên
ngày càng thu hút một khối lượng dồi dào nhân lực và vật lực từ các khu vực, vùng
miền trong nước nói riêng và thế giới nói chung về đây. Chính vì vậy mà nơi đây
chính là một trong những thị trường có nhu cầu tiêu thụ cao đáng kể và cũng là nơi
được các doanh nghiệp hàng hóa tiêu dùng chú ý đến.Thành phố Hồ Chí Minh có
hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đa dạng. Chợ Bến Thành là biểu tượng
về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan
trọng. Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đại xuất hiện
như Sai gon Trade Center, Diamond Plaza Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí
Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ

các siêu thị đại diện cho “Chợ Bến Thành hiện đại” xuất hiện khẳng định cho sự
hội nhập và phát triển của Việt Nam trong bối cảnh Thế giới đang trong đà phát
triển nhất trong các thể kỷ qua. Theo thống kê, Việt Nam có khoảng 142 siêu thị
lớn nhỏ cung cấp từ đa dạng các mặt hàng đến chỉ chuyên cung cấp một mặt hàng
như siêu thị điện máy, siêu thị kính thuốc, siêu thị điện thoại di động,…Vậy siêu
thị là một loại hình kinh doanh mới ở Việt Nam và hiện nay đang phổ biến ở Việt
Nam nói riêng và Thế giới nói chung. Nhưng siêu thị là gì?
Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại Việt
Nam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004
7
:
Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại; kinh doanh tổng hợp hoặc chuyên
doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảm chất
lượng; đáp ứng các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật và
trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh,
thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng
Liệu siêu thị đã được biết đến một cách đầy đủ và chính xác, hay vẫn bị gắn ghép
như là một “Cái chợ hiện đại” ở đó cũng như chợ truyền thống chỉ khác là cơ sở
hiện đại hơn.Và dù đang hoạt động mạnh mẽ liệu nó có đang có những dấu hiệu
khủng hoảng mà chợ truyền thống không gặp phải?
6

7
Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại
19
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
2.2 Lý thuyết liên quan
Khủng hoảng là tình trạng khẩn cấp, rối loạn, mất cân bằng nghiêm trọng, có
khả năng gây tác hại về mặt tài chính cho tổ chức và có thể hủy hoại uy tín của tổ
chức, đòi hỏi phải hành động kịp thời, phải hao tốn nhiều thời gian, tiền bạc thì

nổ bình Gas, các đường ống
dẫn khí )
-Ô nhiễm môi trường
( nguồn nước bị nhiễm các
chất độc như chì, kẽm làm
điêu đứng, đình truệ các hoạt
động kinh doanh, ngoài ra
còn nhiều loại ô nhiễm khác
nữa )
-Hư hỏng thiết bị điện tử
( do vi phạm chất lượng, quy
cách trong sản phẩm đặt
Bên
ngoài
20
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
-Hệ thống máy tính siêu thị
bị lỗi( chưa kịp nâng cấp,
đầu tư sau quá trình sữ dụng
lâu dài, )
-Thông tin siêu thị bị bóp
méo( các nhân viên chưa có
thiện cảm với tổ chức hay
nói xấu, phao vu, bịa đặt về
các lỗi trong sản phẩm để
hạn chế việc kinh doanh của
doanh nghiệp siêu thị
-Phá sản( tình trạng phá sản
là tình trạng khủng hoảng
chung cho mọi doanh

Trung quốc đang gặp phải)
Con người, xã hội, tổ chức

Khi một đợt khủng hoảng xảy ra cần phải được kiểm soát và quản trị ngay lập
tức, mục đích là để:
• Kiểm soát được khủng hoảng phát sinh trong một hệ thống siêu thị.
• Giảm thiểu, ngăn chặn những tác động tiêu cực do khủng hoảng gây ra cho
siêu thị.
21
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
• Bảo vệ uy tín và hình ảnh của doanh nghiệp siêu thị.
• Tìm biện pháp biến nguy cơ thành cơ hội, tận dung triệt để các cơ hội, nhằm
đem lại thành công cho hệ thống siêu thị.
 Các giai đoạn của quản trị khủng hoảng là:
1. Giai đoạn nhận biết
Bất cứ khủng hoảng tiềm ẩn nào cũng phát ra những tín hiệu đặc biệ, vấn đế
các quản lý, lãnh đạo siêu thị có nhận ra và nhanh chóng khắc phục được
trong giai đoạn tiền khủng hoảng đó hay không.
2. Giai đoạn chuẩn bị, phòng ngừa
- lập ban quản trị khủng hoảng
- lập kế hoạch quả trị khủng hoảng
- lập các phương án ngăn chặn, đối phó
- chuẩn bị trang thiết bị cần thiết
- tổ chức đào tạo, huấn luyện cho nhân viên.
3. Giai đoạn ngăn chặn tổn thất
- Cô lập -> cắt bỏ -> Giảm thiểu -> phân tán -> vô hiệu hóa
4. Giai đoạn phục hồi.
- Vị trí sản xuất dự phòng
- Hệ thống thông tin liên lạc dự phòng
- Các điều kiện sản xuất khác

cách giải quyết khủng hoảng của người xưa để áp lên cho doanh nghiệp hiện đại
ngày nay. Cần phải được chắc lọc, vận dụng sáng tạo, khoa học, hợp lý và biến đổi
hài hòa trong thực trạng hiện tại của doanh nghiệp.
2.3 Giải quyết vấn đề
Dưới đây là một số loại khủng hoảng điển hình, qua sự tìm toài trên thông tin
đại chúng, tham khảo các tài liệu sách báo, các kinh nghiệm được đúc kết nhằm
khắc phục khủng hoảng của các doanh nghiệp hiện hành cũng như phần lớn các ý
kiến chủ quan trong quá trình tư duy và tìm tòi. Nhận thấy sẽ có những sai sót
không đáng có trong cách giải quyết các vấn đề khủng hoảng được trình bày dưới
đây nhưng: “Trong cuộc sống không ai là không có sai lầm, sai lầm nhưng biết
cách sửa chữa mới là hay”. Mới đem lại đổi mới cho doanh nghiệp và giúp phát
triển tổ chức.mới đem lại sự thành công cho bản thân trong quá trình tìm toài,
nghiên cứu trong quá trình phục vụ công động nói riêng và cho nhân loại nói
chung.
 Khủng hoảng do thiên tai gây ra.
Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt nam nói chung đều chịu ảnh hưởng
mạnh bởi kiểu thời tiết đặc trưng nhiệt đới gió mùa, mang lại cho thành phố và
khắp cả nước hai mùa nắng mưa rõ rệt. Thời tiết cũng là một trong những tác nhân
gây khủng hoảng cho hệ thống hoạt động của siêu thị. Nếu như trời nắng thì
thường các hệ thống siêu thị hoạt động bình thường, nếu tác động thì chỉ tăng công
suất điều hòa lên và do đó làm tăng chi phí kinh doanh hơn so với những ngày mát
mẻ thông thường. Điều đó cũng không làm cho siêu thị lâm vào tình trạng khủng
hoảng được. Nhưng với mùa mưa thì khác, nếu như trời mưa lại theo kiểu đặc
trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa mưa kéo dài và lượng mưa cao kết
hợp triều cường sẽ làm cho hệ thống giao thông của thành phố bị quá tải, các cung
23
Phan Ngọc Thảo – Nguyễn Thái Sơn – Võ Hoàng Thiên Lộc [Nhóm 29]
đường bị chìm ngập trong nước, làm cho các phương tiện giao thông khó khăn
trong lưu thông, mà một phần trong số đó chính là các khách hàng của hệ thống
siêu thị. Điều đó làm giảm đi một lượng hành khách đến với siêu thị khi mà họ

đầu của các hệ thống doanh nghiệp siêu thị. Nếu như thiệt hại do thời tiết làm cho
siêu thị giảm đáng kể hoạt động doanh nghiệp thì khủng hoảng do tai nạn, cháy nổ
trong phút chốc sẽ làm tê liệt hoạt động, gây ra thiệt hại toàn bộ hoặc phần lớn cơ
sở vật chất và làm thiệt hại một lượng lớn về người và của khiến cho doanh nghiệp
ngay lập tức lâm vào tình trạng khủng hoảng và thậm chí là phá sản nhưng chỉ
trong một thời gian ngắn. Theo các báo điện tử Vnexpress, Vietbao, Saigonnews
đưa tin thì, “Vào lúc 23 giờ 10 phút ngày 19/8 tại siêu thị Bách khoa Computer số
247 Lý Thường Kiệt, phường 15, quận 11 – TPHCM đột nhiên phát hoả. Đám
cháy được dập tắt nhưng nhiều máy tính, điện thoại, thiết bị số và nhiều vật dụng
có giá trị khác tại tầng trệt với diện tích 50m2 đã bị thiêu rụi hoàn toàn. Ước tính
thiệt hại gần 5 tỷ đồng.”
9
Đây là một hồi chuông cảnh báo cho các doanh nghiệp siêu thị về tình trạng yếu
kém trong lĩnh vực PCCC, phòng ngừa các tai nạn cháy nổ bất ngờ. Nếu như ta
đang mua sắm ở một gian hàng sầm uất nào đó, khi có hỏa hoạn bất ngờ sẽ làm
cho khách hàng lúng túng, họ có thể bị kích động, dẫm đạp lên nhau để thoát thân,
nếu không có các lối thoát hiểm phòng trường hợp khẩn cấp, các bình chữa cháy
được để sẳn để dập tắt đám cháy thì thiệt hại sẽ lớn hơn rất nhiều. Cho dù ngay sau
đó, sự cố có được khắc phục thì tâm lý khách hàng lúc này cũng vẫn vô cùng
hoang mang, sợ hãi. Sự hoang mang, sợ hãi này như một dấu ấn tâm lí không tốt
đối với họ, họ sẽ không quay lại siêu thị nữa. Không những thế, nếu như sự việc
trên phổ biến rộng rãi thì lúc đó siêu thị sẽ phải đối đầu với nguy cơ mất khách
hàng. Như vậy, nếu không có các biện pháp phòng ngừa để khắc phục kịp thời các
tai nạn thì sẽ khiến cho doanh nghiệp lâm vào tịnh trạng khủng hoàng.
Nên có có chương trình diễn tập PCCC cho các nhân viên, cán bộ thuộc các hệ
thống siêu thị, theo đó nhân viên, cán bộ được tiếp cận với một trường hợp khủng
hoảng giả và được chuẩn bị tinh thần để nhanh chóng đối phó với các tai nạn về
cháy nổ. Sự diễn tập có nhiều tác dụng tích cực trong việc đối phó với các tai nạn
cháy nổ như giúp cho các nhân viên phối hợp nhịp nhàng với nhau và với các cơ
quan chức năng để hạn chế tối đa thiệt hại do tai nạn cháy nổ gây ra. Giúp kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status