-Luận văn
Thực trạng và một số giải
pháp về điều chỉnh dân số,
lao động và tạo việc làm cho
người lao động ở huyện
Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn M¹nh TiÕn
LỜI NÓI
ĐẦU
Xuất
phát
điểm
của
nền
kinh
tế
Việt
nam
rất
thấp,
nước
ta lại
là một
nước đông
dân với tốc
độ tăng dân
số vào loại
cao nhất trên
thế giới. Vì
vậy
việc tận
người lao động thấp, mất cân đối lớn cả về cơ cấu kinh tế
và cơ cấu lao động,
sức chứa lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đã quá tải,
tỷ lệ thiếu việc làm
của người lao động cao đã tạo ra một áp lực rất lớn tới
vấn đề giải quyết việc
làm cho người lao động của huyện.
Trong thời gian thực tập ở huyện Lập Thạch, tỉnh
Vĩnh Phúc, tôi đã
nhận thấy vấn đề biến động dân số, lao động và việc làm
đang mang tính thời
sự vừa cấp bách vừa lâu dài có ảnh hưởng sâu sắc tới quá
trình phát triển kinh
tế - xã hội của huyện. Do đó cần thiết và sớm phải có
một sự xem xét, đánh
giá một cách trung thực đầy đủ và khoa học vấn đề nói
trên từ đó đưa ra các
giải pháp cụ thể nhằm phát huy những thành tựu đã đạt
được và từng bước
giải quyết những vấn đề tồn đọng nói trên để tạo điều
kiện phát triển kinh tế -
xã hội ở huyện. Vì vậy tôi đã chọn đề tài: "Phân tích
biến động dân số, lao
động và
việc làm ở
huyện Lập
Thạch
trong giai
đoạn hiện
nay" làm
và việc làm
ở huyện
L
ậ
p
T
h
ạ
c
h
tr
o
n
g
gi
ai
đ
o
ạ
n
hi
ệ
n
n
a
y.
Phần III:
Giải pháp
về điều
chỉnh dân
PHẦN I
CƠ SỞ
LÝ
LUẬN
VỀ BIẾN
ĐỘNG
DÂN SỐ,
LAO
ĐỘNG
VÀ
VIỆC LÀM
I. CÁC KHÁI
NIỆM CƠ
BẢN VỀ
DÂN SỐ VÀ
SỰ BIẾN
ĐỘNG CỦA
DÂN SỐ
1.Quy mô
và cơ cấu
dân số.
1.1.Quy
mô: Được
hiểu là tổng
số người
sinh sống
trong một
lãnh thổ
nhất
định, trong
P
f
lần lượt là dân
số nam và dân số nữ
thì tỷ số giới tính (SR) được xác định như sau:
SR=
P
m
P
f
x 100
- Cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn: Là
việc chia tổng dân số
của một lãnh thổ thành dân số cư trú ở thành thị và dân
số cư trú ở nông thôn
thì ta được cơ cấu dân số theo thành thị và nông thôn.
Có rất nhiều tiêu thức khác nhau để phân chia tổng
dân số, mỗi tiêu
thức phục vụ cho một lợi ích nghiên cứu khác nhau và có
ý nghĩa vô cùng to
lớn trong việc phân tích, đánh giá và điều chỉnh quá trình
dân số theo hướng
có lợi cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội lâu dài và
ổn định.
Khoa: Kinh tÕ lao ®éng vµ d©n sè
3
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn M¹nh TiÕn
2. Các quá
trình dân số
động một
cách có
khoa học
vào sự vận
động có ý
nghĩa
to lớn tới sự
phát triển
của xã hội loài người.
2.1. Mức sinh và các thước đo đánh giá mức sinh.
- Mức sinh: Phản ánh mức độ sinh sản của dân số,
nó biểu thị số trẻ em
sinh sống mà một phụ nữ có được trong suốt cuộc đời
sinh sản của mình. Mức
sinh phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố sinh học, tự
nhiên và xã hội (Sự sinh
sống là sự kiện đứa trẻ tách khỏi cơ thể mẹ và có dấu
hiệu của sự sống như
hơi thở, tim đập, cuống rốn rung động hoặc những cử
động tự nhiên của bắp
thịt.
- Các thước đo cơ bản: Để đánh giá mức sinh có
rất nhiều thước đo
khác nhau và mỗi thước đo đều chứa đựng những ưu
điểm riêng biệt. Sau đây
là một số thước đo cơ bản.
+Tỷ suất sinh thô (CBR): Biểu thị số trẻ em sinh
ra trong một năm so
với 1000 dân số trung bình năm đó.
CBR =
®éng
vµ
d©n
sè
4
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn M¹nh TiÕn
phân bố
mức độ sinh
của các tuổi
trong thời
kỳ sinh sản
của phụ nữ,
tình trạng
hôn nhân.
+ Tỷ
suất
sinh
chung
: Biểu
thị số
trẻ em
sinh
ra
trong
một
năm
so với
một nghìn
phụ nữ trong
độ tuổi có
+ Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi: Đối với các độ
tuổi khác nhau , mức
sinh đẻ của phụ nữ cũng khác nhau. Do vậy cần xác định
mức sinh theo từng
độ tuổi của phụ nữ.
Công thức:
ASFR
=
B
FX
W
x
x 1000
Trong đó:
ASFR
X
: Tỷ suất sinh đặc trưng của phụ nữ ở độ
tuổi X
B
FX
: Số trẻ em sinh ra trong một năm của những
phụ nữ ở độ tuổi X
W
X
: Số phụ nữ ở độ tuổi X trong năm.
Để xác định được ASFR
X
cần có hệ thống số liệu
chi tiết, hơn nữa mặc
dù mức sinh ở các độ tuổi khác nhau là khác nhau, nhưng
tái
sản
xuất
dân số, là
hiện tượng
tự nhiên,
không thể
tránh khỏi
đối với mỗi
con người.
Nếu loại bỏ
sự biến động
cơ học, tăng
tự nhiên dân
số bằng hiệu
số sinh và số
chết. Vì vậy,
việc tăng
hay giảm số
sinh hoặc số
chết đều làm
thay đổi quy
mô, cơ cấu
và tốc độ
tăng tự nhiên của dân số. Đồng thời trong quá trình tái
sản xuất dân số, các yếu tố sinh và chết có mối quan hệ
tác động qua lại lẫn
nhau. Sinh đẻ nhiều hay ít, mau hay thưa, sớm hay muộn
đều có thể làm tăng
hoặc giảm mức chết. Ngược lại mức chết cao hay thấp sẽ
đó.
_
P
: Dân số trung bình trong năm của lãnh thổ đó.
Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán, xác định nó
không cần lượng thông
tin nhiều, và phức tạp do đó nó được sử dụng rộng rãi
trong các án
phẩm quốc
gia và quốc
tế nhằm
đánh giá
một cách
tổng quát
mức độ chết
của dân cư
giữa
các nước,
các thời kỳ.
Trực tiếp
tính toán tỷ
suất gia tăng
tự nhiên.
Khoa:
Kinh
tÕ lao
®éng
vµ
d©n
sè
khác nhau
không
phản ánh
chính xác
mức độ chết
của dân cư
vì sự khác
biệt giữa cơ
cấu giới
và cơ cấu
tuổi. Để
khắc phục
người ta
dụng biện
pháp chuẩn hoá; đó là việc
biến các tỷ suất chết thô có cấu trúc tuổi và giới khác
nhau thành các tỷ suất
chết tương ứng có cấu trúc tuổi và giới giống nhau để so
sánh.
Tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi (ASDR
X
): Biểu
thị số người chết trong
năm ở một độ tuổi nào đó so với 1000 nghìn người trung
bình ở độ tuổi đó
trong năm tại một nơi nào đó.
Công thức:
ASDR
=
D
này có ảnh hưởng to lớn tới mức độ chết chung, đến tuổi
thọ bình quân và có
tác động qua lại với mức sinh.
Công thức:
IMR =
D
o
B
x 1000
Trong
đó:
IMR:
Tỷ
suất
chết
của
trẻ em
dưới
1
tuổi.
Khoa:
Kinh
tÕ lao
®éng
vµ
d©n
sè
7
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn M¹nh TiÕn
hai bộ
phận
chủ
yếu
tương
đối riêng
biệt: biến
động tự
nhiên và
biến động cơ học. Biến động tự nhiên
mô tả sự thay đổi dân số gắn liền với sự ra đời, tồn tại và
mất đi của con
người theo thời gian. Quá trình này trong dân số học chủ
yếu thông qua các
hiện tượng sinh và chết. Khác với biến động tự nhiên,
biến động cơ học biểu
thị sự thay đổi dân số về mặt không gian, lãnh thổ. Trong
cuộc sống con
người di dời bởi nhiều nguyên nhân, với nhiều mục đích
khác nhau, với
khoảng cách xa gần khác nhau và vào những thời điểm
khác nhau. Quá trình
này chịu tác động bởi nhiều những nhân tố kinh tế, chính
trị, xã hội do vậy nó
mang bản chất kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc. Đây
chính là đặc điểm mấu
chốt phân biệt hai bộ phận biến đông dân số nêu trên.
Vậy di dân là gì ? Có rất nhiều định nghĩa về di
dân, mỗi định nghĩa
xuất páht từ những mục đích nghiên cứu khác nhau, do
trú là
tiêu thức để
xác định di
dân. Thứ ba,
khoảng thời
gian ở lại
bao lâu ở
nơi mới
để xác định
sự di chuyển
nào đó có
phải là di
dân hay
không.
-
Phân
loại di
dân:
Khoa:
Kinh
tÕ lao
®éng
vµ
d©n
sè
8
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn M¹nh TiÕn
+
Theo
độ
thành phần
này thường
không trở về
quê hương
nơi cư trú.
Di
dân tạm thời
ngụ ý sự
thay đổi nơi
ở gốc là không lâu dài và khả năng quay
trở lại nơi ở cũ là chắc chắn. Kiểu di dân này bao gồm
những hình thức di
chuyển nơi làm việc theo mùa vụ, đi công tác, du lịch dài
ngày Di dân
chuyển tiếp phân biệt các hình thức di dân mà không
thay đổi nơi làm việc.
Kiểu di dân này gợi ý các điều tiết thị trường lao động.
+ Theo khoảng cách người ta phân biệt di dân xa
hay gần giữa nơi đi và
nơi đến. Di dân giữa các nước gọi là di dân quốc tế; giữa
các vùng, các đơn vị
hành chính trong nước thì gọi là di dân nội địa.
+ Theo tính chất chuyên quyền người ta phân biệt
di dân hợp pháp hay
di dân bất hợp pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân
tình nguyện hay bất
buộc. Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của chính quyền
trung ương hay địa
phương mà người ta phân biệt di dân theo loại này hay
loại khác.
và
P
t + n
Tổng số di dân ở các thời điểm t và t+n
B và D: Tổng số sinh và chết của khoảng t đến
t+n.
Nếu
chỉ
biết tỷ
lệ
tăng
dân
số
chung
(r) và
tỷ lệ
tăng
tự
nhiên
của
dân
số
(NIR). Ta
có thể tính
được tỷ lệ
di dân
thuần tuý
(NMR):
NMR = r -
NIR
trong số
người sống
ở độ tuổi "x"
từ thời đểm t
đến t+n.
NM
P
3. Các yếu
tố ảnh
hưởng đến
quá trình
dân số
Quy
mô
dân
số
thườn
g
xuyên
vận
động
theo
thời gian. Nó có thể tăng
hoặc giảm tuỳ theo các chuyền hướng biến động của các
nhân tố sinh, chết và
di dân. Tức là, nếu như ở một vùng nào đó trong một
thời điểm xác định nào
đó mà mức sinh và nhập cư cao hơn mức chết và xuất cư
thì quy mô dân số ở
vùng đó tăng trong thời gian đó và ngược lại, nó sẽ gảim
của thời kỳ
này là
mức độ chết
giảm rất
nhanh chóng
trong khi tỷ
lệ sinh lại
không giảm
một
cách tương
ứng đã dẫn
đến quy mô
dân số của
toàn cầu
tăng quá
nhanh. Việc
gia tăng dân
số quá
nhanh như
vậy là mối
đe doạ quá
trình phát
triển kinh tế
và xã hội.
Khoa:
Kinh
tÕ lao
®éng
vµ
d©n
Tác động
của mức
chết có hai
mặt: Vừa
thay đổi sự
phát
triển của dân
số vừa thay
đổi mức
sinh. Chết
nhiều dù bất
cứ nguyên
nhân nào
đều buộc
con người
sinh bù để thay thế sự mất mát hay giảm sự rủi ro. Lịc sử
phát triển dân số cho hay cứ sau một cuộc chiến tranh lại
có một cuộc bùng
nổ dân số, dường như mức sinh tăng lên một cách chóng
mặt để bù lại sự mất
mát vè người sau chiến tranh và tạo ra một trào lưu sau
đó. Mức chết của trẻ
em nói chung và mức chết của trẻ em sơ sinh nói riêng
cao sẽ gây ra một tâm
lý "sinh bù", "sinh dự trữ" hay "sinh đề phòng" để đảm
bảo ssó con mong
muốn trong thực tế.
3.3 Ảnh hưởng của di dân đến biến động dân số
Người ta thấy ngay được rằng di dân tác động trực
tiếp đến quy mô dân
quốc gia
khác nhau là
khác nhau.
Khoa:
Kinh
tÕ lao
®éng
vµ
d©n
sè
11
LuËn v¨n tèt nghiÖp NguyÔn M¹nh TiÕn
II. CÁC
KHÁI NIỆM
CƠ BẢN VỀ
LAO ĐỘNG
VÀ VIỆC
LÀM
1. Một số
khái niệm
và phạm
trù có liên
quan.
Ngườ
i lao
động
là lực
lượng
về
con
Nguồn lao động được xem xét trên hai góc độ số
lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn lao động được biểu hiện thông
qua các chỉ tiêu như
quy mô và tốc độ phát triển nguồn lao động
Chất lượng nguồn lao động được xem xét trên các
mặt: Sức khoẻ, trình
độ văn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.
2. Phương pháp xác định nguồn lao động
Việc xác điịnh quy mô, cơ cấu nguồn lao động
được thực hiện thông
qua các cuộc tổng điều tra dân số hoặc điều tra thực
trạng lao động và việc
làm hàng năm. Phương pháp xác định cũng được quy
định cụ thể và áp dụng
cho từng thời kỳ.
2.1. Dân số trong độ tuổi lao động.
Để có thể sống và phát triển, con người phải tiêu
dùng một lượng của
cải nhất định dưới nhiều dạng như: lương thực, thực
phẩm, vải vóc, nhà cửa,
phương tiện thông tin liên lạc những tư liệu sinh hoạt
này không phải là quà
tặng của tự nhiên mà ro con người sáng tạo ra thông qua
quá trình lao động.
Tuy vậy không phải toàn bộ dân số tham gia vào quá
trình sản xuất mà chỉ
một bộ phận có đủ sức khoẻ và trí tuệ mà thôi. Khả năng
đó chỉ gắn với một
giới hạn tuổi nhất định, gọi là "độ tuổi lao động". Một số
Khoa:
Kinh
tÕ lao
®éng
vµ
d©n
sè
12