PHẦN 1: CÁC QUAN ĐIỂM VỀ VAI TRÒ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
1. Tự do kinh tế
Trong các trường phái kinh tế chính trị trong lịch sử thì có trường phái KTCT
TSCĐ và Tphái Tự do mới là ủng hộ cơ chế tự do kinh tế.
I. Trường phái TSCĐ:
Xuất hiện vào cuối TK 18, vào thời kỳ này sau khi tích luỹ được khối lượng tiền tệ
lớn, giai cấp tư sản tập trung phát triển lĩnh vực sản xuất, các công trường phát
triển mạnh, ra đời CNTB.
Nhìn một cách khách quan, các nhà kinh tế học thời kỳ này ủng hộ tư tưởng tự do
kinh tế * Trong giai đoạn ban đầu của TP TSCĐ:
W.Petty (1623 – 1678): là một trong những người sáng lập ra học thuyết KTCĐ ở
Anh. Là người áp dụng phương pháp mới trong nghiên cứu khoa học, được gọi là
phương pháp KH tự nhiên. Về bản chất đó là phương pháp nghiên cứu thừa nhận
và tôn trọng các quy luật khách quan, vạch ra mối liên hệ phụ thuộc nhân quả giữa
các sự vật hiện tượng. Theo ông trong chính sách và trong kinh tế phải tính đến
những quá trình tự nhiên, không nên dùng hành động cưỡcg bức để chống lại quá
trình đó. Đây là mầm mống của tư tưởng tự do cạnh tranh.
* TSCĐ ở Pháp: trường phái trọng nông: Do chính sách của Bộ trưởng BTC Pháp
J.B.Colbert mà nền nông nghiệp Pháp suy sụp. Trường phải trọng nông ra đời và
trường phái này cũng ủng hộ tư tưởng tự do kinh tế. Nổi bật trong lý luận về
“Quyền tự nhiên” của Fransoiis Quesnay. Trong một bài luận, ông đã phân biiệt
quyền tự nhiên và quyền theo pháp luật. Theo ông “tất cả mọi người và mọi lĩnh
vực của loài người được gọi là quy luật tự nhiên, phụ thuộc vào quy luật tối cao
này, do bản thể tối cao ấn định ra. Nhưnggx quy luật này bất di bất dịch và nhìn
chung chúng là những quy luật tố nhất có thể tồn tại. Cơ sở của mọi sự cầm quyền
tốt nhất là quy tắc chủ yếu của tất cả các đạo luật tích cực, bỏi vì các qluật tích cực
không phải là một cái j khác, ngoìa quy luật cầm quyền có liên quan đến trật tự tự
nhiên có lợi nhất cho loài người”. Họ hướng về tự do kinh tế , coi đó là môi trường
thuận lợi cho sự phát triển.
*Trong giai đoạn phát triển của TP TSCĐ: tư tưởng tự do kinh tế được thể hiện
vệ an ninh – chính trị, đảm bảo sự ổn định cho quá trình tạo gia giá trị, song cũng
cho rằng Nhà nước phải là người tạo ra CSHT, hỗ trợ cho SX.
• Sismondi (1773 – 1842):
Qtrình phát triiển tư tưởng kiknh tế của ông chia làm 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu: ủng hộ A.Smith, vdụ trong ‘Bàn về TS thương nghiệp’ ông ủng
hộ quan điểm của A.Smith về tự do kinh tế, không có sự can thiệp của nhà nước.
+ GĐ sau: do phát triển của CM CNghiepẹ làm cho những tệ nạn của nền KTTT
càng trầm trọng thì ông phê phán TBCN và các quan điểm của phái cổ điển. Theo
ông ‘đối tượng của KTCT học là phúc lợi vật chất của con người do Nhà nước
quyết định’.
** Trường phái Cổ điển mới:
Cuối TK19 - đầu TK20, những mâu thuẫn vốn có và những khó khăn về kinh tế
của CNTB ngày càng trầm trọng. Khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp càng làm tăng
thêm mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản.
Việc chuyển biến mạnh mẽ của CNTB tự do cạnh tranh sang CNTB độc quyền ở
các nước tư bản phát triển đã làm nảy sinh nhiều hiện tượng kinh tế xã hội mới, đòi
hỏi phải có sự phân tích kinh tế mới. Một sự kiện đó là sự xuất hiện chủ nghĩa
Marx và nó trở thành đối tượng phê phán mạnh của các nhà kinh tế học tư sản.
Trước bối cảnh đó, các học thuyết kinh tế của trường phái tư sản cổ điển tỏ ra bất
lực trong việc bảo vệc chủ nghĩa tư bản. Vì vậy, đòi hỏi phải có những học thuyết
kinh tế mới thay thế. Nhiều trường phái kinh tế chính trị học tư sản xuất hiện để
phân tích nền kinh tế thị trường, trong đó, trường phái “Cổ điển mới” đóng vai trò
quan trọng.
Trường phái Cổ điển mới dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện
tượng và quá trình kinh tế - xã hội. Đối lập với trường phái tư sản cổ điển và
K.Marx, trường phái Cổ điển mới ủng hộ thuyết giá trị chủ quan. Theo thuyết này,
cùng một hàng hoá với người cần nó, hay ích lợi nhiều thì giá trị của hàng hoá sẽ
lớn và ngược lại, với người không cần nó, hay ích lợi ít thì giá trị hàng hoá sẽ thấp.
Cổ điển mới phát triển ở nhiều nước, như trường phái giới hạn thành Vience,
truờng phái giới hạn ở Mỹ, trường phái Cambridge ở Anh, … Thời kỳ đầu, cuối
bảo vệ quyền tự do hoạt động và trách nhiệm của doanh nghiệp. Theo họ, nền kinh
tế tư bản chủ nghĩa thường xuyên ở trạng thái cân bằng động. Đó là hệ thống tự
điều chính, hoạt động dựa vào các quy luật kinh tế vốn có của nó. Do đó, cần phải
dựa vào thị trường, nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế.
Học thuyết về nền KTTT XH ở Choà LB Đức:
Sau Chiến tranh TG2, các nhà kinh tế học ở Đức cho rằng, về lý thuyết cũng như
thực tiễn, sự điều tiết độc tài, phát xít dựa trên cơ sở lý thuyết CNTB có điều tiết
không mang lại hiệu quả cho nền kinh tế. Họ phê phán chủ nghĩa độc tài dân tộc,
kinh tế chỉ huy và ủng hộ mạnh mẽ quan điểm tự do: sức mạnh tự do, KTTT tự do,
con đường thứ ba, KTTT XH,… Các đại biểu của CN tự do mới ở CH LB Đức
như W.Euskens, W.Ropke, Muller, … đã đưa ra nhiều tư tưởng kinh tế nhằm khôi
phục lại CN tự do. Trong số đó chú ý lý thuyết về nền KTTT XH của Muller –
Armack là rất đáng chú ý.
Quan điiểm của phái này là nền KTTT XH kết hợp nguyên tắc tự do với nguyên
tắc công bằng xã hội trên thị trường. Họ đề nghị nhà nước chỉ can thiệp ở mức độ
tối thiểu, còn chủ yếu là để cho chính nền kinh tế tự thân vận động. Nguyên tắc tự
do và nguyên tắc công bằng xã hội được kết hợp lại một cách chặt chẽ trong khuôn
khổ mục tiêu của nền KTTT XH. Mục tiêu đó thể hiện ở chỗ, một mặt nhằm
khuyến khích và động viên những động lực do sáng kiến cá nhân để đảm bảo lợi
ích của nền kinh tế, mặt khác nó cố gắng loại trừ những hiện tượng tiêu cực, khi
điều kiện cho phép, víi dụ, sự nghèo khổ một số tầng lớp nhân dân, lạm phát và
thất nghiệp.
Nguyên tắc thị trường tự do phải dựa trên quan điểm cho rằng, các quyết định kinh
tế và chính trị phải nhằm phục vụ lợi ích của cá nhân và gia đình họ, vì thế nó phải
do những người tiêu dùng và các công dân đề ra. Tóm lại, nguyên tắc đảm bảo
quyền tự chủ của người tiêu dùng và công dân phải chiếm địa vị thống trị.
2. Mô hình Nhà nước can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế
Mô hình Nhà nước can thiệp chủ yếu vào nền kinh tế
I) Học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương
1) Hoàn cảnh ra đời ( 1450 – 1650 )
thành phẩm
+ Thực hiện thương mại trung gian, mang tiền ra nước ngoài để mua rẻ ở nước này
bán đắt ở nước khác
+ Thực hiện chính sách thuế quan, bảo hộ nhằm kiểm soát hàng nhập khẩu, khuyến
khích phát triển sản xuất hàng nhập khẩu
Đóng góp :
- Chính sách kinh tế của Nhà nước tư sản như thuế quan bảo hộ có tác dụng
rút ngắn quá độ từ chủ nghĩa phong kiến sang CNTB
- Tư tưởng Nhà nước can thiệp vào kinh tế được kinh tế học tư sản hiện đại
vận dụng.
II) Học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển
Đại biểu : Sismondi ( 1773 – 1842 )
1) Hoàn cảnh : Sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ làm cho tệ nạn
của kinh tế thị trường trầm trọng : khủng hoảng, thất nghiệp, nạn đói
2) Nội dung :
- Theo ông, “Đối tượng của kinh tế chính trị là phúc lợi vật chất của con
người do Nhà nước quyết định “
- Yêu cầu Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế nhằm bảo vệ trật tự xã hội, bảo
vệ “ người thứ 3 “ không cho phép tập trung sản xuất, tập trung sự giàu có,
duy trì các phân xưởng thủ công, chế độ tư hữu ruộng đất nhỏ, thực hiện
chính sách thuế quan bảo hộ
- Ông coi Nhà nước tư sản biểu hiện lợi ích của tất cả các giai cấp. Ông phủ
nhận tính giai cấp của Nhà nước. Theo ông, Nhà nước tư sản đối lập với sản
xuất lớn. Nó có thể đạt lợi ích chung, sự hài hoà xã hội và phúc lợi chung.
Đóng góp : Là cơ sở và tiền đề cho Mác kế thừa và phát triển.
III) Mac – Lê nin
1)Vai trò của Nhà nước trong giai đoạn CNTB độc quyền Nhà nước
Hoàn cảnh : Các tổ chức độc quyền không chỉ thống trị trong lĩnh vực sản xuất
mà cả lĩnh vực ngân hàng với tư bản lũng đoạn công nghiệp hình thành nên loại
tư bản mới đó là tư bản tài chính
3. Nền kinh tế hỗn hợp
Trường phái chính hiện đại ra đời và phát triển từ những năm 60-70 của thế
kỷ XX ở các nước tư bản phát triển, có ảnh hưởng sâu rộng tới chính sách kinh tế
của các nước cũng như hoạt động của các chủ DN trong nền kinh tế thị trường.
Học thuyết Keynes có những tác dụng nhất định trong việc khắc phục tình
trạng khủng hoảng kinh tế nhưng do quá nhấn mạnh vai trò điều tiết của Nhà nước
bỏ qua vai trò của thị trường nên đã làm nảy sinh những vấn đề kinh tế mới không
thể giải quyết được như khủng hoảng kinh tế, đình trệ, suy thoái, thất nghiệp.
Những người thuộc trường phái “tự do mới”, mặc dù đã phê phán lý thuyết
Keynes nhưng do phát triển trên cơ sở chủ nghĩa tự do kinh tế nên đã đề cao quá
sức mạnh điều tiết của thị trường, xem nhẹ vai trò kinh tế của Nhà nước. Có những
thất bại mà bản thân thị trường không thể giải quyết được Đó chính là điều kiện
cho sự ra đời của trường phái chính hiện đại với lý thuyết tiêu biểu về nền “kinh tế
hỗn hợp”.
Mầm mống của lý thuyết nền “kinh tế hỗn hợp” đã xuất hiện từ cuối những
năm 30 của thế kỷ XIX. Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, nó được các nhà kinh tế
học như A. Hasen tiếp tục nghiên cứu và được Samuelson phát triển trong tác
phẩm “kinh tế học” của ông.
Nếu các nhà kinh tế học thuộc trường phái “cổ điển” và “tân cổ điển” say
sưa với “bàn tay vô hình” tức là tuyệt đối hoá vai trò tự điều tiết của cơ chế thị
trường, Keynes với “bàn tay hữu hình” tức là cơ chế điều tiết của Nhà nước thì
Samuelson lại chủ trương phát triển nền kinh tế phải dựa vào cả hai bàn tay tức là
cơ chế thị trường và Nhà nước. Ông cho rằng “cả thị trường và Chính phủ đều cần
thiết cho một nền kinh tế vận hành lành mạnh”.
Để đối phó với những khuyết tật của cơ chế thị trường (CCTT), các nềnkinh
tế hiện đại đã phối hợp giữa bàn tay vô hình của thị trường và bàn tay hữu hình của
Chính phủ. Chính phủ có bốn chức năng trong nền kinh tế thị trường (KTTT) đó
là:
1) Thiết lập khuôn khổ Pháp luật: Chính phủ phải đề ra các nguyên
tắc trò chơi kinh tế mà các DN, người tiêu ding và bản thân chính
đến sản lượng, việc làm giá cả của nền kinh tế. Tuy vậy, không một nước
nào vừa có tự do kinh doanh, vừa có lạm phát thấp và đầy đủ công ăn việc
làm.
AD= C + I + G + X - IM
Trong đó C: tiêu dùng của các hộ gia đình
I: Đầu tư
G: Chi tiêu của Chính phủ
X: Xuất khẩu
IM: Nhập khẩu
IS: cho biết trạng thái cân bằng của thị trường hàng hoá với các tổ hợp (i,Y)
khác nhau ( Y là thu nhập, I là lãi suát)
LM: cho biết trạng thái cân bằng của thị trường tiền tệ cũng với tổ hợp này.
Tăng chi tiêu của Chính phủ làm thu nhập tăng từ Y1 đến Y2, lãi suất tăng từ i1
đến i2. Tương tự đối với việc Chính phủ giảm thuế.
Chính sách tiền tệ. Cung tiền tăng làm lãi suất giảm, thu nhập tăng
PHẦN 2: BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ
GIỚI
1. Trung quốc
Trung Quốc đã tiến hành cải cách kinh tế từ năm 1977. Đây là cuộc cải
cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư duy lý luận đến hoạt động thực tiễn. Thời
gian trên 20 năm và những diễn biến của tình hình có thể làm căn cứ nhất định
để xem xét kết quả, cũng như những vấn đề cần tiếp tục theo dõi và nghiên cứu
về cuộc cải cách này.
Trong chính sách cải cách kinh tế của Trung Quốc, chúng ta không thể
phủ nhận đóng góp to lớn của Đặng Tiểu Bình.
Cái chết của mao Trạch Đông năm 1976 đã đem lại tự do cho Đặng Tiểu
Bình. Cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình trở thành nhà lãnh đạo tối cao của
Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình “nhặt nhạnh lại các mảnh vỡ”, từ những mảnh
vỡ này, ông tạo dựng nền tảng cho cuộc đại nhảy vọt thực sự của Trung Quốc
từ đó trở đi. Những cố gắng cải cách ban đầu của ông tập trung vào nông
7. Thực hiện nhanh chóng cơ chế kinh tế mở cửa ra thế giới.
8. Từng bước cải cách hệ thống bảo đảm xã hội.
III. Kết quả và những vấn đề tồn tại
1. Những tiến bộ chủ yếu
- Liên tục trong hơn 20 năm cải cách, nền kinh tế của Trung Quốc đã tăng
trưởng với tốc độ nhanh vào loại nhất thế giới, GDP tăng trung bình trên
9%/năm. Trung Quốc đứng đầu thế giới về sản xuất lương thực, bông, than, sắt
thép, xi măng, kính, vải sợi. Năm 1998, mặc dù bị ảnh hưởng lũ lụt nặng nề,
khủng hoảng tiền tệ-tài chính ở các nước trong khu vực và thế giới, song nông
nghiệp Trung Quốc vẫn được mùa, sản xuất công nghiệp vẫn tăng khoảng 9%,
GDP tăng 7,8%
- Trung Quốc có những chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế.
- Đạt thành tựu lớn trong kinh tế đối ngoại. năm 1997, kim ngạch xuất
nhập khẩu đạt trên 325 tỷ USD, tăng 8,5 lần so với năm 1980, xuất siêu hơn 40
tỷ USD. Giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ lệ trong tổng kim
ngạch xuất khẩu tăng từ 50% năm 1980 lên 80% năm 1997.
Thu nhập bằng tiền của nhân dân ở đô thị tăng từ 316 nhân dân tệ năm 1978 lên
5160,3 nhân dân tệ (gần 17 lần) năm 1997.
Trung Quốc đã khẳng định sự thắng lợi trong việc chuyển sang nền kinh tế
thị trường và vai trò quyết định của nhà nước trong quản lý kinh tế thị
trường.
Tăng trưởng GDP (%) của một số nền kinh tế thế giới trong thời kỳ
1998 - 2000
Nước 1998 1999 2000
Trung Quốc 7,8 6,6 7,0
Thái Lan -8,0 1,0 3,0
Việt Nam 3,5 3,5 4,5
Nhật Bản -2,8 -1,4 0,3
Mỹ 3,9 3,3 2,2
Toàn thế giới 2,5 2,3 3,4
việc
1990 1995 2000 2004 199
0
1995 2000 2004
Pháp 131 123 118 111 144 137 134 129
Đức 111 104 97 126 121 112
Nhật 107 97 92 89 93 90 86 83
Anh 100 100 100 100 100 100 100 100
Mỹ 137 130 128 124 130 120 117 114
G7 117 114 109 114 111 106
G7 (trừ Anh) 119 115 110 116 112 107
(Chỉ số của Anh =100)
3. Cộng hoà Liên bang Đức
Ngày 3 tháng 10 năm 1990 nước Đức thống nhất (có tên là Cộng hoà Liên bang
Đức, kể từ đó đến nay, chính quyền Liên Bang Đức đã làm tất cả những gì có thể
làm được để cân bằng chênh lệch trong mức sống giữa hai khối dân Đông và Tây
Đức.
Sau khi tái thống nhất nước Đức tạm thời phải gánh vác thêm nền kinh tế suy tàn
của các tiểu bang mới. Việc này chủ yếu được trang trải bằng cách mượn thêm nợ
mới và chuyển một số khoản phí tổn vào các hệ thống bảo vệ xã hội. Sau mười
năm tái thống nhất Đức, có thể nhận ra được nhiều tiến bộ to lớn trong việc nâng
cao mức sống của người dân Đông Đức, một nền kinh tế thị trường được thiết lập
và hệ thống hạ tầng cơ sở được cải tiến. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Đông Đức
thấp hơn ở Tây Đức, tỷ lệ thất nghiệp cao gấp hai lần, vì thế nhiều lao động có tay
nghề đi tìm việc làm ở Tây Đức. Năng suất lao động ở Đông Đức vẫn ở mức thấp.
Lượng tiêu dùng ở Đông Đức phụ thuộc trực tiếp vào số tiền chi viện từ Tây Đức,
hằng năm vào khoảng 65 tỷ $ hay hơn 4% tổng sản phẩm quốc nội của Tây Đức.
Đức đã cải cách các chính sách phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo việc làm cho Đông Đức để giảm chênh lệch về mức sống và thu nhập.
Mô hình của Đức sau khi thống nhất là mô hình Thị trường xã hội, và theo đó các
Xô Viết, chính phủ Việt Nam không kiểm soát nhiều nền kinh tế.
Nền kinh tế bộc lộ dần dần những bất cập.
Giai đoạn này chỉ tồn tại hai loại hình sở hữu là sở hữu tập thể và sở hữu nhà nước.
Các doanh nghiệp trong nền kinh tế là các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, hoạt
động theo kế hoạch và chỉ đạo của nhà nước. Với cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
bao cấp, các doanh nghiệp này không tự độc lập hoạt động, không năng động sáng
tạo phát triển thị trường, nghiên cứu phát triển sản phẩm, hàng hoá đáp ứng nhu
cầu của người tiêu dùng.
Giai đoạn này cũng là giai đoạn Nhà nước áp đặt giá cho các hàng hoá, sản phẩm,
quy luật giá cả, quy luật cung cầu không được áp dụng, không được tôn trọng.
Chính vì vậy nên cũng rất khó cho các doanh nghiệp xác định những mục tiêu phát
triển do không tồn tại những tín hiệu của thị trường.
Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này thực sự trì trệ và kém phát triển. Đời sống
nhân dân khó khăn, cơ cực. Với chế độ tem phiếu đã không đảm bảo cho nhân dân
lao động đủ nhu cầu thực phẩm cần thiểt. Và chính chế độ này cũng tạo ra một thị
trường chợ đen mà trên đó hàng hoá được trao đổi với sự sai khác rất lớn về giá cả,
do cung không đủ đáp ứng cầu.
Kế hoạch hoá tập trung về danh nghĩa đã che dấu sự mâu thuẫn và những quyền lợi
khác nhau của các cơ quan nhà nước, sử dụng những công ty nhà nước và tài sản
nhà nước cho nhiều hoạt động khác nhau mà không bị xử phạt. Kết quả là tài sản
nhà nước bị thất thoát tràn lan, thâm hụt ngân sách ở mọi nơi và tình trạng bất ổn
định về kinh tế vĩ mô ngày càng gia tăng. Lạm phát sảy ra thường xuyên và với tốc
độ phi mã. Một cuộc khủng hoảng về cán cân thanh toán treo lơ lửng kết hợp với
những thiếu thốn kinh niên và nạn đói cận kề ở nhiều vùng khiến cải cách trở nên
cấp bách.
Đòi hỏi phải có sự thay đổi lớn về đường lối phát triển kinh tế, về quan điểm quản
lý của Nhà nước trong hoạch định chính sách.
Đại hội Đảng VI đã chỉ ra: “chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp
sang phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, có sự quản lý và điều tiết vĩ mô
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
chính là vai trò “bà đỡ” cho thị trường hình thành và phát triển. Điều này
được thể hiện rõ qua các nhiệm vụ sau:
+ Thứ nhất, Nhà nước sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật để cho thị trường
phát triển, xoá bỏ các luật lệ gây cản trở hoạt động của thị trường, xây dựng hệ
thống pháp luật phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường.
+ Thứ hai, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước phù hợp với yêu
cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đưa hệ thống pháp
luật vào cuộc sống; quản lý xã hội, quản lý kinh tế bằng pháp luật.
+ Thứ ba, với tư cách là một chủ thể kinh tế lớn, là một nhà đầu tư và là hộ tiêu
dùng lớn nhất trong xã hội, các hoạt động đầu tư, chi tiêu của Nhà nước nếu
tuân thủ các quy luật của thị trường sẽ góp phần làm lành mạnh, minh bạch các
hoạt động kinh tế.
+ Thứ tư, với tư cách là người quản lý toàn bộ đất đai, Nhà nước cần phải quản
lý, phân bổ nguồn lực này một cách hợp lý theo nguyên tắc thị trường; hình
thành và hoàn thiện thị trường đất đai, một yếu tố không thể thiếu được trong
nền kinh tế thị trường.
- Vai trò thứ hai của Nhà nước là định hướng, hỗ trợ quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế: Định hướng bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội. Điều tiết, định hướng các hoạt động của các chủ thể kinh tế
thông qua các chính sách thuế, chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư… Hỗ
trợ các chủ thể kinh tế trong việc tiếp cận thông tin, phân tích xu hướng, nhu
cầu của thị trường; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế như hệ thống giao
thông thuỷ lợi, cung cấp điện, nước sạch… đây là những hoạt động đầu tư
đòi hỏi nguồn vốn lớn, nhưng lại rất khó thu lợi nhuận trực tiếp, do vậy mặc
dù đã có nhiều giải pháp thu hút vồn đầu tư tư nhân, nhưng cho đến nay
Nhà nước vẫn là người đầu tư chính trong các lĩnh vực này.
- Vai trò thứ ba là Nhà nước kiểm soát, hạn chế những mặt trái của cơ chế thị
trường, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững. Thể hiện qua một số
nhiệm vụ:
+ Thứ nhất, đó là bảo vệ môi trường sinh thái. Các chủ thể kinh tế trong nền
dụng có nguy cơ gia tăng… Bởi vậy, Đảng ta chỉ rõ: vận dụng các hình thức và
phương pháp quản lý kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó, phục
vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không đi theo con đường tư bản
chủ nghĩa.