Một số vấn đề về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở huyện văn yên hiện nay - Pdf 22

Lời mở đầu
Đất nước Việt Nam sau hơn 10 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn
diện, đặc biệt dưới ánh sáng của Đại hội Đảng lần thứ VI và lần thứ VII đề ra,
nhân dân ta đã đạt được những thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực đặc biệt
là kinh tế và xã hội, xoá bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, định
hình cơ chế tổ chức quản lý mới phát triển: nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước. Đại hội đại biểu toàn quốc
của Đảng lần này đã xác định phải thiết lập cơ chế quản lý mới, thực hiện một
cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước và nâng cao hiệu
lực quản lý nhà nước là nhiệm vụ cực kỳ trọng đại và cấp bách.
Để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, nhất là nhiệm vụ nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước và quản lý kinh tế - xã hội. Nhà nước phải có đội ngò cán
bộ, công chức giỏi, có năng lực, có kinh nghiệm, có phẩm chất chính trị và
đạo đức cách mạng, công chức hành chính nhà nước các cấp, các ngành phải
là những người hiểu biết nguyên tắc và chế độ quản lý hành chính, hiểu biết
pháp luật, có kỹ năng và hiểu biết chuyên môn. Thực chất đội ngò cán bộ của
chúng ta đã có bước phát triển mới, thể hiện được những tố chất của con
người mới, con người XHCN. Đội ngò cán bộ đã có bước trưởng thành góp
phần thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, góp phần
cùng toàn Đảng, toàn quân và toàn dân khẳng định rõ vai trò lịch sử của đất
nước tiến lên theo con đường xây dựng XHCN mà Đảng và Bác Hồ đã lùa
chọn.
Bên cạnh những ưu điểm, đội ngò cán bộ của chúng ta hiện nay vẫn còn
bộc lé nhiều khuyết điểm, nhược điểm.
Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng đã đánh giá: "Công tác cán bộ còn
bộc lé nhiều yếu kém những khuyết điểm trong công tác cán bộ là nguyên
nhân của mọi nguyên nhân yếu kém". Thực tế khi nghiên cứu xem xét về
công tác cán bộ, nhất là từ sau Nghị quyết Trung ương V (Khoá VI) đến nay
chóng ta nhận thấy những quan điểm đổi mới công tác cán bộ của Đảng chậm
được thể chế hoá, thực hiện thiếu nghiêm túc, hiệu quả chưa cao, một số bộ
phận cán bộ còn xa sút về phẩm chất đạo đức, dao động về mục tiêu lý

Chương II
Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở huyện Văn
Yên hiện nay.
Nêu lên tình hình chung của huyện và thực trạng đội ngò cán bộ, công
chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Chương III
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức ở huyện.
Nói lên mục tiêu, yêu cầu, phương hướng và giải pháp
Chương I
VAI TRÒ, VỊ TRÍ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC
I. QUAN NIỆM CÔNG CHỨC NHÀ NƯỚC:
Công chức là bộ phận quan trọng của nền hành chính, là nhân tố con
người trong bộ máy Nhà nước. Trên thế giới chế độ công chức ra đời hàng
trăm năm nay và đang được tiếp tục bổ xung, đổi mới để hoàn chỉnh theo
hướng xây dựng nền hành chính hiện đại.
1. Quan niệm về công chức trên thế giới:
Theo cách xác định của các quốc gia đã trải qua nhiều năm thực hiện và
có kinh nghiệm về chế độ công chức thì công chức được hiểu là những công
dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một
công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ở
ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách Nhà
nước.
Như vậy điều kiện trở thành người công chức như sau:
- Là công dân của nước đó
- Được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển
- Giữ một công vụ thường xuyên
- Được xếp vào một ngạch, một ngành chuyên môn
- Làm việc trong một công sở
- Lĩnh lương từ ngân sách Nhà nước.

phương. Công chức Nhà nước là những nhân viên nhậm chức trong bộ máy
cán bộ của chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, nhà
trường, bệnh viện quốc lập Công chức địa phương bao gồm những nhân
viên công tác và lĩnh lương từ tài chính địa phương.
* Trung Quốc:
Công chức chỉ là những nhân viên công tác trong cac cơ quan hành
chính nhà nước các cấp của Trung ương và địa phương nhưng không tính
nhân viên cần vụ, tạp vụ.
* Inđônêxia:
Công chức bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc
trong công sở của chính phủ trung ương đến cấp xã, bao gồm cả lực lượng
cảnh sát sĩ quan quân đội, công nhân làm việc trong các tổ chức phục vụ
công, giám đốc doanh nghiệp nhà nước
Qua những quan niệm khác nhau về công chức ở một số nước trên thế
giới, ta thấy phạm vi công chức xác định ở ba mức độ khác nhau:
- Mức hẹp: Gồm những người làm việc trong các cơ quan hành chính ở
Trung ương, điển hình là nước Anh.
- Mức vừa: Gồm những người làm việc trong các cơ quan hành chính ở
Trung ương và địa phương ví dụ: Đức, Canađa, Mỹ, Trung Quốc
- Mức rộng: Gồm những người làm việc trong các cơ quan hành chính ở
Trung ương và địa phương, các cơ quan sự nghiệp và các doanh nghiệp Nhà
nước điển hình là: Pháp, Nhật Bản, Inđônêxia
Để có thể phân chia ngạch công chức được dễ dàng, đào tạo, tuyển dụng,
sử dụng công chức có hiệu quả, bên cạnh xác định ai là công chức thì việc xác
định công chức theo hệ thống nào cũng rất cần thiết. Hiện nay trên thế giới có
ba hệ thống công chức chủ yếu:
- Hệ thống công chức theo chế độ chức nghiệp (carrer System) là hệ
thống đảm bảo cho công chức làm việc chuyên nghiệp suốt đời cho đến lúc về
hưu, dùa trên cơ sở phân chia ngạch bậc riêng. Muốn vào ngạch phải thi
tuyển. Hệ thống này gắn với việc đào tạo công chức theo tiêu chuẩn ngạch và

bắt đầu xây dựng nền hành chính nhà nước của chế độ tiến bộ. Ngay từ những
ngày đầu xây dựng chính quyền. Đảng và Nhà nước đã nhận thức được vị trí,
vai trò to lớn của đội ngò cán bộ và có những quan tâm đến đội ngò này. Thực
hiện chủ trương vừa kháng chiến vừa kiến quốc, ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ban hành sắc lệnh 76/SL về "Quy chế công chức" đã tạo cơ sở
pháp lý cho việc xây dựng đội ngò công chức nước ta trong hoàn cảnh đó.
Theo Sắc lệnh này: "Công chức là công dân Việt Nam được chính quyền nhân
dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan chính phủ, ở
trong hay ở ngoài nước Ngoài ra, còn có những trường hợp riêng biệt do
chính phủ quy định".
Ý tưởng xây dựng nền hành chính hiện đại, dân chủ, quản lý có hiệu quả,
hiệu lực, xây dựng đội ngò cán bộ, công chức nhà nước có năng lực, trong
sạch thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, phục vụ nhân dân hết lòng đã bị gián
đoạn do hoàn cảnh kháng chiến nên sau đó, quy chế công chức Việt Nam
không được triển khai đầy đủ. Vì vậy trong thời gian nước ta đã thực hiện
chính sách cán bộ, trong đó khái niệm công chức không được xác định rõ, nó
được đặt trong phạm vi cán bộ nói chung. Tuy không có văn bản nào bãi bỏ
Sắc lệnh 76/SL nhưng trên thực tế các nội dung của quy chế đó không được
áp dụng. Sau ngày tổ quốc thống nhất, chế độ cán bộ được thực hiện trên
phạm vi cả nước.
Trong nhận thức của xã hội thì khái niệm về công chức không rõ ràgn:
"Công chức là người làm việc trong các cơ quan nhà nước". Tất cả những
người được tuyển dụng biên chế làm việc trong các cơ quan, nhà máy, công
trường, xí nghiệp, đều được gọi chung là cán bộ, công nhân viên Nhà nước.
Phạm vi làm việc của cán bộ rất rộng: Từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các
đoàn thể, chính trị, xã hội, trong các doanh nghiệp, các đơn vị lực lượng vũ
trang, công an nhân dân từ trung ương đến địa phương. Sự hình thành đội ngò
cán bộ nói trên từ nhiều nguồn bằng nhiều con đường như: Bầu cử, phân công
sau khi tốt nghiệp các chương trình đào tạo, tuyển dụng, đề bạt cho nên phạm
vi cán bộ rất rộng vì vậy không Ýt trường hợp tuyển dụng, sắp xếp hoặc đề

Những trường hợp riêng biệt khác do Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng quy
định
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII và Nghị quyết đại biểu
toàn quốc giữa nhiệm kỳ Khoá VII, từ giữa năm 1993 công việc xây dựng dự
án pháp lệnh về chế độ công chức được tiến hành khẩn trương. Bộ Chính trị
Trung ương Đảng đã chỉ rõ: Ở nước ta, sự hình thành đội ngò cán bộ viên
chức có đặc điểm khác các nước. Cán bộ làm việc ở các cơ quan Đảng, Nhà
nước, đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống chính trị do Đảng lãnh
đạo. Bởi vậy cần có một pháp lệnh có phạm vi điều chỉnh chung đối với cán
bộ trong toàn bộ hệ thống chính trị bao gồm: Các công chức Nhà nước (trong
đó có công chức làm việc ở cơ quan quân đội, cảnh sát, an ninh. ) cán bộ làm
việc chuyên trách trong các cơ quan Đảng, đoàn thể".
Tiếp thu tinh thần chỉ đạo trên và để xây dựng đội ngò cán bộ, công chức
có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ , có năng lực và tận tuỵ phục vụ nhân
dân, trung thành với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Pháp lệnh cán bộ
công chức được thông qua ngày 26 tháng 2 năm 1998 quy định: "Cán bộ,
công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách
Nhà nước".
Điều 1, Pháp lệnh quy định cán bộ, công chức bao gồm:
1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.
2. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội 3.
Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường
xuyên, được phân loại theo trình độ, đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp
vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước, mỗi ngạch
thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn
riêng:
4. Thẩm phán toà án nhân dân, kiểm soát viên Viện Kiểm sát nhân dân.
5. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ

thực thi công việc chuyên môn phức tạp. Họ là những người tư vấn cho lãnh
đạo, đồng thời cũng là những nhà chuyên môn.
- Công chức thi hành công vụ nhân danh quyền lực Nhà nước: Là những
người là bản thân họ không có thẩm quyền ra quyết định như các công chức
lãnh đạo. Họ là những người thừa hành công việc, thực thi công vụ. Họ được
trao những thẩm quyền nhất định trong phạm vi công tác của mình khi làm
nhiệm vụ.
- Các nhân viên hành chính: là những người thực hành nhiệm vụ do các
công chức lãnh đạo giao phó. Họ là những người làm công tác phục vụ trong
bộ máy Nhà nước.
3.2. Hạng công chức:
Hạng công chức là một tiêu thức chỉ trình độ tổng quát của công chức.
Nó chỉ rõ công chức có khả năng đảm đương những nhiệm vụ, công tác gì
trong bộ máy cơ sở để phân hạng công chức là trình độ, năng lực chuyên môn
thể hiện qua các văn bằng, chứng chỉ người công chức được cấp sau một quá
trình đào tạo.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, người ta chia công chức ra thành 4
hạng:
- Công chức hạng A: là những công chức có trình độ chuyên môn cao,
giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy hoặc các chuyên gia có khả năng nghiên
cứu, phân tích và đưa ra các quan điểm, chiến lược, kế hoạch quan trọng. -
Công chức hạng B: là công chức có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hơn
hạng A, có khả năng giữ các cương vị lãnh đạo và những chuyên viên chính
có khả năng nghiên cứu, tham mưu và thực thi những vấn đề, mà độ phức tạp
Ýt hơn loại trên.
- Công chức hạng C: Là loại công chức thừa hành công việc dưới sự chỉ
huy của các công chức lãnh đạo.
- Công chức hạng D: là các nhân viên phục vụ trong bộ máy như tạp vụ,
lao động, hoặc những người làm công việc không đòi hỏi trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cao.

đội ngò cán bộ chủ chốt của chính quyền cơ sở. Đội ngò cán bộ chủ chốt làm
việc tại chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn) là những người trực tiếp với
dân, với các diễn biến hàng ngày của cộng đồng dân cư, đưa ra các quyết định
quản lý trực tiếp tác động đến cộng đồng và từng cá nhân trên địa bàn. Họ
cũng chính là những người chuyển các chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng, Nhà nước cũng như các chính sách cụ thể của chính phủ, cơ quan quản
lý nhà nước cấp trên thành sản phẩm cụ thể của hoạt động quản lý, như vậy
cán bộ, công chức ở chính quyền có vai trò quan trọng.
Lóc sinh thời Hồ Chí Minh sớm nhận thức được vai trò quan trọng của
đội ngò cán bộ đối với sự thành bại của cách mạng. Trong cuốn sách "Sửa đổi
lối làm việc" xuất bản lần đầut iên năm 1948. Người đã viết: "Muôn việc
thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém". Trước đó, Người đã
từng cụ thể hoá mối quan hệ giữa chất lượng đội ngò cán bộ với hiệu lực, hiệu
quả hoạt động của hệ thống chính trị bằng hình ảnh: "Cán bộ là cái dây
chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù
tốt, dù chạy, toàn bộ bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách của
chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách
hay cũng không thể thực hiện được".
Cán bộ, công chức là trung tâm của bộ máy nhà nước nói chung, của nền
hành chính nói riêng. Họ không những là người xây dựng bộ máy hành pháp,
lập quy và các quy định cho tổ chức nhân sự mà còn là người thực thi pháp
luật, chịu sự quy định của bộ máy hành chính. Như vậy, có thể thấy cán bộ,
công chức vừa là chủ thể vừa là đối tượng quản lý hành chính.
Nhân tè con người bao giê cũng là nhân tố động nhất trong mọi hệ thống
và cán bộ, công chức là nhân tố động nhất của tổ chức bộ máy nhà nước. Đây
là yếu tố quyết định chất lượng của nền hành chính nhà nước, là lực lượng
hàng đầu thực hiện công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước mà chính họ
sẽ là lực lượng quyết định tiến trình và kết quả cuối cùng của sự nghiệp cải
cách đó.
Đội ngò cán bộ, công chức nước ta hiện nay là con đẻ của một xã hội

- Tôn trọng kỷ luật lao động, tức là thực hiện nghĩa vụ lao động và chức
trách của mình ở mức độ cao.
- Hoàn thiện trình độ văn minh trong quản lý. - Bảo vệ bí mật công tác
và bí mật nhà nước.
Đối với cán bộ, công chức lãnh đạo có vị trí là khâu trung tâm liên kết
các yếu tố, các cá nhân, các bộ phận thành một khối, thành một chỉnh thể để
thực hiện tốt muc tiêu cơ quan.
Cán bộ, công chức một mặt phải đại diện cho lợi Ých của Nhà nước, mặt
khác phải bảo vệ, phải đại diện cho lợi Ých của tập thể mà mình chịu trách
nhiệm phụ trách.
Cán bộ lãnh đạo là người trực tiếp đứng mòi chịu sào. Trực tiếp vận
dụng các quy luật khách quan để đề ra các quyết định quản lý, tạo ra các
thắng lợi liên tục cho hệ thống.
Như vậy cán bộ, công chức có vị trí rất là quan trọng trong mọi hệ thống
tổ chức.
III. QUAN NIỆM VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC.
1. Mối quan hệ giữa đào tạo và bồi dưỡng:
Trong hoạt động quản lý nhà nước, có một mảng hoạt động xét về hình
thức không gắn với hoạt động quản lý, điều hành nhưng nó giữ vai trò bổ trợ,
trang bị kiến thức để người cán bộ, công chức có đủ năng lực đáp ứng được
hoạt động điều hành, đó là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức.
Đào tạo, bồi dưỡng là hai khái niệm phản ánh cùng một mục đích, trang
bị kiến thức và kỹ năng cho người công chức. Nhưng thực ra hai khái niệm có
những thuộc tính, nội dung, quy trình khác nhau:
Đào tạo được hiểu là một quá trình truyền thụ kiến thức mới để người
công chức thông qua quá trình đó trở thành công chức có văn bằng mới hoặc
cao hơn trình độ trước đó. Như đào tạo cán sự, các cử nhân, các chuyên viên
hoặc chuyên viên chính (trong hệ thống ngạch bậc hiện nay) là việc tuyển
dụng những công chức hoặc những công dân khi họ tróng tuyển trở thành
công chức, sau đó đưa họ vào cơ sở đào tạo để họ học và nhận những văn

Nay ở Nhật Bản, trung tâm bồi dưỡng hành chính thuộc cơ quan nhân sự Nhật
Bản chủ yếu làm công tác bồi dưỡng.
3. Đào tạo, bồi dưỡng là một quá trình liên tục thường xuyên:
Có thể đào tạo, bồi dưỡng theo định kỳ hoặc theo nhu cầu công việc.
Nghĩa là người công chức trong suốt cuộc đời công vụ của mình không thể
chỉ học một lần (như tốt nghiệp đại học, được tuyển dụng và ngạch công chức
thì không cần họctập, bồi dưỡng gì thêm.)
Cần phải hiểu rằng, đào tạo công chức phải được diễn ra không chỉ trong
đội ngò công chức mà vai trò của giáo dục quốc dân rất quan trọng. Nó tác
động trực tiếp và sâu rộng đến hầu hết các chuyên ngành khác nhau trong hệ
thống công chức.
Vì vậy, đào tạo, bồi dưỡng công chức trên thực tế giữ vai trò trang bị,
cập nhật, pháp luật hoá những kiến thức có trước của công chức. Qua việc đào
tạo, bồi dưỡng thì các kiến thức chuyên ngành mà công chức có được sẽ thẩm
thấu, hoà quyện vào các quy định pháp luật nhà nước. Nó có vai trò hết sức
quan trọng trong quá trình xây dựng một nền hành chính hiện đại đối với mọi
quốc gia.
4. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được thực hiện dưới nhiều
hình thức
- Nhà nước đào tạo: Nhà nước mở các líp các trường như đại học, học
viện chính trị, trung tâm chính trị để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
trong cơ quan nhà nước của mình. Bắt buộc mọi cán bộ, công chức sau khi
được đào tạo, mỗi năm phải đi bồi dưỡng để củng cố kiến thức và kỹ năng
chuyên môn nghề nghiệp, cập nhật những kiến thức mới cho phù hợp với sự
phát triển của thế giới và khu vực.
- Cán bộ, công chức tự học để từ đó nâng cao năng lực và trình độ của
mình, theo kịp sự biến đổi của sự phát triển tránh sự hẫng hụt về mọi mặt để
từ đó có thể đề ra những chính sách mới, hoạch định chính sách có hiệu quả
và phù hợp với thời kỳ mới.
IV. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN

sẽ là điều kiện để thực hiện khoa học công nghệ quản lý. Công tác này là một
đòi hỏi cấp bách một công việc lâu dài, nhất là đối với nước ta khi đang bước
vào thời kỳ mới, đẩy nhanh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Do đó,
việc chuẩn bị hành trang cho đội ngò cán bộ công chức nhà nước, tạo những
tiền đề cần thiết bước vào thế kỷ XXI, tiền đề cho sự phát triển bền vững ổn
định không thể tách rời công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà
nước.
Như vậy, yêu cầu bồi dưỡng, đào tạo đội ngò cán bộ, công chức hành
chính nhà nước luôn được đặt ra đối với mọi quốc gia và đối với quốc gia thì
yêu cầu cũng đặt ra cho từng địa phương cơ sở (như tỉnh, thành phố, huyện,
xã ). Khi xã hội càng phát triển thì những mối quan hệ chỉ huy, phối hợp liên
kết ngày càng phức tạp, thì người quản lý, điều hành phải có trình độ ngày
càng cao. Do đó phải luôn luôn bồi dưỡng đào tạo lại những cán bộ lãnh đạo,
nhà chức trách điều hành bộ máy hành chính nhà nước, để bổ sung kiến thức
cho họ, đào tạo mới những công chức tương lai có năng lực và tri thức một
cách có hệ thống, chính quy để bổ sung vào bộ máy đó.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở Việt Nam hiện nay rất
quan trọng bởi vì:
1. Quá trình xây dựng kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN
Quá trình trên đòi hỏi phải có một đội ngò cán bộ, công chức đủ trình độ,
đủ năng lực và phẩm chất để có thể quản lý nền kinh tế vận hàng theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp trước đây do điều kiện
đất nước có chiến tranh nên cán bộ công chức của ta Ýt được đào tạo một
cách có hệ thống hoặc đào tạo theo mô hình kinh tế kế hoạch tập trung bao
cấp chuyển sang kinh tế thị trường, họ cần phải được đào tạo lại, được bồi
dưỡng để bổ sung và cập nhật kiến thức mới.
Việc đào tạo mới cũng phải theo hướng xây dựng và quản lý nền kinh tế
thị trường. Cán bộ, công chức phải được đào tạo, bồi dưỡng để có thể nâng

nhanh chóng trên mọi lĩnh vực.
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước có năng lực,
phẩm chất, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ thực tiễn là một vấn đề một
nhiệm vụ mang tính then chốt, một bộ phận không thể tách rời của công cuộc
cải cách nền hành chính nhà nước, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước và của quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và
công chức nhà nước, trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ngày càng
quan tâm hơn đến công tác này. Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (Khoá VIII) đã ra nghị quyết về chiến lược cán bộ trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Tiếp đến, quyết định
874/TTg ngày 20/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ một lần nữa khẳng định
rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà
nước.
Chương II
Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở huyện Văn
Yên hiện nay
I. Tình hình phát triển chung của huyện Văn Yên
1. Tình hình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội
a. Đặc điểm chung
Huyện Văn Yên là một huyện vùng núi thấp nằm ở phía bắc của tỉnh
Yên Bái, tổng diện tích 1.338,84 km?2, gồm 26 xã và 1 thị trấn, có 13 xã
vùng cao dân téc, với 264 thôn bản, 17 tổ khu phố. Dân số: 107.271 khẩu =
21.240 hộ, có 11 dân téc cùng chung sống. Dân téc Kinh chiếm 59,8%, dân
téc Dao chiếm 21,1%, dân téc Tày chiếm 13,8%, các dân téc khác chiếm
5,3%. Tôn giáo: Thiên chóa giáo chiếm 15,6%, dân sè = 16.366 người chiếm
40%. Số giáo dân toàn tỉnh, có 11 họ đạo và 11 nhà thờ họ 111 xã. Đạo Tin
lành phát triển 2 xã với 68 hé = 408 khẩu, 100% là dân téc Mông.
Năng lực kinh tế huyện: Phát triển theo cơ cấu nông lâm nghiệp kết hợp

củng cố quốc phòng an ninh, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trong
xây dựng cơ sở, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, chính quyền hoàn
thành các mục tiêu kinh tế - văn hoá xã hội - giáo dục - y tế - quốc phòng an
ninh. Tạo niềm tin của nhân dân với Đảng, lực lượng vũ trang trưởng thành
thực sự là lực lượng nòng cốt, lực lượng chính trị hùng hậu cùng toàn Đảng
bộ và nhân dân làm thất bại âm mưu "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù
địch, xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu trong giai cấp
cách mạng mới.
b) Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện:
Trong những năm vừa qua huyện giữ vững được sự tăng trưởng kinh tế
nhất là lĩnh vực sản xuất lương thực: Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 10,2%

Trích đoạn PHƯƠNG HƯỚNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC: Một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, công chức ở huyện Văn Yên Tăng cường quản lý nhà nước trên lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng Chế độ, chính sách đối với cán bộ làm công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status