Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã huyện thạch thất – TP hà nội - Pdf 33

Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Lịch sử quá trình hình thành và phát triển của nền hành chính nước ta
đã cho thấy chính quyền cấp xã luôn giữ một vị trí, vai trò rất quan trọng. Có
thể coi đây là nền tảng của toàn bộ hệ thống chính quyền bởi đây là cấp gần
dân nhất, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ của hoạt động quản lý Nhà nước
trên tất cả các mặt ở địa phương, đảm bảo cho chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống.
Tuy nhiên chính quyền cấp xã không thể hoàn thành nhiệm vụ của
mình một cách có hiệu lực và hiệu quả nếu thiếu một đội ngũ cán bộ, công
chức cấp xã có đủ trình độ để đảm nhận công việc được giao. Cũng như nhân
tố con người trong mọi tổ chức khác, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã chính
là hạt nhân, là nhân tố quyết định đến chất lượng hoạt động của chính quyền
xã nói riêng cũng như toàn bộ hệ thống chính trị ở cấp xã nói chung. Chính vì
vậy, việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã luôn được
Đảng và Nhà nước quan tâm. Nghị quyết Trung ương 3 Khóa VIII đã xác
định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết
định chất lượng của bộ máy nhà nước”.
Mặc dù trong những năm qua Chính phủ ban hành rất nhiều văn bản
nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung và
đội ngũ cán bộ công chức cấp xã nói riêng nhưng một thực tế khách quan cần
nhận thấy là chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đặc biệt là cán
bộ, công chức xã, thị trấn ở các vùng nông thôn và miền núi tương đối thấp,
không tương xứng với vị trí, vai trò của họ. Điều này ảnh hưởng không nhỏ
đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã và niềm tin của nhân
dân vào bộ máy chính quyền.

Đảng và Nhà nước về cán bộ, công chức; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng.
- Thứ hai, xem xét, đánh giá thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng
đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện Thạch Thất.
- Thứ ba, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trên địa bàn huyện
Thạch Thất trong giai đoạn tiếp theo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Nguyễn Thu Trang - KH7C

2


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

- Phạm vi nghiên cứu là các xã và thị trấn thuộc huyện Thạch Thất Thành phố Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, khóa luận đã được phân tích, đánh giá dựa
trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử, các chủ trương, đường lối của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà
nước. Ngoài ra khóa luận còn sử dụng những phương pháp: phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê…
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
Khóa luận gồm 3 chương:

gia. Do cơ cấu về nhân sự của chính phủ các nước không giống nhau nên
quan niệm, khái niệm về công chức cũng có những điểm khác nhau.
Ở Anh, “công chức là những người thay mặt Nhà nước giải quyết việc
công”. Đây là quan niệm của Hạ viện Anh đưa ra vào năm 1977, và công chức
là do Nhà vua trực tiếp bổ nhiệm, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Ở Pháp, khái niệm công chức được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, công
chức bao gồm toàn thể nhân viên trong bộ máy hành chính. Thứ hai, công
chức bao gồm cả nhân viên trong bộ máy hành chính Nhà nước, các quan tòa,
nhân viên sự nghiệp quốc doanh, nhân viên đơn vị quân sự và nhân viên làm
việc trong Quốc hội.
Ở Đức, công chức được coi là một nhóm người có nghề nghiệp đặc biệt
trong xã hội, phục vụ ở các đoàn thể xã hội, đoàn thể xây dựng, vật chất và tài
chính có quan hệ làm việc và tuân thủ theo luật pháp.

Nguyễn Thu Trang - KH7C

4


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

Ở Nhật, khái niệm công chức bao hàm cả công chức Nhà nước và công
chức địa phương. Công chức Nhà nước bao gồm những nhân viên giữ những
chức vụ trong bộ máy Chính phủ ở trung ương, ngành tư pháp, Quốc hội…
được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Công chức địa phương được
hưởng lương từ ngân sách địa phương. Công chức Nhà nước ở Nhật cũng
được chia thành hai loại: công chức chung và công chức đặc biệt. Công chức


Khóa luận tốt

viên chức Nhà nước, quy định về trách nhiệm vật chất của công nhân, viên
chức đối với tài sản Nhà nước.
Những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “công chức” được
sử dụng lại trong các văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước.
Ngày 25/5/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định
169/HĐBT quy định khái niệm công chức như sau: “Công dân Việt Nam
được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở
Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã
được xếp vào một ngạch hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công
chức”. Đây là khái niệm nêu khá đầy đủ các dấu hiệu căn bản của công chức
trong nền hành chính hiện đại như một số quốc gia quan niệm. Tuy nhiên quy
định này vẫn còn một số hạn chế. Vì vậy, ngày 26/2/1998, Ủy ban thường vụ
Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Pháp lệnh này ra đời đã
thể chế hóa đường lối của Đảng, là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước ta
quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng nhu cầu phát triển
kinh tế - xã hội thay thế cho Nghị định 169/HĐBT.
Quá trình thực hiện công tác quản lý cán bộ, công chức đã đi dần vào
nề nếp, trình độ cán bộ, công chức ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên do
yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cho phù hợp với
tình hình mới, ngày 29/4/2003 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua
Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức.
Theo đó, cán bộ, công chức quy định tại Điều 1 như sau:
1. Cán bộ, công chức quy định tại pháp lệnh này là công dân Việt Nam,
trong biên chế, bao gồm:
a. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong
các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung
ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);

chung là cấp xã);
h. Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn
nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã.
2. Cán bộ, công chức quy định tại các điểm a,b,c,đ,e,g và h Khoản 1
Điều này được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự
nghiệp theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Pháp lệnh không quy định rõ từng đối tượng ai là “cán bộ”, ai
là “công chức” mà sử dụng thuật ngữ “cán bộ, công chức” như một danh từ
dùng để chỉ hàng loạt các đối tượng được quy định tại Điều 1 Pháp lệnh. Luật
cán bộ công chức 2008 ra đời đã khắc phục hạn chế này. Theo quy định tại
Khoản 1 và Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 thì:
Nguyễn Thu Trang - KH7C

7


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành
phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ

Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
- Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên
chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức cấp xã có các chức
danh sau đây:
Trưởng Công an;
Chỉ huy trưởng Quân sự;
Văn phòng - thống kê;
Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
Tài chính - kế toán;
Tư pháp - hộ tịch;
Văn hóa - xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.
1.1.2.2. Vai trò của cán bộ, công chức cấp xã
Xã, phường, thị trấn có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chính trị
nước ta. Đây là nơi nối liền Đảng, Nhà nước, các tổ chức của hệ thống chính
trị của đất nước với nhân dân, đảm bảo thực hiện thắng lợi mọi chủ trương,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết, chủ trương
của cấp trên. Vì thế sự vững mạnh, hoạt động có hiệu quả của tổ chức Đảng,
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân của hệ thống chính
trị xã, phường, thị trấn bảo đảm cho hoạt động bình thường của hệ thống
chính trị của đất nước trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã
Nguyễn Thu Trang - KH7C

ở địa phương. Có thể nói, cán bộ, công chức cấp xã chính là cầu nối giữa
Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Qua đó ta thấy xã, phường, thị trấn là một xã hội thu nhỏ, mọi mặt hoạt
động của xã hội đều diễn ra ở đó. Không có xã, phường, thị trấn thì không
hình thành nên xã hội, đất nước không có cơ sở vững chắc, đường lối, chủ
trương đúng đắn của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chủ trương,
nghị quyết của quận, huyện và thành phố không trở thành hiện thực. Do đó để
nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã thì trước hết
phải nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức chính
Nguyễn Thu Trang - KH7C

10


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

quyền cấp xã. Họ không những cần phải có nhiệt tình cách mạng, có phẩm
chất đạo đức tốt mà còn phải là những cán bộ, công chức được trang bị đầy đủ
về tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực công tác để hoàn
thành các công vụ được giao. Vì vậy xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch
về lối sống, có năng lực thực hiện công vụ là việc làm cần thiết và thường
xuyên hiện nay.
1.2. Những vấn đề chung về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã
1.2.1. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước
1.2.1.1. Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức

Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng
làm việc…nhằm làm cho cán bộ, công chức có cơ hội củng cố và mở rộng
một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn, nghề nghiệp sẵn
có để có thể hoàn thành công việc một cách hiệu quả hơn và thường được xác
nhận bằng chứng chỉ.
Như vậy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở đây có thể hiểu là quá
trình đào tạo, bồi dưỡng trong công vụ sau khi tuyển dụng và có quyết định
bổ nhiệm chính thức vào một ngạch công chức. Do đó nó có những đặc trưng
riêng, khác với việc đào tạo nói chung trong hệ thống giáo dục quốc dân. Cụ
thể là:
- Về mục tiêu, đào tạo, bồi dưỡng cung cấp kiến thức mới, những kinh
nghiệm, những tình huống xảy ra trong thực tế, nhằm nâng cao sự nhận thức
và hiểu biết về diễn biến và tình hình đang diễn ra trong đời sống hàng ngày
để giúp cho cán bộ công chức có khả năng thích ứng nhanh với sự đổi mới
của môi trường xung quanh vào công việc.
- Về đối tượng đào tạo, bồi dưỡng là cán bộ, công chức, những người
đang thực thi công vụ trong hệ thống các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính
trị, tổ chức chính trị - xã hội. Do đó nội dung, chương trình học tập không
phải là những kiến thức cơ bản mà là những kiến thức mới, các kỹ năng, kỹ
xảo làm việc, những kiến thức mà trong quá trình tiếp thu có chọn lọc, phê
bình và sáng tạo để vận dụng tốt hơn vào nghề nghiệp.
- Văn bằng chứng chỉ được cấp trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức là cơ sở để cán bộ, công chức được xếp vào ngạch, bậc, được hưởng các
chế độ chính sách được quy định cụ thể đối với các chức danh, ngạch, bậc.
Tóm lại có thể thấy đào tạo, bồi dưỡng được xác định như là một quá
trình làm biến đổi hành vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học
tập. Việc học tập này có được là kết quả của việc giáo dục, hướng dẫn, phát
triển và lĩnh hội kinh nghiệm một cách có kế hoạch. Do đó, đào tạo, bồi
Nguyễn Thu Trang - KH7C


nhân bù đắp những thiếu hụt, khiếm khuyết, tiếp cận với những tinh hoa văn
hóa của nhân loại, tiếp thu tri thức và kinh nghiệm của loài người. Cũng thông
qua nó, cán bộ, công chức nhận thức được quy luật của tự nhiên, xã hội, vận
dụng chúng trong thực tiễn. Như vậy, quá trình đào tạo, bồi dưỡng giúp tạo ra
chất mới và sự phát triển toàn diện trong mỗi con người.
Thứ hai, đào tạo, bồi dưỡng góp phần tăng cường bản lĩnh chính trị và
phẩm chất đạo đức cho người cán bộ, công chức. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
Nguyễn Thu Trang - KH7C

13


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

từng nói “Kẻ có tài mà không có đức là kẻ vô dụng, người có đức mà không
có tài thì làm việc gì cũng khó”. Tuy nhiên hiện nay những biểu hiện tiêu cực
đang có xu hướng tăng lên làm xói mòn bản chất cách mạng của đội ngũ cán
bộ, công chức, làm giảm uy tín của Đảng và niềm tin của quần chúng nhân
dân vào chế độ. Để khắc phục tình trạng trên, đào tạo, bồi dưỡng giữ một vai
trò hết sức quan trọng. Nội dung của đào tạo, bồi dưỡng góp phần hình thành
phẩm chất tâm lý, tư tưởng, đạo đức đúng hướng cho sự phát triển nhân cách
của mỗi cán bộ, công chức. Một người cán bộ “vừa hồng vừa chuyên” ngoài
những kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cần thiết, phải là người có
lối sống lành mạnh, trong sạch, không xa hoa, lãng phí, tham nhũng, không có
tư tưởng đặc quyền đặc lợi, nhũng nhiễu nhân dân, phải có mối liên hệ mật
thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một vấn đề quan trọng cần

cường mối quan hệ với các nước trong EU, Mỹ…Điều này đòi hỏi một đội
ngũ có trình độ cao, có hiểu biết rộng là hết sức cần thiết. Do đó công tác đào
tạo, bồi dưỡng cần được đẩy nhanh và mạnh để có được đội ngũ công chức
đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước và thực tiễn đặt ra.
Thứ hai, yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước. Cải cách hành
chính nhà nước là một nhu cầu đòi hỏi khách quan không những ở Việt Nam
mà diễn ra ở tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả các quốc gia có nền
hành chính phát triển. Ở nước ta đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và đội
ngũ cán bộ, công chức hành chính nói riêng là yếu tố quyết định chất lượng
của nền hành chính. Công cuộc cải cách hành chính nhà nước đặt ra nhiều yêu
cầu, thách thức đối với đội ngũ công chức hành chính hiện này nhằm đảm bảo
xây dựng đội ngũ này ngang tầm với những yêu cầu, nhiệm vụ đổi mới. Đó là
những yêu cầu về kiến thức chuyên môn, về kỹ năng nghiệp vụ và về thái độ
phục vụ của đội ngũ công chức hành chính, yêu cầu họ phải thành thạo về
chuyên môn nghiệp vụ, trung thành với chế độ, tận tụy với công việc, đáp ứng
yêu cầu của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý nhà
nước. Cụ thể là: Một là, yêu cầu về phẩm chất đạo đức cách mạng, về thái độ,
phẩm chất chính trị của công chức hành chính trong bộ máy hành chính nhà
nước. Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do vậy đội ngũ cán
bộ, công chức phục vụ trong các cơ quan nhà nước phải là công bộc của nhân
dân. Nâng cao trình độ lý luận chính trị, thấm nhuần các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, tư tưởng vì nhân dân phục vụ luôn là yêu cầu đòi
hỏi cấp thiết, thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ, công chức. Hai là, công
cuộc cải cách hành chính hiện nay với nền hành chính hiện đại và phát triển
luôn yêu cầu công chức hành chính phải phấn đấu không ngừng nâng cao
năng lực thực hiện công việc, tự hoàn thiện bản thân, đảm bảo các tiêu chuẩn
Nguyễn Thu Trang - KH7C

15

bộ máy. Một bộ phận cán bộ, công chức khác không theo kịp với những biến
đổi của tình hình, chậm đổi mới, tác phong chưa khoa học gây ra những khó
khăn đối với công cuộc đổi mới tổ chức. Trong khi đó công tác đào tạo, bồi
dưỡng và quản lý sử dụng công chức chưa hợp lý, chưa thống nhất, đào tạo
xong không được bố trí, một số đào tạo xong để các công ty tư nhân sử dụng
gây ra hiện tượng chảy máu chất xám. Trong tình hình đó quy chế về khen
thưởng, kỷ luật còn thiếu đồng bộ, chưa thống nhất, việc lập quy hoạch kế
Nguyễn Thu Trang - KH7C

16


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

hoạch phát triển nhân sự chưa được chú trọng, do đó chưa xây dựng được một
đội ngũ cán bộ, công chức tận tụy, mẫn cán với công việc, chưa có chế độ
chính sách động viên, khuyến khích và ràng buộc công chức với công vụ.
Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức ngày nay còn nhiều vấn đề phải
quan tâm chú trọng phát triển nhằm khắc phục những thiếu sót, tồn tại như
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã nêu rõ: “Nhìn chung đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay xét về số lượng,
chất lượng và cơ cấu còn nhiều mặt chưa ngang tầm với đòi hỏi của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Một trong những nhiệm vụ quan
trọng trong những năm tới đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng là phải nâng
cao kiến thức, năng lực quản lý, điều hành và thực thi công vụ của đội ngũ
cán bộ, công chức, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn

yêu cầu thực tế đề ra nhưng đã đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ cán bộ đáp ứng
nhiệm vụ cách mạng qua mọi thời kỳ. Để đào tạo, bồi dưỡng thì hệ thống các
trường làm công tác này đã được hình thành từ trung ương đến địa phương.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, công tác đào tạo, bồi dưỡng
những năm trước đây chưa xác định được mục tiêu một cách rõ ràng, chưa
quan tâm đi sâu đến nội dung, chương trình đào tạo, chất lượng đào tạo còn
thả nổi. Đào tạo, bồi dưỡng còn chưa gắn với nhu cầu, kế hoạch sử dụng,
chưa nhằm vào mục tiêu, đối tượng cụ thể, nhiều trường hợp đi học chủ yếu
vì mục tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức. Vì vậy khi chúng ta chuyển đổi cơ
chế quản lý từ tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường thì một bộ
phận không nhỏ cán bộ, công chức Nhà nước bị hẫng hụt về trình độ, kiến
thức, năng lực và không theo kịp với trình độ khoa học, công nghệ mới.
Nhận thức rõ nguy cơ về vấn đề cán bộ, công chức, Đảng và Nhà nước
ta đã kịp thời đề ra những biện pháp chấn chỉnh, mà giải pháp quan trọng nhất
là tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các cấp. Để tạo
cơ sở pháp lý đồng thời cũng đưa ra những định hướng đối với công tác đào
tạo cán bộ, công chức, ngày 15/8/1994 Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số
422/CT-TTg về nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ, công chức trong cả
nước. Ngày 27/8/1996 Chính phủ thông qua Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức nhà nước cùng với Chương trình trọng điểm về đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ lãnh đạo chính quyền cơ sở. Trên cơ sở các số liệu điều tra thực tế, đề
án đã đi sâu phân tích, đánh giá và tìm hiểu nguyên nhân của những hạn chế
về trình độ cán bộ cơ sở, sự yếu kém của công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, từ đó xác định mục tiêu, yêu cầu, nội dung công tác này trong giai
đoạn hiện nay. Đồng thời đề xuất các chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường
Nguyễn Thu Trang - KH7C

18



sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được bổ sung và hoàn thiện,
trong đó đã hướng dẫn cụ thể về mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, đối tượng đào
tạo, bồi dưỡng, nội dung đào tạo, bồi dưỡng và loại hình đào tạo, phương thức
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức nhà nước.
Nguyễn Thu Trang - KH7C

19


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

Chiến lược cán bộ mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
của Đảng đã nêu lên những quan điểm hết sức cơ bản về công tác đào tạo cán
bộ, công chức. Đó là:
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đến 2010 là bảo đảm
cho đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đạt trình độ chính trị, chuyên môn,
nghiệp vụ, kỹ năng hành chính, tin học và ngoại ngữ theo tiêu chuẩn chức
danh và ngạch bậc đảm nhiệm, có đủ năng lực xây dựng chính sách, tổ chức
điều hành thực thi công vụ theo yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước cần hướng
vào một số trọng điểm như đào tạo có mục tiêu, có chất lượng, khuyến khích
các hình thức tự học, tự đào tạo để thường xuyên nâng cao trình độ công
chức, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên gia đầu ngành trên
các lĩnh vực. Đặc biệt cần quan tâm phát hiện đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, tạo
nguồn cán bộ quản lý, chuyên gia từ những cán bộ trẻ. Trước mắt cần tập
trung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức hành chính và cán bộ công chức

đặt ra, là nội dung cơ bản, quan trọng trong chiến lược đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức có đủ năng lực
xây dựng chính sách, tổ chức, điều hành, thực thi công vụ theo yêu cầu ngày
càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức chỉ thật sự phát huy
được vai trò, tác dụng khi nó xuất phát từ yêu cầu thực tế công việc, gắn liền
với việc bố trí và sử dụng cán bộ công chức một cách phù hợp, gắn liền với
quá trình phấn đấu và thăng tiến của họ. Việc bố trí, sử dụng cán bộ, công
chức hợp lý đúng quy trình cách thức sẽ phát huy sự phấn đấu tích cực của
cán bộ, công chức, tạo điều kiện để cán bộ đóng góp nhiều nhất và có hiệu
quả nhất công sức của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
1.2.1.4. Mục tiêu của công tác đào tạo, bồi dưỡng
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có mục đích trang bị
những kiến thức, kỹ năng cơ bản, nâng cao kiến thức, năng lực quản lý, điều
hành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nhằm xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, trung thành với
chế độ XHCN, tận tụy với công vụ, có trình độ quản lý tốt, đáp ứng yêu cầu
của việc kiện toàn và nâng cao hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước, thực
hiện chương trình cải cách nền hành chính nhà nước. Trong Quyết định số
161/2003/QĐ-TTg ngày 20/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rõ mục
đích của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là “trang bị kiến thức
về lý luận chính trị, kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước; chuyên môn nghiệp
vụ; kiến thức ngoại ngữ, tin học và các kiến thức bổ trợ khác nhằm xây dựng
Nguyễn Thu Trang - KH7C

21


Học viện Hành chính
nghiệp

nước, phải luôn được cải tiến và không ngừng hoàn thiện theo quá trình đổi
mới của đất nước, của công cuộc cải cách hành chính nhà nước.
Nguyễn Thu Trang - KH7C

22


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

Nguyên tắc đảm bảo đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu. Nguyên tắc này
yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng phải được thực hiện trên cơ sở nhu cầu đào tạo,
bồi dưỡng của cán bộ, công chức, của cơ quan tổ chức. Nội dung, chương
trình, giáo trình đào tạo, bồi dưỡng phải được xây dựng theo nhu cầu công tác
thực tế để nâng cao năng lực thực hiện công việc của cán bộ, công chức. Hình
thức, thời gian đào tạo cần được nghiên cứu thực hiện theo các chức vu, vị trí
công tác khác nhau. Đào tạo, bồi dưỡng đảm bảo theo sát đối tượng, lựa chọn
đúng đối tượng đào tạo, tránh việc đào tạo, bồi dưỡng xong mà không dùng
tới, không mang tính thiết thực.
Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng gắn liền với thực hành, học đi đôi với
hành. Nguyên tắc này đòi hỏi công tác đào tạo, bồi dưỡng phải hữu ích và
thiết thực, phải đem đến cho người học những kiến thức, kỹ năng thực tế, gắn
liền với với công việc của họ, thống nhất với công việc họ đang làm. Nội
dung đào tạo, bồi dưỡng phải kếp hợp với thực tế, phải liên quan đến kỹ thuật,
chuyên môn, yêu cầu chức trách mà cán bộ, công chức đảm nhận. Thông qua
đào tạo, bồi dưỡng giúp cho kiến thức, trình độ, nghiệp vụ, hiệu quả công tác
của cán bộ, công chức được nâng lên rõ rệt, đạt được mục đích học để làm
việc, học để sử dụng trong công việc. Vì vậy nội dung, chương trình, giáo

chuẩn, đồng bộ về cơ cấu, trình độ, tính kế thừa giữa các thế hệ nhằm đổi mới
và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn.
Mục tiêu cụ thể: đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã theo tiêu
chuẩn chức danh, trang bị, bổ sung những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ
và kỹ năng quản lý điều hành, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức cấp xã
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Mục tiêu này được chia làm hai giai đoạn
thực hiện:
Đến hết năm 2005, phấn đấu đạt: 70 - 80% cán bộ chuyên trách giữ
chức vụ qua bầu cử được đào tạo, bồi dưỡng đạt tiêu chuẩn quy định về trình
độ lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và
kỹ năng quản lý điều hành; 80% công chức cấp xã ở vùng đồng bằng và đô thị
đạt trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên; 100% cán bộ chủ chốt và các
chức danh chuyên môn ở các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít
người, hải đảo được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính nhà
nước và chuyên môn nghiệp vụ đạt trình độ sơ cấp; lựa chọn để quy hoạch
đào tạo trình độ trung cấp cho 25% đội ngũ cán bộ, công chức này.
Từ năm 2006 đến năm 2010, trên cơ sở kết quả đạt được và kinh
nghiệm của giai đoạn này, phấn đấu nâng trình độ cán bộ, công chức cấp xã
giữ các chức danh được đào tạo đạt trình độ trung cấp trở lên; đạt mục tiêu trẻ
hoá đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, đặc biệt là cán bộ chủ chốt; bảo đảm
đủ về số lượng, tiêu chuẩn, đồng bộ về cơ cấu.
Nguyễn Thu Trang - KH7C

24


Học viện Hành chính
nghiệp

Khóa luận tốt

QP
Trường CT
cấp tỉnh

Bộ,
ngành

Trường ĐT,BD
CB,CC các Bộ,
ngành

Địa
phương
Trung tâm
bồi dưỡng CT
cấp huyện

Nguyễn Thu Trang - KH7C

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status