BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
BÙI NGỌC LÂM
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LẬP KẾ HOẠCH HỌC TẬP
CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
và kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong
bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án Bùi Ngọc Lâm
ii
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt ix
Danh mục bảng biểu x
Danh mục các hình xi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LẬP KẾ
HOẠCH HỌC TẬP CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 7
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
iii
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 57
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LẬP KẾ HOẠCH
HỌC TẬP CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC
CHẾ TÍN CHỈ
2.1. Khái quát chung về khảo sát thực trạng 60
2.2. Kết quả khảo sát 63
2.2.1. Thực trạng kỹ năng lập kế hoạch học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế
tín chỉ 63
2.2.2. Thực trạng phát triển kỹ năng lập kế hoạch học tập cho SV trong ĐTTC 75
2.2.3. Thực trạng những điều kiện, yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển KN lập KHHT
của SV trong ĐTTC 85
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 89
Chương 3. QUY TRÌNH VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG LẬP
KẾ HOẠCH HỌC TẬP CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 91
3.1. Đề xuất quy trình phát triển kỹ năng lập KHHT cho sinh viên trong ĐTTC 91
3.1.1. Nguyên tắc đề xuất quy trình phát triển kỹ năng lập KHHT cho sinh viên 91
3.1.2. Thiết kế quy trình phát triển kỹ năng lập KHHT cho SV trong ĐTTC 92
3.3.3. Kết quả thực nghiệm của lớp NHBH - K2012B (Nghiên cứu điển hình) 131
3.3.4. Đánh giá chung về kết quả thực nghiệm tác động 134
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 136
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 137
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC - 1 -
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
CVHT Cố vấn học tập
ĐC Đối chứng
ĐHGD – ĐHQGHN Đại học giáo dục – Đại học quốc gia Hà Nội
ĐHSP-ĐHTN Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên
ĐTTC ĐTTC
GV Giảng viên
KH Kế hoạch
KHHT Kế hoạch học tập
Bảng 2.7. Kết quả đánh giá mức độ các KN lập KHHT của SV trong ĐTTC 70
Bảng 2.8. Nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển KN lập KHHT cho SV 76
Bảng 2.9. Kết quả mức độ cần thiết và mức độ thực hiện các công việc của
GV và SV (theo lát cắt nhóm khách thể) 81
Bảng 2.10. Kết quả đánh giá của GV và SV về các hoạt động nhằm phát triển
KN lập KHHT cho SV trong ĐTTC 84
Bảng 2.11. Mức độ ảnh hưởng của những điều kiện bên trong và các yếu tố
khách quan bên ngoài đến sự phát triển KN lập KHHT của SV 86
Bảng 3.1. Sự thay đổi nhận thức về nội dung cơ bản của bản KHHT của SV
nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN 125
Bảng 3.2. Sự thay đổi KN lập KHHT của lớp TN K57 SP- Văn (n=56) so với
lớp ĐC là K57 Sp- Sử (n=47)SV trước và sau TN 128
Bảng 3.3. Sự thay đổi KN lập KHHT của SV lớp NHBH-K2012B trước và
sau TN (lần I, ngày 26/11.2012) 132
Bảng 3.4. Sự thay đổi KN lập KHHT của SV lớp NHBH-K2012B trước và
sau TN (lần II, ngày 02/12.2012) 132 vii
ơ
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, ĐTTC đã được triển khai ở các cơ sở giáo dục đại học theo
quy định của Bộ GD&ĐT. Năm 2007, Bộ GD&ĐT đã ban hành “Quy chế Đào
tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ” (Ban hành kèm theo
Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng
Bộ GD&ĐT). Theo chủ trương của Bộ GD&ĐT, năm 2011 là hạn cuối cùng để
các trường liên quan phải chuyển đổi sang hệ thống đào tạo mới này [7].
ĐTTC là phương thức đào tạo xuất phát từ người học và vì người học. Vai
trò chủ động của người học được coi là yếu tố quyết định toàn bộ tiến trình tích
lũy kiến thức. SV hoàn toàn quyết định KHHT khóa học, năm học và từng học
kỳ, cho phù hợp với năng lực học tập và hoàn cảnh cụ thể của mình. Do đó,
việc lập KHHT trước đây vốn xuất phát từ yêu cầu của khoa, của nhà trường
không còn phù hợp nữa mà đòi hỏi người học phải tích cực, chủ động lập KHHT
của riêng mình. Hay nói một cách khác, để thích ứng trong ĐTTC, mỗi SV đại
học cần phải biết lập KHHT và như vậy họ cần được trang bị, rèn luyện để sớm
có được các KN lập KHHT.
Việc lập KHHT trong ĐTTC sẽ giúp SV xác định được các mục tiêu cụ thể
trong từng giai đoạn và các biện pháp, phương tiện để đạt được mục tiêu đó; Giúp
SV quản lý và sử dụng có hiệu quả quỹ thời gian của mình; Giúp SV thích ứng tốt
nhất với sự thay đổi trong mô hình đào tạo của nhà trường… Nghiên cứu tại
trường Đại học Wyoming, Washington, D. C. (2009) đã chỉ ra rằng lập KHHT là
thiết yếu cho định hướng học tập tốt của SV [106]. Bên cạch đó, lập KH tốt sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động kiểm tra, giám sát hiệu quả công việc. Như vậy,
việc lập KHHT đồng nghĩa với việc có được con đường đúng đắn để đạt được
mục tiêu học tập đã đề ra và quyết định đối với kết quả học tập của SV. 2
Vì vậy, hiện nay, phát triển KN lập KHHT cho SV trong ĐTTC là vấn đề
có tính cấp thiết trong lý luận cũng như trong thực tiễn và nhận được sự quan
tâm từ nhiều phía, không chỉ đối với SV, mà cả đối với đội ngũ GV, CVHT đến
những người làm công tác quản lý giáo dục đại học của khoa, của trường…
Với những lý do trên, chúng tôi chọn "Phát triển kỹ năng lập kế hoạch
học tập cho sinh viên đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ " làm đề tài
của Luận án.
2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng quy trình rèn luyện và biện pháp phát triển KN lập KHHT cho
SV đại học trong ĐTTC.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục SV trong ĐTTC ở các trường đại học.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động rèn luyện KN lập KHHT của SV đại học trong ĐTTC.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu quy trình và biện pháp phát triển KN lập KHHT cho SV đáp ứng
được những điều kiện bên trong của SV và tạo ra môi trường trải nghiệm, cơ hội
rèn luyện của chính SV, thì chúng sẽ tác động tích cực đến sự phát triển KN lập
KHHT của SV trong ĐTTC.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc phát triển KN lập
KHHT cho SV đại học trong ĐTTC.
5.2. Xây dựng quy trình rèn luyện và biện pháp phát triển KN lập KHHT cho SV
đại học trong ĐTTC.
5.3. Tổ chức thực nghiệm một số biện pháp đã đề xuất và đánh giá mức độ phù
hợp, hiệu quả của các tác động. 5
nhóm SV năm thứ nhất, Học viện Tài chính, Dự án Ngân hàng – Bảo hiểm (Lớp
NHBH - 2012B (37 SV).
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu bản KHHT
của SV để đánh giá mức độ KN lập KHHTcủa họ.
7.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Nhằm kiểm định tính khả thi và tác
dụng của biện pháp phát triển KN lập KHHT cho SV các trường đại học trong
ĐTTC.
7.3. Phương pháp thống kê toán học: Các số liệu đã điều tra được xử lý bằng
chương trình SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) dùng trong môi
trường Window phiên bản 13.0.
8. Những đóng góp mới của luận án
8.1. Về mặt lý luận
Góp phần làm phong phú thêm lý luận về phát triển KN lập KHHT cho
SV trong phương thức ĐTTC, cụ thể:
- Làm rõ định nghĩa, vai trò và nội hàm khái niệm KHHT trong ĐTTC;
- Xác định các KN lập KHHT, xác định các tác nhân phát triển KN lập
KHHT cho SV trong ĐTTC.
8.2. Về mặt thực tiễn
- Đánh giá được thực trạng KN lập KHHT, thực trạng việc phát triển KN
lập KHHT cho SV đại học trong ĐTTC hiện nay.
- Xây dựng quy trình rèn luyện và đề xuất các biện pháp phát triển KN lập
KHHT cho SV trong ĐTTC phù hợp với các quan điểm giáo dục hiện đại, có tính
khả thi, tác động tích cực đến sự phát triển KN lập KHHT của SV trong ĐTTC.
- Vận dụng lý luận “Học tập đỉnh cao” để xác định KN lập KHHT như là
một loại KNHT đỉnh cao cần trang bị cho SV đại học và quán triệt vào việc phát
triển KN lập KHHT cho người học trong ĐTTC.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG
LẬP KẾ HOẠCH HỌC TẬP CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC
TRONG ĐÀO TẠOTHEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Nghiên cứu về kỹ năng học tập
Xuất phát từ quan niệm cho rằng người học chỉ có thể tham gia vào hoạt
động học khi họ có những KNHT cần thiết, KNHT đã được các nhà tâm lý học
và giáo dục học quan tâm từ lâu và với những hướng tiếp cận khác nhau.
Theo quan niệm về cấu trúc hoạt động nhận thức - học tập, các nhà khoa
học Elkcônin Đ. B., Đavưdov V. V., Markova A. K.… đã nghiên cứu vấn đề
KNHT như một hệ thống KN, kỹ xảo hành động trí óc; Theo quan niệm về cấu
trúc quá trình học tập, các nhà khoa học Xcátkin M. N., Babanxki Iu. K đã
xem những KN, kĩ xảo học tập là cách thức tiến hành các công việc học tập, đọc
sách, lập biểu đồ tính toán, tra cứu tài liệu, KH hóa, tổ chức công việc [dẫn
theo 58; 73].
Như vậy, có những KNHT chung và có những KNHT môn học. Ở đề tài
này, chúng tôi chỉ đề cập đến các nghiên cứu về KHHT và lập KHHT như là một
loại KNHT đặc biệt.
- Nghiên cứu về KNHT, trước hết, phải kể đến những công trình nghiên
động qua thực tiễn và Đưa ra hệ thống các bài tập độc lập [41].
1.1.1.2. Nghiên cứu về kỹ năng lập kế hoạch học tập của SV trong ĐTTC
Xuất phát từ đòi hỏi phải tổ chức quá trình đào tạo sao cho mỗi SV có thể
tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải giúp
họ nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc
sống, năm 1972, Viện Đại học Harward (Mỹ) đã thay thế hệ thống chương trình
đào tạo theo niên chế bằng hệ thống chương trình đào tạo mềm dẻo cấu thành
bởi các mođule mà mỗi SV có thể lựa chọn một cách rộng rãi. Sự kiện này là
điểm mốc khai sinh “phương thức ĐTTC" .Từ đó bắt đầu có nhiều hơn các 9
nghiên cứu về KHHT và hình thành KN lập KHHT ở đại học. Về vấn đề lập
KHHT ở đại học, có thể kể đến các nghiên cứu nổi bật của các tác giả sau:
- Phòng Công tác SV thuộc Trung tâm tư vấn Trường Đại học
VirginiaTech khuyến cáo SV nên xây dựng KHHT với ba loại thời hạn. (i) KH
dài hạn: Xây dựng KH hoàn thành nhiệm vụ cho một năm học hay một kỳ học
dựa theo chương trình đào tạo, có bao gồm mục tiêu của từng tháng, tuần; (ii)
KH trung hạn: Là một danh sách ngắn gọn các sự kiện chính trong tuần và khối
lượng công việc phải hoàn thành, nhấn mạnh việc làm mới danh sách này hàng
tuần; (iii) KH ngắn hạn: Là một thẻ ghi nhớ những việc cụ thể quan trọng cần
làm trong ngày, nên luôn mang theo và gạch ngang khi hoàn thành mỗi việc. Thẻ
này nên được ghi chép vào mỗi sáng sớm hay tối muộn trước khi đi ngủ [112].
- Nghiên cứu của tác giả Norman G.R. và Schidmit đã cho thấy lập KHHT
có thể có nhiều hình thức khác nhau, có thể là bản KH chuẩn, hoặc có thể chỉ là
việc ghi chép vào một tờ giấy, tấm thẻ, hay tự hoạch định trong đầu những công
việc sẽ làm trong ngày, trong tuần hay trong tháng tới [ 105].
- Trong phái học thuyết nhận thức xã hội, nghiên cứu về hành vi “lập
KHHT” được nói tới nhiều trong vài thập kỷ gần đây và được gọi là “Học tập tự
và Julie Fowlie của Trường Kinh doanh thuộc ĐH Tổng hợp Brighton viết cuốn
sách "Để thành công ở trường đại học". Tất cả các KN chủ chốt đều được đề cập
đến và đặc biệt nhấn mạnh vào tầm quan trọng của quá trình liên tục các KN phát
triển của cá nhân, cũng như mục tiêu lớn nhất của mỗi SV. Về lập KH cá nhân
như thế nào, các tác giả có đề cập đến: Tại sao cần lập KH phát triển cá nhân;
Nhận ra điểm mạnh của mình và những phẩm chất cần phát triển; Liên tục lập KH
phát triển cá nhân; Xem lại tiến độ và cập nhật KH… [6].
- Nghiên cứu về lập KHHT, nhất thiết phải kể đến các luận điểm rất mới mẻ
về “Học tập đỉnh cao” (Peak learning) và “Học tập suốt đời” của Ronald Gross
[69]. Trong đó, tác giả đề cao vai trò của các KN lập KHHT, coi KN lập KHHT
như là một loại kỹ năng sống (KNS) của con người hiện đại thành đạt. Theo tác giả,
lập KHHT cần được xem như NL học tập đỉnh cao, NL học suốt đời…
R.Gross đề xuất 10 bước cho việc thiết lập một KH học (xem chi tiết hơn
ở mục 1.3.1.2. của Luận án này): từ “Chọn mục tiêu”…đến “Sử dụng phương 11
pháp riêng của bản thân”; Từ “Kiểm soát thời gian”… đến “Đánh giá kết quả
theo cách thích hợp và hiệu quả nhất đối với bản thân”.
- Ngoài ra, một số nghiên cứu khác gần đây về KNS và giáo dục KNS
cũng đề cao KN “quản lý thời gian”, KN “xác định mục tiêu và lập KH” [108],
[109], [112], [113], [115]…(xem nội dung mục1.3.1.4).
Những quan điểm của Fisher R. về Lập KH chiến lược, của Bob Smale và
Julie Fowlie về các KN “Lập KH phát triển cá nhân”, của Gross R. về “Lập KH
học tập sáng tạo” và là thành phần then chốt của “NL học tập đỉnh cao”, là “NL
học tập suốt đời”…đã đề cập ở trên là những tư tưởng nền tảng của KN lập
KHHT trong ĐTTC.
Như vậy, từ các nghiên cứu ở nước ngoài về KNHT và KN lập KHHT, có
thể nhận xét rằng:
cơ sở tâm lý học và lý luận dạy học về việc hình thành KN, vận dụng phương
pháp chung của việc hình thành KN vào xây dựng quy trình hình thành KN làm
việc với sách giáo khoa cho học sinh trung học cơ sở [71].
- Tác giả Đặng Thành Hưng đã phân chia thành 3 nhóm KNHT cần hình
thành cho học sinh: Nhóm KN nhận thức, nhóm KN giao tiếp và quan hệ học
tập, nhóm KN quản lý học tập [35].
- Nghiên cứu về KNHT của SV còn được đề cập đến trong luận án tiến sĩ
của các tác giả: Trịnh Quang Từ [83], Trần Văn Hiếu [30], Nguyễn Thị Tính [78]
- Tác giả Nguyễn Quang Uẩn có nêu lên các quan niệm về KN, KNHT,
phân tích nhóm KN cơ bản trong hoạt động học tập của SV. Tác giả theo quan
điểm của N.V. Cudơmina cho rằng KNHT tập gồm 5 nhóm KN cơ bản: Nhóm
KN nhận thức; Nhóm KN thiết kế (xây dựng KH); Nhóm KN kết cấu; Nhóm KN
giao tiếp; Nhóm KN tổ chức [84].
- Tác giả Trần Quốc Thành đã đưa ra một hệ thống các KN cần rèn luyện
cho SV, trong đó có KN định hướng, KN thiết kế, KN thực hiện, KN kiểm tra
đánh giá. Theo tác giả, muốn hình thành được KNHT này, giáo viên cần phải tổ
chức và bồi dưỡng cho SV trong quá trình dạy học [73]…
- Về KNHT còn có thể kể đến công trình KN học của SV đại học đào tạo
theo hình thức từ xa của tác giả Lê Hải Nam, trong đó, tác giả khẳng định: Người 13
học ở xa có hiệu quả là người có được mức thành thạo các nhóm KN: KN lập KH
học, KN tổ chức việc học, KN kiểm tra, đánh giá việc học của bản thân [29].
Tóm lại, KNHT đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ: Vai trò
của KNHT đối với người học, các KNHT cần có ở người học, mô tả các KN đó
và khẳng định vai trò của giáo viên đối với việc dạy KNHT cho người học. Một
số KNHT cụ thể đã được một số tác giả đi sâu nghiên cứu tìm ra biện pháp rèn
luyện như KN ôn tập, KN đọc sách Nhưng KN lập KHHT nói chung, KN lập
họ thiết lập KHHT hiệu quả.
Khái quát các kết quả nghiên cứu trên có thể rút ra kết luận:
Lập KHHT đã được khá nhiều ý kiến quan tâm, chủ yếu về sự cần thiết
phải trang bị cho HSSV. Riêng về vấn đề hình thành, phát triển KN lập KHHT,
thì chưa thấy tác giả nào đề cập và chưa nghiên cứu nào đề xuất quy trình rèn
luyện và các biện pháp phát triển. Cần đặc biệt nhấn mạnh là cho đến nay còn
chưa thấy có các nghiên cứu coi việc hình thành, phát triển KN lập KHHT cho
SV như là mục tiêu phát triển NL cho người học đại học, phát triển KNS.
Vì vậy, việc tiếp thu và phát triển các nghiên cứu để đi đến xác lập một hệ
thống tác động sư phạm hợp lý nhằm phát triển KN lập KHHT cho SV trong
ĐTTC là việc làm rất cần thiết và cấp bách.
1.2. Kỹ năng lập kế hoạch học tập của sinh viên trong đào tạo theo học chế
tín chỉ
1.2.1. Đặc điểm hoạt động học tập của SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2.1.1. Đào tạo theo học chế tín chỉ là gì?
Hiện nay, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về phương thức đào
tạo theo tín chỉ (cũng gọi là Học chế TC, viết tắt là ĐTTC). Quyết định số
43/2007/QĐ – BGD&ĐT về ban hành “Quy chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ
chính quy theo hệ thống tín chỉ” (gọi tắt là Quy chế 43) đã xác định rõ các đặc
điểm và yêu cầu của ĐTTC [7].
ĐTTC là phương thức đào tạo tiên tiến, có tính nhân văn và tính hiệu quả
cao, đồng thời đã và đang là xu thế tất yếu ở các trường đại học. Dưới đây là một
số đặc điểm và cũng là ưu thế của phương thức đào tạo theo TC. 15
Trao quyền chủ động cho SV và đòi hỏi cao tính chủ động của họ
ĐTTC với đặc điểm là “hướng tới người học, lấy người học là trung tâm” và
cá nhân hoá quá trình đào tạo mà các hệ thống khác không có được. Mặt khác, cho
nước ngoài theo yêu cầu của trường cấp bằng.
ĐTTC tạo hiệu quả về mặt quản lý SV trong đào tạo
Trong ĐTTC, thành tích học tập của SV được đo trên cơ sở tích luỹ khối
lượng TC ứng với từng môn học. Việc chưa hoàn thành một môn học có ảnh
hưởng không nhiều tới quá trình học tập của SV như trong đào tạo theo niên chế,
vì họ có thể học lại môn học đó hoặc chọn một môn học khác thay thế. Như vậy,
SV không phải học lại cả năm học hay bỏ học, giá thành đào tạo vì vậy giảm đi
đáng kể. Tuy nhiên, ĐTTC cũng đòi hỏi cao người học: nếu không đạt 3.0 điểm
trung bình chung mỗi năm học, họ buộc phải ”dừng tiến độ học tập” [7].
Trong ĐTTC, để tiến tới 1 văn bằng, các trường ĐH phải tổ chức giảng
dạy các môn kiến thức đại cương được tiến hành bởi các bộ môn chung cho cả
ĐH và mặt khác, cho phép các trường đại học cấp TC cho SV nếu họ tham gia
các hoạt động giáo dục từ bên ngoài trường ĐH. Để được công nhận số TC học
từ bên ngoài, SV phải có KN tập hợp các hồ sơ, tài liệu là minh chứng cho thành
tích học tập, làm việc, tự nghiên cứu của họ, như tiểu luận, bằng sáng chế, bản
sao các công trình, giấy khen, Hội đồng đào tạo sẽ đánh giá hồ sơ này và nếu
đạt yêu cầu, SV sẽ được công nhận đã hoàn thành một số TC tương ứng của
chương trình ĐT.
Các đặc điểm của ĐTTC đã kéo theo thay đổi đặc điểm hoạt động học tập
của SV trên các phương diện mục tiêu học tập, nội dung, phương pháp và điều
kiện học tập cần có của họ…Nói cách khác, ĐTTC vừa là sự đòi hỏi ở SV cao
hơn rất nhiều, vừa cho phép họ chủ động lập KH (dưới sự hướng dẫn của
CVHT) cho toàn bộ quá trình học tập tại trường đại học và tự chịu trách nhiệm
cao nhất về kết quả học tập của mình.
1.2.1.2. Đặc điểm hoạt động học tập của SV trong ĐTTC
Xuất phát từ mục tiêu đào tạo ở bậc Đại học là đào tạo nguồn nhân lực có
chuyên môn cao về nghề để đáp ứng yêu cầu xã hội. Do đó, hoạt động học tập