CÂN NHẮC LẠI VỀ
SỰ TIN CẬY CẬY
Nhóm 11:
Quách Đạo Quang
Nguyễn Mạnh Đồng
Nguyễn Duy Minh
Đặng Hồng Đức
Nguyễn Lê Duyên
Nguyễn Hồng Hạnh
Trịnh Công Lâm
Nguyễn Hồng Kỳ
Nhiêu Kim Qui
Lê Hải Vân
Trong hai thập kỷ trở lại đây, sự tin cậy đã được xem như là một chất bôi trơn hết
sức mạnh mẽ, giữ cho bánh xe kinh tế quay và vận hành trơn tru với những quan hệ
phù hợp – tất cả chỉ vì lợi ích chung của chúng ta. Những quyển sách kinh doanh
nổi tiếng cũng chỉ ra sức mạnh và ưu điểm của sự tin cậy. Các học giả cũng đã có
rất nhiều nghiên cứu chỉ ra những lợi ích khác nhau của sự tin cậy, đặc biệt khi nó
Bất chấp sự lừa dối, lòng tham và sự kém cỏi ở
mức độ không thể tưởng tượng trước đó, con
người vẫn đặt sự tin cậy quá nhiều.
Roderick M.Kramer
dựa trên hồ sơ theo dõi rõ ràng, đáng tin cậy về chuyên môn và sự nổi bật trong các
mối quan hệ thích hợp.
Đồng hành với chủ đề này là Bernie. Có “một điều gì đó về con người này, huyết
thống và danh tiếng, khơi nguồn cảm hứng cho sự tin cậy,” suy tưởng từ một nhà
môi giới do bị cuốn vào việc làm ăn với Bernard Madoff, người đã thú nhận tội đầu
tư lừa đảo 65 triệu đô la Mỹ, sự kiện lừa đảo lớn nhất và thành công nhất trong lịch
sử. Nhìn bề ngoài, Madoff sở hữu tất cả những dấu hiệu của việc không gian dối -
hồ sơ, lý lịch, chuyên môn và quan hệ xã hội. Nhưng sự thực là có quá nhiều người,
kể cả những chuyên gia tài chính lão luyện và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, bị ru
lại tin tưởng quá dễ dàng, tại sao thỉnh thoảng chúng ta thiếu sự tin cậy, và cần giải
quyết vấn đề ấy như thế nào. Trong những phân tích sau đây, tôi trình bày nghiên
cứu về việc con người dẫn dắt vào sự tin cậy một cách tự nhiên – đó là gien và bài
học thời thơ ấu của chúng ta – và đó là cơ chế sống còn làm thoả mãn loài người.
Sự tự nguyện tin cũng thường đẩy ta vào rắc rối. Đồng thời, chúng ta đôi khi gặp
trong việc phân biệt loại người đáng tin và không đáng tin. Ở mức độ cụ thể nào đó,
điều này không quan trọng miễn là nhiều người đáng tin hơn so với số không đáng
tin. Mặc dù vậy, ở mức độ cá nhân, đó có thể là một vấn đề thực sự. Để sống sót khi
là cá nhân riêng biệt, chúng ta sẽ phải học cách tin tưởng một cách thông minh và
chính đáng. Loại sự tin cậy ấy – tôi gọi nó là sự tin cậy được kiềm chế - không đến
dễ dàng, nhưng nếu bạn kiên trì tự vấn bản thân những câu hỏi thích hợp về sự tin
cậy, bạn có thể phát triển nó.
Hãy cùng bắt đầu bằng việc tìm hiểu tại sao chúng ta có xu hướng tin vào người
khác.
Sự tin cậy là trong con người
Nó bắt đầu với bộ não. Nhờ vào bộ não lớn, con người được sinh ra rất non về
mặt thể chất và dựa vào y tá (người chăm sóc) rất nhiều. Do nhu cầu này, chúng ta
bước vào thế giới “được lập trình” để tạo nên các mối quan hệ xã hội. Bằng chứng
rất ấn tượng: Trong vòng một giờ sau khi đẻ ra, một bé sơ sinh sẽ ngẩng đầu nhìn
vào những đôi mắt và gương mặt của người đang nhìn vào bé ấy. Trong vòng vài
giờ tiếp theo, bé sẽ hướng đầu về phía có giọng nói của mẹ bé. Và, dường như thật
khó tin, chỉ cần vài giờ trước khi bé thực sự bắt chước biểu lộ cảm xúc của y tá. Lần
lượt như thế, mẹ của bé cũng phản ứng và bắt chước biểu lộ tình cảm của bé trong
vòng vài giây.
Nói tóm lại, chúng ta là những sinh vật sống thành xã hội từ thuở ban đầu: Chúng
ta được sinh ra để bị thu hút và để thu hút người khác, đó là chính là sự tin cậy
chúng ta đang nói đến. Nó trở thành một lợi thế khi ta đấu tranh vì sự sống. Như
nhà tâm lý học xã hội Shelley Taylor đề cập trong bảng tóm tắt bằng chứng khoa
học của cô, “Giờ đây các nhà khoa học xem xét chất lượng nuôi dưỡng của cuộc
sống – mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái, sự hợp tác, và các mối ràng buộc xã hội
sự tin cậy vào người khác, một người thí nghiệm chứng tỏ điều ấy trong khi mô tả
nhiệm vụ, chỉ cần chạm nhẹ vào lưng của một người nào đó khi họ định tham gia
trò chơi. Người nhận một cái chạm khiêm tốn và nhanh có xu hướng hợp tác hơn là
đối chọi với người cùng tham gia. Không trùng hợp mà Kelner nhận thấy rằng lễ
nghi xã giao đó xuyên suốt toàn thế giới liên quan đến việc chạm – làm chứng cho
cái bắt tay thật chặt giữa người Mỹ với nhau.
Vậy nghiên cứu này bổ sung thêm điều gì? Nó chỉ ra rằng không cần tốn nhiều
công sức để làm tăng sự tin cậy. Người ta có thể nói rằng họ không đặt nhiều sự tin
cậy vào người khác, nhưng hành động của họ lại khác. Thực sự, bằng nhiều cách, sự
tin cậy là trạng thái được mặc định; chúng ta tin một cách đều đặn, có suy nghĩ, và
dường như không dại dột trong mối quan hệ xã hội rộng rãi của mình. Như nhà tâm
lý học lâm sàng Doris Brothers đề cập một cách ngắn gọn, “Sự tin cậy hiếm khi
chiếm ngự địa vị nổi bật của sự hiểu biết trí tuệ. Chúng ta ít khi tự vấn rằng chúng ta
đáng tin như thế nào vào bất cứ thời điểm cụ thể hơn là điều tra xem liệu trọng lực
vẫn còn giúp hành tinh của chúng ta quay theo quỹ đạo hay không.” (châm biếm)
Tôi gọi xu thế này là sự tin cậy có cơ sở để giải thích cho ý niệm rằng chúng ta tiếp
cận nhiều tình huống mà không có sự nghi ngờ nào. Nhiều khi khuyên hướng này
lại giúp chúng ta. Trừ phi chúng ta không may mắn đủ để không trở thành nạn nhân
của sự xúc phạm sự tin cậy, hầu hết chúng ta có nhiều trải nghiệm để khẳng định độ
đáng tin của mọi người và thể chế xung quanh chúng ta trước khi ta trưởng thành.
Mọi việc hiếm khi đi sai đường một cách thê thảm khi chúng ta tin, vì vậy, không
hoàn toàn bất hợp lý rằng khi chúng ta có thành kiến với sự tin cậy.
THỰC HÀNH Ý TƯỞNG
ĐỂ SỰ TIN CẬY MỘT CÁCH KHÔN NGOAN, chúng ta cần điều
chỉnh lại nếp suy nghĩ và các thói quen hành vi, theo sát 7 quy tắc
cơ bản sau đây:
Quy tắc 1 – Hiểu bản thân mình
Nếu bạn có xu thế tin sai vào người khác, bạn phải học cách đọc
các ám hiệu nhận thấy từ họ. Nếu bạn giỏi trong việc nhận ra các
ám hiệu nhưng gặp khó khăn trong việc tiến triển trong việc tin
quan tâm vào người khác.
Nguyên tắc 6 – Nhìn vào chức vụ cũng như con người
Vai trò hoặc vị trí của một người đảm bảo cho động lực và chuyên
môn của người ấy. Nhưng hãy cẩn thận! Những người trên phố
Main tại Mỹ tin người trên phố Wall trong một thời gian dài vì hệ
thống tài chính dường như đang đem lại những kết quả đáng tin làm
cả thế giới phải ganh tỵ.
Nguyên tắc 7 – Duy trì cảnh giác và luôn đặt câu hỏi
Một số người bị lạm dụng sự tin cậy đánh giá một cách khách quan
với trách nhiệm cao nhất điều gì họ cần làm trước hết. Vấn đề là họ
không cập nhật hoạt động này vì họ cảm thấy không thoải mái về
tâm lý học khi phải cảnh giác và có tình cảm lẫn lộn với người họ
đang tin tưởng.
Nhưng thỉnh thoảng chúng ta đánh giá kém
Nếu con người sinh ra để tin, có lẽ cũng chỉ con người phạm lỗi lầm. Thực sự,
nhiều nghiên cứu khẳng định điều này. Bộ não chạy trên những ám hiệu và thích
ứng một cách sắc sảo có thể giúp chúng ta tạo niềm tin trong các mối quan hệ ngay
từ ban đầu, nhưng cũng khiến chúng ta dễ vướng vào việc bị lạm dụng niềm tin.
Đặc biệt, xu thế đánh giá độ đáng tin dựa trên những đặc điểm giống nhau về thể
chất và các ám hiệu ngoài mặt khác có thể được xem là thảm họa khi liên hệ với cái
cách chứng ta xử lý thông tin.
Một xu thế làm bóp méo đánh giá của chúng ta là khuynh hướng chỉ thấy những
gì chúng ta muốn thấy. Các nhà tâm lý học gọi đây là thiên kiến xác nhận. Vì thế,
chúng ta chú ý và xem trọng hơn các chứng cứ ủng hộ cho các giả thiết của ta về thế
giới, và giảm độ nghiêm trọng hoặc coi nhẹ sự khác nhau hoặc những bằng chứng
về những điều trái ngược. Trong một trò chơi trong phòng thí nghiệm do tôi tổ
chức, những người chơi nào chủ yếu chú ý vào sự lạm dụng sự tin cậy thường đi tìm
những tín hiệu về hành vi không trung thực một cách cẩn thận từ người cộng sự sắp
tới. Ngược lại, những người hay mong chờ khía cạnh xã hội tích cực thường chú ý
nhiều đến bằng chứng về sự đáng tin cậy từ người khác. Điều quan trọng nhất là
một tập thể xã hội gắn bó rất bền chặt.
Vì vậy, định kiến ít đóng góp vào việc đánh giá sai về việc ai là người đáng tin.
Điều không may mắn là, hệ thống điện não của chúng ta cũng có thể gây trở ngại
cho khả năng đưa ra quyết định đúng đắn về mức độ rủi ro phỏng đoán trong các
mối quan hệ. Đặc biệt, các nhà nghiên cứu nhận diện ra hai ảo tưởng liên quan đến
nhận thức, làm tăng xu hướng tin quá dễ dàng, quá nhiều, và quá lâu.
Ảo tưởng thứ nhất làm chúng ta đánh giá thấp khả năng những chuyện xấu sắp
xảy đến với ta. Nghiên cứu trên ảo ảnh về sự không gây tổn thương cá nhân giải
thích rằng, ta nghĩ ta ít khi trải nghiệm sự bất hạnh trong cuộc sống, thậm chí mặc
dù ta nhận ra những rủi ro như thế tồn tại một cách khách quan. Do đó, mặc dù ta
biết xét về phương diện trí tuệ, tội phạm đường phố là một vấn nạn ở nhiều thành
phố, chúng ta vẫn đánh giá thấp nguy cơ ta trở thành nạn nhân. Người ta vẫn đang
tranh luận liệu xem một lý do nữa cho ảo ảnh này là, việc ta vướng vào suy nghĩ
đơn giản về phép tính đền bù và gợi lại những bước để làm giảm những rủi ro (ví
dụ, tránh những ngõ hẻm tối hoặc có thói quen sang đường nếu thấy một người lạ
đáng nghi bước đến. Ảo ảnh thứ hai, có quan hệ khá gần gũi, là chủ nghĩa lạc quan
phi hiện thực. Nhiều cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng con người thường đánh giá cao
khả năng những điều tốt đẹp dễ đến với ta, ví dụ, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc,
công việc thành đạt, sống lâu v.v Thậm chí khi ta biết thông tin chính xác về điều
kì lạ thật của những kết quả như thế, ta vẫn nghĩ ta sẽ làm tốt hơn trung bình.
Những nổi bật và không nổi bậc trong niềm tin của công chúng về kinh doanh
NIỀM TIN CỦA
MỌI NGƯỜI
TRONG KINH
DOANH
mất đi rất lớn trong
vụ bê bối và cuộc
khủng hoảng tài
chính, tuy nhiên,
niềm tin không
lãnh cho tổ chức
yếu hơn.
Moody xuất bản
một phân tích về cổ
phiếu và trái phiếu
của đường sắt Mỹ,
trở thành tổ chức
đầu tiên để đánh
giá thị trường
chứng khoán. Việc
phát triển của tổ
chức xếp hạng tín
dụng bồi dưỡng
niềm tin bằng cách
giúp các nhà đầu tư
đánh giá rủi ro
khác nhau tài sản.
Sau khi luật sư Mỹ
bắt Coca-Cola ra
tòa quảng cáo sai
sự thật, ngành công
nghiệp quảng cáo
rơi vào không thích
nơi công cộng. Một
nhóm các giám đốc
điều hành Mỹ
thành lập Vigilance
Committee để cảnh
báo sự thật trong
quảng cáo. Các
thể làm giả được. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc phát hiện ra những người lừa
đảo không dễ như ta nghĩ. Tôi đã và đang nghiên cứu về hành vi dối trá qua các thí
nghiệm – và dạy nó trong các khoá học kinh doanh về quyền lực và đàm phán.
Trong một bài tập, tôi chỉ dẫn vài người tham gia làm mọi thứ có thể để “đánh lừa”
sự tin cậy trong một bài tập đàm phán sắp đến. Tôi chỉ họ vạch ra những hành vi, tín
hiệu về sự tin cậy một cách thoải mái trên tất cả những lý thuyết trực giác. Vậy
những người thay đổi thần kinh ngắn hạn này nói và làm những gì? Thông thường,
họ thể hiện bằng cách cười thật nhiều, nhìn liên tục vào người khác, thỉnh thoảng
chạm tay hoặc cánh tay người khác nhẹ nhàng. (Trong bản báo cáo sau bài tập, phụ
nữ xem việc chạm này như là một chiến lược và sử dụng nó nhiều hơn đàn ông.) Họ
thích trêu đùa vui vẻ để làm dễ chịu người khác, và giả vờ cởi mở trong suốt buổi
đàm phán thật bằng cách nói những thứ như “Hãy cùng nhau thống nhất là chúng ta
sẽ thành thật và chúng ta có thể làm tốt hơn trong bài tập này” và “Tôi luôn muốn
cởi mở hết lòng”.
Nỗ lực của họ hoá ra lại khá thành công. Hầu hết họ thấy khá dễ để khiến người
khác nghĩ rằng họ đang hành xử theo cách đáng tin, cởi mở và hợp tác (theo sự đánh
giá các đặc điểm của những người cùng đàm phán với họ). Thêm nữa, thậm chí khi
sinh viên ở bên kia của bàn đàm phán được (bí mật) cảnh báo trước rằng một nửa
sinh viên họ nói chuyện được hướng dẫn cách lừa họ và có lợi thế hơn họ, khả năng
dò ra ai là người lừa đảo không cải thiện: Họ không tìm được người giả mạo một
cách chính xác hơn việc nhận ra mặt nào sẽ xuất hiện sau khi tung đồng xu lên. Có
lẽ thú vị nhất là những người được cảnh báo trước, thực sự họ đã làm tốt công việc
dò tìm sự lừa dối tốt hơn những sinh viên khác.
Chúng ta đã biết tại sao ta tin người khác và thỉnh thoảng tin một cách dễ dàng.
Giờ là lúc ta xem xét bằng cách nào để sự tin cậy đi đúng hướng. Nếu ta muốn gặt
hái những lợi lộc chân thành, chúng ta cần tin tưởng một cách khôn ngoan hơn.
Những nổi bật và không nổi bậc trong niềm tin của công chúng về kinh doanh
1922-1929 Thập niên 1930 1941 Thập niên 1950 Thập niên 1960 Thập niên
1970
Khi niềm tin
bằng cách thiết
lập cơ quan
quản lý như
FDIC và SEC.
Chính phủ chi
tiêu chưa bao
giờ có trong
chiến tranh thế
giới II dẫn đến
sự lạm dụng của
các nhà thầu,
đặc biệt là Hoa
Kỳ. Harry
Truman thành
lập Ủy ban
Thượng viện
đặc biệt để điều
tra.
Quỹ tương hỗ,
phát triển trong
năm 1920, tạo
điều kiện cho
các nhà đầu tư
thận trọng bắt
đầu đưa tiền
vào các tổ chức
trung gian lớn
để phân phối
và quản lý rủi
ro của họ.
đầu, cho
phép người
mua nhà
được vay từ
người cho
vay.
Kiềm chế sự tin cậy
Chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn về động lực, mục đích, tính cách hoặc
hành vi ở tương lai của người khác. Một cách đơn giản, ta phải chọn lựa giữa tin
(mở rộng đường cho việc lạm dụng sự tin cậy nếu ta phải đối đầu với người giả dối)
hoặc không tin (bỏ qua tất cả những thuận lợi nếu người khác rất thành thật). Bóng
tối của sự nghi ngờ vẫn tồn tại mỗi lần ta quyết định tin một ai đó. Điều này có
nghĩa là chúng ta có thể giảm sự hồ nghi, đặc biệt, bằng cách điều chỉnh nếp suy
nghĩ và những thói quen hành vi. Sau đây là một vài nguyên tắc sơ bộ giúp kiềm
chế sự tin cậy.
Quy tắc 1 | Hiểu bản thân mình
Mọi người thường rơi vào một trong hai nhóm khi nói đến cách nhìn của họ đối
với sự tin tưởng. Có một vài sự tin tưởng là quá nhiều và quá dễ dàng. Họ có xu
hướng nhìn đời bằng màu hồng, và nghĩ rằng hầu hết mọi người đều tử tế và sẽ
không bao giờ làm hại họ. Vì vậy, họ tiết lộ các bí mật cá nhân quá sớm trong các
mối quan hệ hoặc chia sẻ các thông tin nhạy cảm tại nơi làm việc một cách bừa bãi,
trước khi đặt ra vấn đề thận trọng, gia tăng độ tin cậy. Họ nói chuyện thoải mái về
sự tin cậy và sự hiện diện của những người khác, mà không cần xác định là họ đang
trò chuyện với một người bạn hay một kẻ thù. Hành vi quá tin tưởng của họ là tiềm
năng cho sự đau buồn. Nhóm còn lại là những người luôn nghi ngờ khi bắt đầu các
mối quan hệ. Họ giả định điều tồi tệ nhất về động lực của người khác, ý định, và
hành động trong tương lai và do đó họ tránh việc tiết lộ bất cứ điều gì về bản thân
mình mà có thể giúp tạo một liên kết xã hội. Họ miễn cưỡng đáp lại những thông tin
bởi vì họ sợ họ sẽ tin tưởng vào những người xấu.Họ có thể ít sai lầm hơn khi làm
việc cùng các đối tác mà họ tin tưởng, nhưng điều đó là rất ít vì họ luôn giữ khoảng
Lambert sử
dụng công cụ
phân tích
khủng hoảng để
xây dựng một
thị trường trái
phiếu rác tài trợ
cho các công ty
tài chính và tiếp
quản công ty.
Trái phiếu rác
phổ biến phá
sản sau một vụ
bê bối giao dịch
trong những
năm 1990. Đến
năm 2000, việc
sử dụng trái
phiếu rác sẽ trở
thành phổ biến
trong tài chính
doanh nghiệp.
Chính phủ
phương Tây bắt
đầu một
chương trình
sâu rộng của
bãi bỏ quy định
dưới Ronald
Reagan và các
đến sự hoài
nghi lớn về đa
quốc gia ở các
nước đang phát
triển.
.
Lương điều
hành tăng vọt
trong các công
ty Mỹ trải qua
một sự hồi sinh
trong môi
trường cạnh
tranh. Sự sùng
bái của Giám
đốc điều hành
phát triển, và
các công ty toàn
cầu ngày càng
bắt chước cách
tiếp cận của Mỹ
để kinh doanh.
Thu hút về
internet khởi
động một
thời kỳ
"thịnh vượng
bất hợp lý",
trong đó các
nhà đầu tư
như là của riêng họ. Một cách quan trọng thứ hai ở Hollywood là phải có một nhân
viên có thể quảng bá ý tưởng một cách rộng rãi nhằm đưa tác giả của nó trở nên nổi
tiếng. Hollywood là một thế giới nhỏ, và để làm cho một cái gì đó trở nên phổ biến
trong đó là một chiến lược hạn chế rủi ro tốt.
Những nổi bật và không nổi bậc trong niềm tin của công chúng về kinh doanh
1997 2000 2001 2006 2008 2009
Hệ thống eBay
đánh giá thông
tin phản hồi của
nó, cho phép
người mua đánh
giá tỷ lệ tin
tưởng xứng
đáng của người
bán. Năm sau,
người dùng đã
đăng ký tăng từ
341.000 lên 2,1
triệu.
Công nghệ cao
NASDAQ
Composite
Index đạt đến
một đỉnh cao
5048,62 trong
tháng ba - và
chỉ một vài tuần
sau đó giảm
xuống 25%.
Bong bóng
hoảng tín dụng
nghiêm trọng,
trong đó các
ngân hàng ngừng
cho vay các công
ty có tin tưởng,
và các nhà đầu
tư dừng lại các
ngân hàng tin
tưởng. Thế giới
lao vào một cuộc
suy thoái nghiêm
trọng.
Sau khi trải qua
giai đoạn lịch sử
tồi tệ, AIG sử
dụng gói cứu trợ
của chính phủ -
hơn $ 170 tỷ - để
trả cho nhân viên
như tiền thưởng.
Tổng thống
Obama gọi đây là
một "sự phẫn nộ"
và yêu cầu của Bộ
Tài chính để "theo
đuổi mỗi con
đường hợp pháp
duy nhất" để đền
lại các khoản tiền
Một số những người giỏi nhất trong việc xây dựng lòng tìn mà tôi đã nghiên cứu thể
hiện sự quan tâm rất lớn, và sự cảm thông đối với quan điểm của đối phương. Họ
rất giỏi trong việc đọc suy nghĩ, do đó biết được cần phải làm gì để trấn an người
khác, và chủ động làm giảm đi sự lo lắng của họ.
Một ví dụ điển hình là Tổng thống John F. Kennedy trong buổi lễ trao học vị nổi
tiếng tại Đại học Hoa Kỳ năm 1963, tại đây ông đã tuyên dương những phẩm chất
đáng nể của người Liên Xô và khẳng định rằng ông muốn tiến tới giải trừ vũ khí hạt
nhân từ cả 2 phía. Chúng ta biết được từ những cuốn hồi ký Liên Xô rằng Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng Nikita Khrushchev đã rất ấn tượng với hành động này, và tin
rằng Kennedy chân thành muốn phá bỏ quá khứ và là người có thể tin tưởng trong
vấn đề này.
Quy tắc 6| Nhìn vào chức vụ cũng như con người
Nhiều nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của những liên kết cá nhân trong
quá trình xây dựng sự tin cậy – điều này cũng hợp lý. Nhưng không nhất thiết rằng,
sự tin cậy đối với lãnh đạo hoặc những người có quyền cao chức trọng phải bắt
nguồn từ giao tiếp cá nhân. Một nghiên cứu mà Debra Meyerson, Karl Weick và tôi
đã thực hiện về sự tin tưởng nhanh chóng chỉ ra rằng mức độ tin cậy cao có thể đến
từ những tương tác không mang tính cá nhân; thực ra, quan hệ cá nhân đôi khi còn
cản trở sự tin cậy.
Một yếu tố quan trọng của sự tin tưởng nhanh chóng là sự có mặt của những chức
vụ rõ ràng và thuyết phục. Sự tin cậy sâu sắc vào một chức vụ có thể thay thế cho
những tương tác cá nhân với một người. Sự tin cậy dựa vào chức vụ là sự tin cậy
vào hệ thống đã chọn ra và đào tạo cá nhân đó. Robyn Dawes, một nhà tâm lý học
chuyên về sự đánh giá của con người, đã từng quan sát thấy: “Chúng ta tin vào kỹ
sư vì chúng ta tin vào ngành kỹ thuật và những kỹ sư đã được huấn luyện để ứng
dụng những quy tắc trong ngành kỹ thuật.” Do đó, chức vụ là một sự thay thế cho
giao tiếp cá nhân, đồng thời đảm bảo trình độ chuyên môn và động lực làm việc của
họ - nói một cách ngắn gọn, đáng tin. Tất nhiên, sự tin cậy dựa vào chức vụ không
hoàn toàn chính xác. Người ở Main Street đã tin người ở Wall Street trong một thời
gian dài vì hệ thống tài chính Hoa Kỳ có được những thành quả khiến cả thế giới
xã hội của các quốc gia. Để có được một cách an toàn những lợi ích của sự tin
tưởng, chúng ta phải học cách để kiểm soát được chúng.
Bảy quy tắc mà tôi đưa ra ở đây không phải là một cuốn sách vỡ lòng hoàn chỉnh
về việc làm thế nào để chúng ta có thể đặt niềm tin mộtcách đúng đắn. Khoa học
của việc tin tưởng cũng chưa được hoàn thiện như chúng ta mong muốn, mặc dù nó
đang phát triển một cách nhanh chóng với các môn kinh tế thần kinh
(neuroeconomists), kinh tế hành vi (behavioral economists,) và tâm lý học sử dụng
những công cụ mới và hiệu quả nhất như chụp ảnh bộ não và minh họa hành vi để
phát hiện ra cáchc húng ta quyết định về việc tin tưởng ở ai và khi nào. Dù còn
nhiều thiếu sót, những quy tắc này sẽ giúp bạn có một khởi đầu tốt, để bắt đầu một
quá trình học hỏi lâu dài về việc làm thế nào để tin tưởng một cách đúng đắn hơn.