BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
TRẦN CÔNG NAM
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG BỘT PHỤ PHẨM ETHANOL
(DDGS) TRONG THỨC ĂN HỖN HỢP CHO GÀ ðẺ
TRỨNG THƯƠNG PHẨM CP BROWN LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành
:
CHĂN NUÔI
Mã s
ố : 60.62.40Người hướng dẫn khoa học
Ơ
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện ñề tài tốt nghiệp,
ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận ñược rất nhiều sự quan tâm giúp ñỡ
quý báu của nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn ñồng nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS. Tôn Thất Sơn và TS. Nguyễn
Thị Mai ñã ñộng viên
,
hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời
gian làm luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Dinh
dưỡng - Thức ăn, Khoa Chăn nuôi - Nuôi trồng Thuỷ sản
,
Trường ðại học Nông
nghiệp Hà Nội ñã góp ý và chỉ bảo ñể luận văn của tôi ñược hoàn thành.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới: Ban giám ñốc, các Anh, các Chị
cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Nhà máy thức ăn chăn nuôi NUTRECO,
Công ty TNHH ðầu tư và Phát triển chăn nuôi gà gia công DABACO - Lạc
Vệ - Tiên Du - Bắc Ninh ñã tạo mọi ñiều kiện giúp ñỡ tôi thực hiện ñề tài và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
ðể hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận ñược sự ñộng viên khích lệ
của những người thân trong gia ñình và bạn bè. Tôi xin chân thành cảm ơn
những tình cảm cao quý ñó.
Tác giả Trần Công Nam
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp iii
MỤC LỤC
3.2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
3.2.1. Nội dung nghiên cứu 35
3.2.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm 35
3.2.3. Phương pháp phân tích thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 37
3.2.4. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 38
3.3. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 40
4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 41
4.1. THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA NGUYÊN LIỆU TRONG THỨC
ĂN THÍ NGHIỆM 41
4.2 CÔNG THỨC THỨC ĂN THÍ NGHIỆM 48
4.3. THÀNH PHẦN DINH DƯỠNG THỨC ĂN 50
4.4. TỶ LỆ ðẺ 53
4.5. NĂNG SUẤT TRỨNG 57
4.6. LƯỢNG THỨC ĂN THU NHẬN 60
4.7. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG THỨC ĂN 63
4.8. TỶ LỆ NUÔI SỐNG CỦA GÀ MÁI ðẺ 66
4.9. KHỐI LƯỢNG GÀ QUA CÁC GIAI ðOẠN NUÔI 69
4.10. KHỐI LƯỢNG TRỨNG QUA CÁC GIAI ðOẠN NUÔI 72
4.11. KẾT QUẢ KHẢO SÁT TRỨNG GÀ THÍ NGHIỆM 75
4.12. PHÂN LOẠI TRỨNG 77
4.13. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG DDGS TRONG GIAI ðOẠN TỪ 20 - 38
TUẦN TUỔI 78
5. KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 82
5.1. KẾT LUẬN 82
5.2. ðỀ NGHỊ 82
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp v
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ðỒ
5. HQSDTA : Hiệu quả sử dụng thức ăn
6. LTATN : Lượng thức ăn thu nhận
7. TTTA : Tiêu tốn thức ăn
8. ðC : ðối chứng
9. TN : Thí nghiệm
10. TB : Trung Bình
11. TPDD : Thành phần dinh dưỡng
12. DDGS : Distillers Dried Grains with Solubles
13. TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
14. DXKN : Dẫn xuất không nitơ
15. ME : Metabolizable Energy (Năng lượng trao ñổi)
16. TME : True Metabolizable Energy (Năng lượng trao ñổi thực)
17. CV : ðộ lệch chuẩn
18. VCK : Vật chất khô
19. NSP : Non Starch Polysacharide
20. Lys : Lysine
21. Met : Methionine
22. Cys : Cystein
23. Thre : Threonine
24. Tryp : Tryptophan
25. Phenyl : Phenylalanine
26. Hist : Histidine
27. Leu : Leucine
28. Isoleu : Isoleucine
29. Val : Val
30. Arg : Arginine
31. Cs : Cộng sự
32. Eð : Ép ñùn
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 1
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 2
thành nguyên liệu thức ăn lên cao. Trong quá trình sản xuất Ethanol có
một phần lớn phụ phẩm có tên DDGS (Distiller’s Dried Grains with
Solubles) hay còn gọi là hèm ngô mà trong ñó chứa rất nhiều protein,
lipit, xơ và khoáng… có thể sử dụng làm thức ăn chăn nuôi. Vì vậy, việc
sử dụng bột phụ phẩm này sẽ góp phần vào thay thế ngô, tiết kiệm nguyên
liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi và nâng cao hiệu quả chăn nuôi.
Theo Budi Tangendjaja (2008) [43] sản lượng DDGS của Mỹ năm
2007 là 15 triệu tấn và ñã xuất khẩu 1,5 triệu tấn sang Canada, Trung Mỹ,
Châu Phi, Châu Âu và Châu Á làm thức ăn chăn nuôi. Tại Việt Nam, việc
nhập DDGS ñể sản xuất thức ăn chăn nuôi ñã không ngừng gia tăng trong
những năm qua. Lượng DDGS Việt Nam nhập khẩu năm 2007 là 18.700
tấn ñã tăng lên 166.400 tấn năm 2009 (Cục chăn nuôi, 2009) [3]. Việc sử
dụng phụ phẩm này sẽ góp phần làm phong phú thêm nguồn nguyên liệu
cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước. Tuy nhiên, các nghiên
cứu về chất lượng DDGS và việc sử dụng DDGS làm thức ăn cho gia cầm
với tỷ lệ bao nhiêu là phù hợp cho từng giống, từng giai ñoạn, từng hướng
sản xuất vẫn còn rất ít.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ñề tài:
“Nghiên cứu sử dụng bột phụ phẩm Ethanol (DDGS) trong thức
ăn hỗn hợp cho gà ñẻ trứng thương phẩm CP Brown”.
1.2. MỤC ðÍCH CỦA ðỀ TÀI
- Xác ñịnh ảnh hưởng của việc sử dụng 4, 8 và 12 % bột phụ phẩm
Ethanol (DDGS) trong thức ăn ñến khả năng ñẻ trứng của gà CP Brown.
- ðánh giá hiệu quả của việc sử dụng DDGS trong khẩu phần ăn
cho gà ñẻ trứng thương phẩm CP Brown.
ñen, cây lúa miến hoặc hỗn hợp các loại ngũ cốc trên ñể sản xuất nhiên liệu
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 4
Ethanol. Ngoài các nguồn nguyên liệu tái sinh từ phế phẩm nông nghiệp thì
người ta cũng sử dụng cả những phế phẩm lâm nghiệp (vụn gỗ, mạt cưa, vụn
thân cây hoặc cành cây); các phế phẩm hữu cơ trong rác (giấy vụn); phế
phẩm từ nhà máy thực phẩm gia công (phế phẩm của nhà máy rượu và nhà
máy giấy) ñể sản xuất Ethanol. Phương pháp ñược sử dụng hiện nay là sản
xuất Ethanol từ ngô hoặc ñường mía làm nguyên liệu qua quá trình lên men
vi sinh vật. Sự phát triển của ngành sản xuất Ethanol ñã tạo ra một số lượng
lớn DDGS cung cấp cho các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi. DDGS thu
ñược từ ngành sản xuất ñồ uống ñã ñược sử dụng làm thức ăn chăn nuôi ở
các trang trại trong nhiều năm trước ñây, tuy nhiên chủ yếu làm thức ăn cho
các loài ñộng vật nhai lại. Loại DDGS này có sự biến ñổi khá lớn về chất
dinh dưỡng và sự hạn chế một số chất dinh dưỡng nên chỉ ñược làm thức ăn
cho gia cầm với tỷ lệ thấp (khoảng 5%). Hiện nay, DDGS thu ñược từ quá
trình chưng cất Ethanol có ưu ñiểm là giá trị dinh dưỡng cao, dễ dàng sấy
khô và sơ chế nên có thể ñược sử dụng trong khẩu phần ăn cho ñộng vật dạ
dày ñơn với tỷ lệ cao hơn. Việc này có thể làm gia tăng lượng tiêu thụ
DDGS trên thị trường thức ăn chăn nuôi, tuy nhiên những biến ñổi trong
thành phần chất dinh dưỡng vẫn sẽ là một hạn chế cho việc sử dụng nguyên
liệu thức ăn này.
2.1.2. Công nghệ sản xuất Ethanol từ ngô
Ngô là loại nguyên liệu chính cung cấp cho ngành công nghiệp sản
xuất ethanol. Ngô có chứa một lượng lớn tinh bột, theo Tôn Thất Sơn và Cs
(2006)
[
21] ngô loại tốt có 70 – 75% tinh bột, ngô loại trung bình có 60 –
69% tinh bột. Mà tinh bột ñược chuyển thành Ethanol và CO
nấm men. Sau ñó ñem cô ñặc và làm khô thành sản phẩm hòa tan khô. Ở
một số nhà máy dịch chưng cất lỏng này ñược ly tâm trước khi cô ñặc, sau
ñó ñem phần ñặc này trộn vào phần hạt rồi tiến hành sấy khô thu ñược sản
phẩm gọi là DDGS.
Toàn bộ quá trình sản xuất Ethanol và phụ phẩm ñược Batal
(2006)[42] và Regina Meeks (2007) [53] sơ ñồ hóa (sơ ñồ 2.1). Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 6
Sơ ñồ 2.1. Quy trình sản xuất Ethanol và phụ phẩm (Batal, 2006)[42]
Theo sơ ñồ 2.1, quy trình sản xuất Ethanol và phụ phẩm của Batal
gồm các bước chính như giảm kích thước hạt, hóa lỏng, lên men, chưng cất.
* Giảm kích thước hạt
Quá trình ñược bắt ñầu bằng xay ngô thành bột ngô. Ngô ñược xay
bởi hệ thống búa xay có tốc ñộ cao, sàng lọc có kích thước nhỏ 1/8 – 3/16
inch.
* Hóa lỏng
Bột ngô sau khi ñã xay nhỏ ñược trộn với nước hoặc có bổ sung
enzyme ñể bắt ñầu quá trình lọc tách các chất tan chủ yếu là protein, ñường,
lipit. Hồ trộn sau ñó ñược nấu ñể hydrat tinh bột thành glucose. Sau ñó với
enzyme phân giải tinh bột là amylolytic ñể chuyển hóa glucose thành
Ngô
Nghiền nhỏ
Nấu chín
Hóa lỏng Lên men
Gluco-amylase
Chưng cất
cho sự thủy phân của tinh bột xảy ra ngay lập tức sau quá trình gelatin hóa.
* Lên men
Lên men là quá trình mà ở ñó ñường ñược chuyển hóa thành rượu
dưới tác dụng của các men sinh học. Men ñược dùng nhiều nhất là
sacharomyces vì nó có khả năng sản xuất Ethanol tập trung cao, ngoài ra có
thể sử dụng gluco-amylase. Trong mô hình lên men có khoảng 95% lượng
ñường ñược chuyển hóa thành Ethanol và CO
2
, 1% thành tinh bột của nấm
men, 4% thành các sản phẩm khác như glyxerol. Quá trình này xảy ra ở
nhiệt ñộ khoảng 33
0
C, pH = 4. CO
2
sản sinh ra trong quá trình này có thể
không ñược thu lại mà giải phóng trực tiếp ra ngoài không khí.
* Chưng cất
Sau quá trình lên men, Ethanol ñược thu lại bằng cách sử dụng
phương pháp chưng cất. Hỗn hợp thu ñược lại ñược chuyển qua hệ thống
sàng lọc phân tử ñể loại bỏ nước và thu Ethanol tinh khiết.
Phụ phẩm sau khi chưng cất Ethanol có thành phần chính là nước, xơ,
protein và các chất béo. Hỗn hợp này ñược ly tâm tách các chất rắn thô (hạt
chưng cất – DDG) ra khỏi chất lỏng.
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 8
Hạt chưng cất chứa khoảng 30% vật chất khô, có thể làm thức ăn cho
gia súc hoặc sấy khô ñể sản xuất DDG (dried distiller’s grain).
Dịch chưng cất thu ñược tiếp tục cho ñi qua một thiết bị bay hơi ñể
loại bỏ hơi nước và kết quả ñồng sản phẩm thu ñược là “distiller’s soluble”
tổng số từ 3,4 ñến 7,3%, Lys từ 0,43 ñến 0,89%, Met từ 0,44 ñến 0,55%,
Thre từ 0,89 ñến 1,16% và Tryp từ 0,16 ñến 0,23%. Màu sắc (color scores)
các mẫu DDGS trên thay ñổi từ rất sáng cho ñến rất tối, mùi thay ñổi từ bình
thường ñến mùi khói. Màu tối và mùi khói có thể do sấy khô ở nhiệt ñộ quá
cao. Hàm lượng Lys thấp ở các mẫu có màu tối nhất và cao nhất ở các mẫu
có màu sáng nhất. Các tác giả trên cũng ñề xuất rằng hàm lượng ADF có
mối tương quan âm với giá trị dinh dưỡng và khả năng chuyển hóa của
DDGS.
Gần ñây, Spiehs và cộng sự (2002)[38] ñã nghiên cứu hàm lượng chất
dinh dưỡng trong DDGS của các nhà máy sản xuất Ethanol mới ñược ñưa
vào hoạt ñộng (tổng cộng 118 mẫu lấy từ 10 nhà máy). Hàm lượng trung
bình của protein thô là 30,2%, chất béo thô là 10,9%, xơ thô là 8,8%, hàm
lượng khoáng tổng số là 5,8%, tỷ lệ các DXKN là 45,5%, NDF là 42,1%,
ADF là 16,2%, canxi là 0,06%, photpho là 0,89%, Lys là 0,85% và Met là
0,55%. Tỷ lệ Lys, Met và các khoáng chất thay ñổi nhiều nhất. Nhóm nghiên
cứu cũng cho biết hàm lượng protein thô, chất béo thô, Lys, Met, Thre và
photpho cao hơn, ñồng thời lượng vật chất khô và canxi thấp hơn so với tiêu
chuẩn (NRC, 1994)[50]. Các kết quả cũng chỉ ra rằng, hàm lượng các chất
dinh dưỡng trong DDGS không chỉ thay ñổi theo từng nhà máy mà còn theo
từng năm sản xuất. Các giá trị dinh dưỡng thường sai khác so với giá trị tiêu
chuẩn vì vậy việc phân tích thành phần hóa học của DDGS từ các nguồn
khác nhau nên ñược thực hiện ít nhất một năm một lần. Sự biến ñổi tỷ lệ
dưỡng chất giữa các mẫu DDGS khác nhau có thể là do sự khác nhau về loại
ngũ cốc sử dụng, hiệu suất quá trình lên men, lượng dung môi cho thêm và
kỹ thuật sấy (nhiệt ñộ và thời gian sấy).
Belyea và Cs (2004)[38] cũng tìm ra rằng sự biến ñổi về tỷ lệ các chất
dinh dưỡng trong các mẫu DDGS khác nhau có liên quan ñến thành phần
ngô sử dụng ñể lên men và kỹ thuật sản xuất. Hàm lượng chất béo cao trong
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 11
rằng phân tích màu sắc có thể là một phương pháp nhanh chóng và ñáng tin
cậy ñể ñánh giá hàm lượng các amino axit, ñặc biệt là Lys và tỷ lệ tiêu hóa
DDGS của gia cầm. Nghiên cứu của Ergul và cộng sự (2003)[38], cũng ñã
kiểm chứng các kết quả trên, nó cho thấy một mối tương quan dương giữa
Lys, Cys, tỷ lệ tiêu hóa và các giá trị ñộ sáng (L*), ñộ vàng (b*) của DDGS.
Lumpkins và Batal (2005) [38] ñã tiến hành các thí nghiệm trên gà
trống và cho biết tỷ lệ tiêu hóa thực của Lys trong DDGS thu ñược ở các nhà
máy sản xuất nhiên liệu Ethanol là 75%. ðối với gà con, tỷ lệ này cao hơn
một chút, vào khoảng 80% (Lumpkins và Batal, 2005) [38]. Do các giá trị
này không khác biệt ñáng kể so với tỷ lệ tiêu hóa Lys trong ngô (81%) nên
các tác giả nghiên cứu cho rằng tỷ lệ tiêu hóa Lys của DDGS dường như
không bị ảnh hưởng lớn từ quá trình sấy. Trong các nghiên cứu trước ñó, tỷ
lệ Lys của DDGS trong các thí nghiệm trên gà con là từ 66 – 93% (Combs
và Bossard, 1969; Parsons và Cs, 1983) [38].
DDGS còn có thể ñóng góp một lượng photpho lớn trong khẩu phần
ăn của gia cầm. Martinez Amezcua và Cs (2004)[38] cho biết hàm lượng
photpho trung bình trong 20 mẫu DDGS từ các nhà máy sản xuất Ethanol ở
Minnesota là khoảng 0,73%, rất gần với giá trị tiêu chuẩn (NRC, 1994)[55].
Họ cũng chỉ ra rằng tỷ lệ photpho (tương ứng là KH
2
PO
4
), ước tính trên tro
xương chày bằng phương pháp tỷ lệ dốc thay ñổi từ 69 ñến 102% và nói
chung cao hơn so với giá trị tiêu chuẩn (NRC, 1994)[55]. Ngoài ra, nhóm
nghiên cứu cũng ñề xuất rằng việc tăng nhiệt ñộ trong quá trình sản xuất
Ethanol có ảnh hưởng tích cực ñến tỷ lệ photpho trong DDGS. Tuy nhiên,
học của DDGS (Bảng 2.2).
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 13
Bảng 2.2 Thành phần hóa học của DDGS (Mark và Cs, 2007)[46]
Chất dinh dưỡng % Vật chất khô
Vật chất khô 90,7
Protein thô 29,3
Lipit thô 10,7
Xơ thô 6,7
Tro thô 4,6
Lys 0,98
Met 0,58
Tryp 0,31
Thre 1,12
Phenyl 1,44
Hist 0,84
Leu 3,22
Isoleu 1,00
Val 1,42
Axit amin
Arg 1,42
Ca 0,04
P 0,87
Na 0,21
K 1,08
Mg 0,36
Cu 7 ppm
Fe 87 ppm
Mn 19 ppm
Xơ thô (%) 1,9 8,5 3,0
Lipit thô (%) 3,5 3 – 12 1,0
P tổng số (%) 0,25 0,89 0,65
P hữu dụng (%) 0,09 0,55 0,21
Lys 0,24 0,8 3,02
Met 0,18 0,51 0,7
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 15
Bảng 2.3 cho thấy rằng nếu lấy giá trị protein thô của ngô và khô ñỗ
tương cộng lại rồi chia 2, lấy giá trị TME của ngô và khô ñỗ tương cộng lại
rồi chia 2 sẽ ñược 2 giá trị tương tự giá trị Protein thô và TME của DDGS.
ðây chính là một cơ sở ñể dùng DDGS thay thế một phần ngô và khô ñỗ
tương trong khẩu phần ăn của gia cầm.
2.2. NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG DDGS LÀM THỨC ĂN CHO GÀ
Trong lịch sử nghiên cứu sử dụng phụ phẩm của ngành công nghiệp sản
xuất ethanol, DDGS ñã ñược sử dụng trong khẩu phần ăn của gà thịt. Tuy
nhiên lượng sử dụng ban ñầu thấp do hạn chế bởi yếu tố nguồn cung cấp và
giá thành cũng như tính ổn ñịnh của giá trị dinh dưỡng và khả năng tiêu hóa.
Ban ñầu DDGS ñược sử dụng với tỷ lệ khoảng 5% và ñược ñề cập ñến như
một nguồn cung cấp các “yếu tố tăng trưởng không xác ñịnh” có tác dụng tích
cực ñến sự tăng trưởng của vật nuôi. Tăng trọng của gà choai và gà tây sau
khi cho ăn thức ăn có chứa một lượng nhỏ DDGS ñã ñược cải thiện trong các
nghiên cứu của Couch và Cs (1957)[38] ; Day và Cs (1972[38]. Kết quả cho
thấy khi sử dụng 5% DDGS vào thức ăn cho gà tây ñã làm tăng tốc ñộ sinh
trưởng 17 – 32%. Manley và Cs (1978)[38] cho rằng bổ sung 3% DDGS vào
khẩu phần ăn của gà mái có thể cải thiện sản lượng trứng. Alenier và Combs
(1981)[38] khuyến cáo nên sử dụng mức 10% cho gà ñẻ. Tác dụng dương tính
của việc sử dụng DDGS là do nó bổ sung thêm vitamin và có thể cả một số
chất khoáng vi lượng.
có trong DDGS, gây thiếu hụt lượng amino axit này trong thức ăn. Từ các kết
quả ñó nhóm nghiên cứu ñề xuất tỷ lệ DDGS an toàn là 6% với khẩu phần ăn
khởi ñộng và từ 12 ñến 15% ñối với khẩu phần cho nuôi lớn và vỗ béo.
Năm 2007, Wang và Cs (2008)[60] ñã ñánh giá hiệu quả của thức ăn
chứa 0, 5, 15, 20 và 25% DDGS dựa trên tỷ lệ các amino axit tiêu hóa ñối với
khả năng tăng trưởng của gà thịt. Họ thấy rằng thức ăn chứa 25% DDGS
không gây ra bất kì tác ñộng có hại nào tới tốc ñộ sinh trưởng, tuy nhiên gà
con ăn thức ăn chứa 25% DDGS khả năng chuyển hóa thức ăn kém hơn so
Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ nông nghiệp 17
với nhóm ñối chứng. Thức ăn chứa 15 và 12% DDGS làm giảm tỷ lệ thân thịt,
gà ăn thức ăn có 25% DDGS có khối lượng thịt lườn thấp hơn (tính theo tỷ lệ
trọng lượng hơi). Từ các kết quả ñó nhóm nghiên cứu ñề xuất tỷ lệ DDGS
thích hợp trong khẩu phần ăn cho gà thịt là từ 15 ñến 20%. Tỷ lệ này ít ảnh
hưởng ñến tăng trọng của gia cầm, mặc dù nó có thể gây ra sự giảm tỷ lệ thân
thịt và khối lượng thịt lườn.
Không chỉ dừng lại trên gà thịt, các nhà khoa học ñã tiến hành nhiều
thử nghiệm các tỷ lệ DDGS khác nhau ñối với khẩu phần ăn cho gà ñẻ. Các
kết quả nghiên cứu thực hiện trên gà ñẻ chỉ ra rằng DDGS có thể ñược sử
dụng với tỷ lệ 5 – 20% trong khẩu phần ăn, thậm chí có thể là nguồn cung cấp
1/3 protein cho vật nuôi mà không ảnh hưởng gì ñến sản lượng trứng và khối
lượng trứng (Harms và Cs,1969; Jensen và Cs, 1974; Matterson và Cs,
1966)[38]. Thức ăn có trộn các sản phẩm phụ của quá trình chưng cất có tác
dụng tốt ñến chất lượng trứng, ñược xác ñịnh bởi giá trị Haugh (Jensen và Cs,
1974[38]; Jensen và Cs 1978[38]; Jensen và Maurice, 1980)[38].
Shurson và Cs (2003)[38] ñã tiến hành thí nghiệm trên gà ñẻ trứng
thương phẩm và cho biết rằng gà thí nghiệm ăn khẩu phần có sử dụng 10%
DDGS có thể cải thiện sản lượng trứng và màu sắc lòng ñỏ so với gà ñối
chứng ăn khẩu phần không có DDGS, tuy nhiên không có sự khác biệt về tỷ
thức ăn rơi vãi tới 10 – 15% so với thức ăn hỗn hợp dạng bột. Thứ hai là
giảm ñược thời gian ăn. Thứ ba, gia cầm rất mẫn cảm với bệnh ñường hô
hấp do bụi của thức ăn cho nên khi sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên sẽ
giúp chúng tránh ñược bụi khi ăn và giảm những căn bệnh ñường hô hấp.
Hơn nữa, chất lượng thức ăn hỗn hợp dạng viên cũng ñược nâng cao hơn
trong quá trình chế biến. Dưới tác dụng cơ giới, nhiệt ñộ và áp suất trong khi
ép viên, kết cấu ligin và cellulose có trong thức ăn sẽ bị phá vỡ, từ ñó làm
tăng khả năng tiêu hoá tinh bột và chất xơ ở vật nuôi. Ép viên còn làm chậm
khả năng oxy hoá của các vitamin tan trong dầu mỡ và tiêu diệt phần lớn các
vi sinh vật, nấm mốc và một số mầm bệnh.