ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN -VIỆT NAM
HỢP TÁC ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC TỔNG HỢP SOUTHERN LUZON - PHILIPPINES
_______________________________________________________________________________
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU HÀNG XUẤT KHẨU
CỦA VÙNG DUYÊN HẢI BẮC BỘ, VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGHIÊN CỨU SINH: NGUYỄN THIÊN SỨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN ĐẠI NGHĨA Tháng 7 năm 2013
1
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU
cơ cấu hàng xuất khẩu ở Vùng Duyên Hải Bắc bộ.
- Đề xuất các giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả FDI, để phục vụ cho chuyển
dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng nâng cao chất lượng của cơ cấu hàng xuất khẩu.
1.4. PHẠM VI VÀ GIỚI HẠN CỦA NGHIÊN CỨU
- Phạm vi nghiên cứu: Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của vùng Duyên Hải Bắc bộ, gồm 5
tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu số liệu từ năm 1995 đến 2012
1.5. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN:
Luận án được chia thành 5 chương. Chương 1, giới thiệu về chủ đề này, chương 2 của
luận án cung cấp một cái nhìn tổng quan về phương pháp luận lý thuyết: FDI ảnh hưởng đến
cơ cấu hàng xuất khẩu cả về số lượng và chất lượng. Chương 3, trình bày thông tin về các mô
hình lý thuyết được phát triển trong khuôn khổ phân tích của luận án. Chương 4, tổng hợp số
liệu, kết quả kiểm định mô hình hồi quy bội cùng với các phân tích giá trị hiện tại, giải thích
và đánh giá các tác động của FDI đến chuyển dịch cơ cấu hang xuất khẩu trong vùng Duyên
hải Bắc Bộ. Chương 5, tóm tắt kết quả và đề xuất các giải pháp, khuyến nghị; nhằm thu hút và
sử dụng hiệu quả nguồn vốn FDI, để phục vụ chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu trong khu
vực Duyên Hải Bắc bộ, Việt Nam.
3
CHƯƠNG II: CÁC CÔNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU LIÊN QUAN
2.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Phần này trình bày 18 công trình có liên quan đến chủ đề nghiên cứu. Trong các lý
thuyết này, chưa được nghiên cứu một cách chính thống, cũng chưa quan tâm đến việc kết
luận về tác động của FDI đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu; Trong thực tế, không có
nhiều nghiên cứu đánh giá một cách rõ ràng về yếu tố này tác động đến cơ cấu hàng xuất khẩu
và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu. Vì thực chất đây là một trường hợp riêng, khi FDI chỉ
là một trong số nhiều yếu tố có tác động đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu.
2.2. KHUNG LÝ THUYẾT
hàng xuất khẩu. Đánh giá cơ cấu hàng xuất khẩu phải xét trên cả hai phương diện chất lượng
và số lượng.
Số lượng cơ cấu hàng xuất khẩu là giá trị xuất khẩu của từng loại hàng hóa trong cấu
trúc và tổng giá trị xuất khẩu. Số lượng cơ cấu hàng xuất khẩu được đo lường bởi số lượng
hàng xuất khẩu thực tế trong cơ cấu. Số lượng này được đo lường bằng đơn vị của từng loại
hàng hóa.
Chất lượng cơ cấu xuất khẩu có thể được đánh giá theo hai cách: Thứ nhất, đó là sự
thay đổi tỷ trọng các mặt hàng. Thứ hai, thể hiện qua thu nhập bình quân theo đầu người, hay
chỉ số chất lượng của cơ cấu xuất khẩu PRODY và EXPY.
Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau:
- Mục tiêu, quan điểm và định hướng phát triển kinh tế xã hội nói chung và chính sách
ngoại thương hay chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu nói riêng.
- Chính sách khuyến khích xuất khẩu và tái cấu trúc hàng xuất khẩu.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật trên thế giới. Có thể nói các nhân tố công nghệ đóng vai
trò vô cùng quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu.
- Sự phát triển của các dịch vụ chất lượng cao; đặc biệt là dịch vụ tài chính, bảo hiểm,
ngân hàng.
Mối quan hệ giữa FDI và cơ cấu hàng xuất khẩu:
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về mối quan hệ giữa FDI với cơ cấu hàng
xuất khẩu đều chỉ ra rằng:
- Dòng vốn FDI chuyển dịch giữa quốc gia đầu tư và quốc gia nhận đầu tư sẽ tác động
lên cơ cấu hàng xuất khẩu và tái cấu trúc hàng xuất khẩu của cả hai quốc gia.
- FDI đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc hàng xuất khẩu theo định hướng nâng cao chất
lượng cơ cấu xuất khẩu như sau:
Thứ nhất, FDI tăng tỷ trọng hàng hóa chế biến, mặt hàng có tỷ lệ chế biến cao, mặt
hàng có hàm lượng kỹ thuật cao và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thứ hai, FDI tập trung phục vụ tái cấu trúc hoặc cải thiện cơ cấu hàng xuất khẩu theo
hướng nâng cao tỷ trọng hàng hóa có tỷ lệ chế biến cao.
Thứ ba, FDI tăng tỷ trọng các hàng hóa xuất khẩu mới.
Thứ tư, FDI đầu vào tăng số lượng hàng hóa xuất khẩu, tăng tỷ trọng của những mặt
th
là vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thực hiện đầu tư.
- EV
FDI
là giá trị xuất khẩu của khu vực FDI.
- GO
cn
là tổng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực FDI,
- Chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu là thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu do có sự đầu tư FDI
cho vùng Duyên Hải Bắc bộ. FDI
FDI
th
(đầu vào của FDI )
EV
FDI,
GO
cn
(
đ
ầ
u ra c
ủ
a FDI
)
của FDI tới chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Duyên Hải Bắc Bộ, về mặt số lượng
bao gồm: Số liệu giá trị xuất khẩu theo mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của vùng Duyên Hải Bắc
7
bộ (gồm 5 tỉnh: Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Ninh bình và Thái Bình), và của Việt
Nam theo tiêu chuẩn ngoại thương SITC3 và phân ngành theo VSIC93.
Thứ hai, Nguồn số liệu liên quan đến FDI và các yếu tố của FDI hay đầu vào và đầu ra
của FDI, bao gồm: Số liệu về dòng FDI thực hiện có sự phân tách cho vùng Duyên Hải Bắc
Bộ và vào lĩnh vực hàng xuất khẩu chủ yếu trong Vùng; Số liệu về giá trị sản xuất công
nghiệp (GOcn) của khu vực FDI và giá trị xuất khẩu của khu vực FDI theo từng năm (EV
FDI
)
và cho ngành thiết bị điện tử, máy tính và linh kiện, dây cáp điện.
3.4. Mô hình Hồi quy bội được sử dụng trong nghiên cứu:
Tác giả sử dụng 02 mô hình Hồi quy bội trong excel để kiểm định: “Tác động của FDI
đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Duyên Hải bắc bộ”. (1)
Trong đó: EVt là giá trị xuất khẩu hàng hóa tính theo năm t;
FDI là vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài;
R là tỷ giá thực tế và α
i là hệ số của mô hình.
t thời gian tính theo năm;
EXPYmg = a + bFDIth + c EV
FDI
+ dGOcn (2)
- Sản xuất công nghiệp ở khu vực tư nhân tăng mạnh. Năm 2004, tốc độ tăng sản xuất
công nghiệp khu vực tư nhân cao hơn 22.6% so với ở khu vực công (12.9%) và khu vực đầu
tư nước ngoài (16.2%).
- Về lĩnh vực ngoại thương, số lượng doanh nghiệp đã đăng ký cũng tăng mạnh. Tính
đến cuối năm 2004, số lượng doanh nghiệp xuất khẩu đã đăng ký là 21.256 doanh nghiệp,
tăng hơn 17 lần so với số lượng doanh nghiệp năm 1995, trong đó khu vực tư nhân tăng rất
mạnh từ 156 năm 1995 lên 15,246 doanh nghiệp năm 2004. Điều này thể hiện chính sách hội
nhập kinh tế quốc tế đã mang lại tác động tích cực.
- Tốc độ tăng xuất khẩu trung bình giai đoạn 2000-2004 chỉ là 7%/năm, thấp hơn
nhiều so với giai đoạn trước đó (20%).
- Giá trị xuất khẩu của các nông sản sơ chế và nguyên liệu thô chiếm tỷ trọng lớn;
trong khi hàng hóa công nghiệp và hàng xuất khẩu có tỷ trọng công nghệ cao tăng (47% năm
2002), tuy nhiên mức tăng vẫn thấp hơn nhiều so với các quốc gia Đông Nam Á (từ 70% tới
80%), đặc biệt là các hàng hóa giá trị gia tăng cũng ít.
- Năng lực cạnh tranh: các tiêu chí cạnh tranh của sản phẩm như giá cả, chất lượng, tổ
chức bán hàng, uy tín kinh doanh của hàng xuất khẩu Việt Nam thấp hơn so với các quốc gia
trong khu vực và trên thế giới. Nhiều mặt hàng được coi có năng lực cạnh tranh thuộc nhóm
thấp nhất (chẳng hạn gạo, cà phê, đồ may mặc…)
9
Để khắc phục những hạn chế trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa, một giải pháp chiến
lược là đẩy mạnh phát triển khu vực tư nhân, khuyến khích đầu tư các doanh nghiệp FDI.
Điều quan trọng là làm cách nào để tăng thị phần của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường
thế giới và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng vốn FDI hiệu quả. Phát triển khu vực
tư nhân để đẩy mạnh tái cấu trúc hàng xuất khẩu của quốc gia nói chung và khu vực Duyên
hải Bắc Bộ nói riêng.
4.3. Tác động của FDI đến tái cấu trúc hàng xuất khẩu vùng Duyên hải Bắc Bộ,
giai đoạn 2005-2012
%
Export growth rate Proportion compared to other countries
Hình 4.1: Tốc độ tăng xuất khẩu của khu vực Duyên hải Bắc Bộ, giai đoạn 2005-2012
Hình 4.1 cho biết: Trong 2005, giá trị xuất khẩu của khu vực chiếm 5.54% tổng xuất khẩu
của cả nước và 7.43% năm 2009. Trong hai năm sau đó (2011-2012), mặc dù tổng giá trị xuất
khẩu tăng; nhưng tỷ trọng giá trị xuất khẩu của khu vực so với cả nước giảm còn 5.69%. Tốc
độ tăng xuất khẩu của khu vực giai đoạn 2005-2012 liên tục tăng; nhưng không ổn định. Tốc
độ tăng trung bình là 15.16%. Tốc độ tăng cao nhất là 16.9% năm 2012 và tốc độ tăng thấp
nhất là 8.9% năm 2009. Điều này cho biết: giá trị xuất khẩu của khu vực Duyên hải Bắc Bộ có
xu hướng thay đổi theo thời gian.
10
Chuyển dịch cấu trúc hàng xuất khẩu khu vực Duyên hải Bắc Bộ:
50.4
51.8
50.2
54.6
48.4
60.8
63.2
64.4
38.4
40.7
39.1
36.7
35.2
33.1
không cao.
- Chỉ số EXPY có xu hướng tăng trong giai đoạn 2005-2012. Chỉ số EXPY trung bình
giai đoạn này đạt 2.892.000 đồng (146,5 đô la Mỹ)
- Trong nhóm hàng hóa chất lượng cao nhất, có sự chuyển dịch về chất lượng từ hàng
thô và hàng sơ chế sang nhóm hàng chế biến; chẳng hạn tỷ trọng nhóm hàng chế biến tăng từ
4,76% năm 2006 lên 32,26% năm 2012; trong khi tỷ trọng nhóm hàng thô và sơ chế giảm từ
90,48% năm 2006 xuống còn 40,86% năm 2012. Tuy nhiên mức độ chuyển dịch vẫn còn thấp.
4.0
11
Mặc dù tỷ trọng hàng thô và hàng sơ chế giảm, song tỷ trọng đó vẫn cao. Nhóm hàng hóa
công nghệ cao có tỷ trọng tăng không ổn định và tăng chậm. Điều đó thể hiện sự cần thiết
phải nâng cao tỷ trọng nhóm hàng hóa công nghệ cao trong cơ cấu xuất khẩu của khu vực.
4.3.2. FDI và chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu khu vực Duyên hải Bắc Bộ
Tình hình thu hút vốn FDI Khu vực Duyên hải Bắc Bộ:
Trong giai đoạn 1988-2012, vốn FDI thực hiện của khu vực Duyên hải Bắc Bộ là
11.794,2 triệu đô la Mỹ, chiếm 52.8% tổng vốn đăng ký của khu vực, và điều này chứng tỏ
tiềm năng to lớn trong thu hút vốn FDI của khu vực Duyên hải Bắc Bộ. Trong thực tế của
Vùng có xu hướng: Giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực có đầu tư vốn FDI tăng cao hơn.
Điều đó đỏi hỏi các tỉnh trong Vùng có giải pháp để nâng cao năng lực quản lý và sử dụng
hiệu quả vốn FDI để phát triển kinh tế cân đối giữa các ngành.
Tác động của vốn FDI đến phát triển kinh tế:
- Dòng vốn FDI đóng góp lớn vào tổng đầu tư toàn xã hội; Các doanh nghiệp FDI
đóng góp lớn vào huy động ngân sách và cân bằng ngân sách quốc gia.
- FDI đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công
nghiệp. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực FDI luôn cao hơn so với tốc độ chung
của cả nước.
Biến phụ thuộc
(1)
LogEV(private)
t
(2)
LogEV
(SOE)t
(3)
Hằng số
-30.52 (17.05)* 49.39 (8.91)**
Log FDI
t-1
0.58 (0.18)* -0.404 (0.29)
Log R
t-1
3.89 (1.53)
-0.64 (0.07)**
Time -0.376 (0.055)** 0.116 (0.029)*
R
2
– adj 0.79 0.81
Nguồn: Phân tích của tác giả. Số trong dấu ngoặc đơn là số liệu thống kê có ký hiệu
đuôi: *,**, và ***, lần lượt thể hiện mức ý nghĩa 10%, 5% và 1% và là độ lệch chuẩn của hệ
số tương quan đó.
Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước, tính toán
theo các đẳng thức sau :
LogEV(Private)t = -30.52 + 0.58 LogFDI
t-1
t-1
1.0004 (0.000027)*** -0.54 (0.90)
TIME -0.22 (0.00004)*** -0.032 (0.35)
R
2
– adj 0.69 0.79
13
Gía trị xuất khẩu của hàng thô và hàng chế biến được tính toán theo các đẳng thức sau:
LogEV(raw)t = 1.534 + 0.0001 LogFDI
t-1
+ 1.0004LogR
t-1 –
0.22T (4.3)
LogEV(pro)t = 3.14 + 0.65LogFDI
t-1
– 0.54LogR
t-1 -
0.032T (4.4)
Đẳng thức 4.3 và 4.4 cho thấy, nếu dòng vốn FDI tăng 1% cho mỗi loại hàng xuất
khẩu thì giá trị xuất khẩu của các mặt đó đều tăng; Cụ thể như: Hàng thô, nguyên liệu tăng
0,0001%; hàng chế biến tăng 0.65%. (Kết quả này chứng minh Giả thuyết 3).
Nếu tỷ giá hối đoái (VND/USD) của năm trước tăng 1%, giá trị xuất khẩu của hàng
chế biến của năm đó giảm 0,54%;
Bảng 4.22 Biến phụ thuộc Giá trị xuất khẩu của Khu vực Duyên hải Bắc Bộ (Log
EV
t)
(Kết quả tính toán của Mô hình 2 được trình bày trong Phụ lục 4.1c)
FDI (Giá trị xuất khẩu của khu vực FDI)
0,031
4 GO
industrial
(
Giá trị SXCN của khu vực FDI)
- 0,092
5 R-square 0,89
6 Quan sát 16
7 Mức ý nghĩa 5%
14
Chỉ số EXPY được xác định theo phương trình:
EXPYmg = - 65.699 + 0.098 FDImade + 0.031 EV
FDI
- 0.092 GO
industrial
Kết quả và ý nghĩa của mô hình cho thấy:
- Các yếu tố đầu vào của FDI (FDImade) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng cơ cấu hàng xuất khẩu (nếu FDImade tăng 1.000$, EXPYmg tăng 0,098$)
- Yếu tố đầu ra FDI (EV
FDI
) cũng cải thiện cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng tăng
chất lượng (nếu giá trị xuất khẩu FDI tăng 1.000$, thì EXPYmg tăng 0,031$)
- Yếu tố GO
FDI
, GO
industrial
) cũng cải
15
thiện chất lượng cơ cấu hàng xuất khẩu; Song các yếu tố này có tác động ít hơn so với yếu tố đầu
vào và chưa có tác động nhiều đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Duyên Hải Bắc
bộ, Việt Nam.
- FDI có vai trò tăng chất lượng; Song có một thực tế ở khu vực FDI tác động tới tăng
chất lượng xuất khẩu không nhiều; thể hiện ở chỗ các ngành sản xuất hàng xuất khẩu được coi
là có chất lượng cao, nhưng lại cho PRODY thấp. Hai là, trong thời gian qua, các doanh
nghiệp FDI chủ yếu sản xuất các sản phẩm nhằm phục vụ cho tiêu dùng trong nước thay vì
xuất khẩu;
- Công nghiệp phụ trợ yếu kém là yếu tố làm giảm sự kết nối giữa doanh nghiệp FDI và
doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp trong nước không nâng được khả năng cạnh
tranh, chưa hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh về xuất khẩu và cũng không được các doạnh
nghiệp FDI tạo đà để phát triển. Điều này đã làm giảm khả năng hấp dẫn thu hút FDI và hoạt
động xuất khẩu hàng hóa của Vùng, chủ yếu dựa vào các sản phẩm có lợi thế so sánh sẵn có,
chứ chưa khai thác được lợi thế cạnh tranh. Bằng chứng là các sản phẩm công nghệ cao của
Vùng vẫn có chỉ số PRODY tăng chậm và tăng trưởng không bền vững.
Như vậy, kết hợp phân tích kết quả kiểm tra định lượng và sự ảnh hưởng của chính sách
thu hút và sử dụng FDI đến Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Duyên Hải Bắc bộ
cho thấy: FDI có ảnh hưởng tích cực đến Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng
nâng cao cả lượng và chất của cơ cấu. Tuy nhiên, các tác động về chất là quan trọng; song
thực sự còn ít đối với mục tiêu xây dựng một cơ cấu hàng xuất khẩu tiến bộ; Chính vậy, sự
cần thiết phải có các giải pháp cụ thể, để thu hút và sử dụng hiệu quả cao nguồn vốn FDI,
nhằm phục vụ cho Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Duyên Hải Bắc bộ, trong
dụng ngược lại (như yếu tố GOindustry).
FDI đã làm tăng chất lượng cơ cấu hàng xuất khẩu; nhưng vẫn còn hạn chế. Khi xuất
khẩu hàng hóa được coi là có chất lượng cao, nhưng chỉ số Prody vẫn còn thấp. Thực tế, trong
17
những năm gần đây các doanh nghiệp FDI chủ yếu đã sản xuất các sản phẩm phục vụ cho tiêu
dùng nội địa nhiều hơn là cho xuất khẩu.
Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các chính sách của Chính phủ Việt Nam cho phép tỷ
giá hối đoái giảm, nên chưa kích thích hàng xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả cho thấy
rằng chính sách này rất quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Vùng.
Nghiên cứu cho biết, nhóm hàng xuất khẩu: Thiết bị điện tử, máy tính và linh kiện,
dây điện và cáp điện của khu vực đã nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng chỉ ở một mức
độ ổn định trung bình.
Công nghiệp phụ trợ yếu kém và không đủ làm kết nối giữa doanh nghiệp FDI và
những doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp hỗ trợ yếu không chỉ là tình hình của vùng
Duyên Hải Bắc bộ, mà còn ở cả Việt Nam; Nó đã làm giảm khả năng thu hút FDI và các
doanh nghiệp FDI phải nhập khẩu gần như tất cả các phụ kiện để sản xuất hàng xuất khẩu.
Như vậy, hiện nay dòng vốn FDI vào Việt Nam nói chung và vùng Duyên Hải Bắc bộ
nói riêng, chủ yếu là FDI thay thế, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp FDI chủ yếu là sản
xuất hàng hóa cho tiêu dùng trong nước thay vì cho việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa.
5.2. KẾT LUẬN
Luận án đã có những đóng góp sau:
Một là, Hệ thống cơ sở lý luận, tiến hành phân tích và làm rõ mối quan hệ, vai trò của
FDI đối với Chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu cả về số lượng và chất lượng; Từ đó, làm căn
cứ đánh giá thực trạng tình hình xuất khẩu hàng hoá trong giai đoạn 1995-2012 của vùng
Duyên hải Bắc bộ, Việt Nam.
Hai là, nghiên cứu sử dụng cách tính chỉ số phức tạp: Prody và Expy cho loại hàng
hoá xuất khẩu chủ yếu của vùng Duyên hải Bắc bộ, giai đoạn 2005-2012; Từ đó, đưa ra các
5.3. KHUYẾN NGHỊ:
5.3.1. Giải pháp nhằm thu hút và sử dụng hiệu quả FDI để phục vụ cho chuyển
dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Duyên Hải Bắc Bộ, Việt nam.
Thực hiện chiến lược để thu hút và sử dụng FDI phục vụ cho chuyển dịch cơ cấu hàng
xuất khẩu vùng Duyên Hải Bắc bộ và từ các kết quả phân tích trên cho thấy cần có các nhóm
giải pháp thích hợp sau đây:
1. Nhóm giải pháp chung:
- Cần có quy hoạch cụ thể về tỷ trọng các mặt hàng cần nâng cao là các mặt hàng nào,
tỷ trọng mục tiêu theo từng năm là bao nhiêu, hiện trạng về đóng góp của FDI về công nghệ,
về giá trị xuất khẩu, về sản xuất sản phẩm mới, số vốn cần huy động.
- Cần có chính sách để tăng mức độ liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và nước
19
ngoài, thông qua hình thức liên doanh bằng việc tăng khả năng hấp thu công nghệ
- Định hướng và chọn lọc FDI vào các ngành công nghệ cao; để tạo ra các sản phẩm
có giá trị gia tăng cao, công nghiệp phụ trợ, chế biến nông sản; trên cơ sở: Tiếp tục cải thiện,
nâng cao cơ sở hạ tầng; xây dựng chiến lược đào tạo nhân lực; thực hiện công tác xúc tiến đầu
tư một cách định hướng, chiến lược cụ thể; tạo quỹ đất “sạch” để xóa bỏ rào cản lớn ảnh
hưởng các nhà đầu tư tiềm năng; có chính sách khuyến khích hấp dẫn đối với các dự án gắn
với chuyển giao công nghệ và thân thiện môi trường.
2. Nhóm giải pháp thu hút và sử dụng FDI để nâng cao hàm hượng chế biến sâu
của sản phẩm thuộc ngành chế biến nông, lâm, hải sản.
- Tăng cường thu hút FDI vào nông, lâm, ngư nghiệp, để nâng cao hàm lượng chế biến
sâu của các sản phẩm này; đồng thời để cải thiện mạnh mẽ tình hình thu hút FDI có các giải
pháp cụ thể như sau:
. Xây dựng chiến lược, quy hoạch và các chương trình, hệ thống các đề án thu hút FDI
cụ thể về lĩnh vực chế biến nông sản.
. Sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, để cải thiện cơ sở hạ tầng còn rất
khẩu. Để phát triển công nghiệp phụ trợ, cần thực hiện biện pháp sau:
.Phải có chính sách, chiến lược quy hoạch và các đề án cụ thể, tập trung cho phát triển
các ngành công nghiệp phụ trợ, dựa trên sự liên kết chặt chẽ của các địa phương trong cả
vùng, thành một cơ cấu hoạt động có hiệu quả. Để nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ phụ
trợ của các doanh nghiệp trong nước cần đánh giá năng lực cung cấp của doanh nghiệp trong
nước; khuyến khích đầu tư tư nhân; tranh thủ sự hỗ trợ của nước ngoài về tư vấn, trình độ kỹ
thuật; có chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư FDI theo hình thức liên doanh;…
. Thu hút các nhà cung cấp phụ kiện FDI để hướng dòng vốn FDI đầu tư vào cung cấp
phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI khác.
5. Nhóm giải pháp ưu đãi và khuyến khích doanh nghiệp FDI theo định hướng
chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của Vùng.
- Có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp FDI hoạt động tại lĩnh vực xuất khẩu phù
hợp với các điều kiện của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Cụ thể là: Ưu đãi về chuyển
giao công nghệ cao theo hướng chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu; có chính sách miễn giảm
thuế, hoàn thuế, thủ tục, tạo cơ sở hạ tầng cho xuất khẩu;
- Thường xuyên tổ chức các hội nghị, gặp gỡ, trao đổi với các doanh nghiệp FDI để
kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh.
6. Nhóm giải pháp lựa chọn dòng FDI phù hợp với việc thúc đẩy cải tiến cơ cấu
hàng xuất khẩu.
- Thứ nhất: Cần có định hướng, chiến lược, chương trình và đề án cụ thể cho FDI thay
thế và FDI bổ sung.
21
- Thứ hai: Cần tìm hiểu dòng FDI của từng đối tác đầu tư để thay thế hay bổ sung đảm
bảo cho các bên cùng có lợi.
- Thứ ba: Cần bổ sung thêm chức năng, nhiệm vụ cho Cục Đầu tư nước ngoài với chức
năng đánh giá đối tác đầu tư không chỉ ở năng lực tài chính và các vấn đề khác như: Đặc điểm
thị trường trong nước của chủ đầu tư; các lợi thế của các nước đi đầu tư, điểm bất lợi; các
. Các sở Kế hoạch và Đầu tư của 5 tỉnh là cơ quan phối hợp trong việc tổng hợp, lưu
trữ, gửi số liệu về FDI, theo dõi các hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong phạm vi địa
phương mình quản lý.
. Cơ quan chịu trách nhiệm về xây dựng lộ trình, theo dõi giám sát và đánh giá lộ trình
chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu là Bộ Công Thương.
. Các Sở Công Thương của các tỉnh là các cơ quan phối hợp thực hiện, chịu trách
nhiệm triển khai lộ trình theo phân công chung của cả Vùng.
. Cần xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể trên cơ sở phân công một cách có hệ thống
nhằm tạo mối liên kết chung cho toàn Vùng và liên kết với các vùng kinh tế khác.
5.3.2. Điều kiện thực hiện các giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả FDI cho
chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu của vùng Duyên Hải Bắc Bộ, Việt nam:
1. Cần có tư duy, nhận thức đúng, đầy đủ đối với thu hút, sử dụng FDI và xử lý
các vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh từ FDI
Theo Nghị quyết lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chiến lược phát triển
kinh tế, xã hội đến năm 2020, Việt Nam cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại có tốc độ tăng trưởng kinh tế 7-8%/năm và phát triển bền vững.
Theo dự báo kinh tế thế giới và trong nước năm 2013 và năm tiếp theo vẫn gặp không
ít khó khăn. Tình hình nợ công ở châu Âu chưa có dấu hiệu sáng sủa và triển vọng tốt đẹp;
Nhật Bản vẫn đang tiếp tục khắc phục thảm họa của động đất, sóng thần; tình hình phục hồi
kinh tế Mỹ sau khủng hoảng tỏ ra mong manh khi các chỉ số kinh tế cơ bản còn hạn chế.
Trong khi đó, kinh tế trong nước vẫn rất khó khăn, giá cả một số mặt hàng tiếp tục gia tăng,
tình hình sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp đình trệ, việc làm và thu nhập của
người lao động đang suy giảm, không ít doanh nghiệp bị đóng cửa, phá sản…
Trong bối cảnh ấy, nếu các tỉnh trong vùng không có tư duy, nhận thức đúng, toàn
diện về thu hút FDI và không phòng ngừa, hạn chế các mặt trái nảy sinh từ FDI, thì hệ lụy sẽ
khó lường và khó khắc phục. Chính vậy, (1) Cần nhất quán trong nhận thức, tư duy: FDI phải
đáp ứng các mục tiêu đó, FDI nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của Vùng.
Chú trọng thu hút các TNC, đặc biệt là các TNC từ các quốc gia sở hữu công nghệ hiện đại,
công nghệ sạch, thân thiện môi trường, như, Mỹ, EU, Nhật Bản ;(2) Cần thay đổi tư duy đối
với FDI, không phải cứ nhiều FDI là tốt, mà phải sàng lọc, lựa chọn các dự án FDI đáp ứng
khẩu của Vùng; ví dụ như:
1. Cần tiến hành khảo sát điều tra, thu thập số liệu sơ cấp, để tính toán và đánh giá theo
chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (Reveal Comparative Advantage-RCA) của từng mặt hàng xuất
khẩu trong vùng; nhằm bổ sung cho việc phân tích có hệ thống và đầy đủ hơn về sự tác động
của đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở vùng
Duyên Hải Bắc bộ;
2. Nghiên cứu tiếp theo, có thể phân tích kỹ và đánh giá thực trạng về tác động của yếu
tố công nghệ của Đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chuyển dịch cơ cấu từng nhóm hàng xuất
khẩu./.
24
CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Ths. Nguyễn Thiên Sứ: Thực trạng và giải pháp tác động của Đầu tư trực tiếp
nước ngoài (FDI) đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu ở vùng Duyên Hải Bắc bộ, Việt
Nam. Tạp chí Khoa học & công nghệ - ISSN 1859-3585, Trường Đại học công nghiệp
Hà nội, Số 15.2013, trang 93 – 96 & 99, 2013.
2. Ths. Nguyễn Thiên Sứ, CN Đoàn Hải Anh và GS.TS. Đỗ Văn Phức: Đề xuất
phương pháp đánh giá và các yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo chuyên
ngành kinh tế công nghiệp. Tạp chí Khoa học & công nghệ - ISSN 1859-3585, Trường
Đại học công nghiệp Hà nội, Số 14.2013, trang 82 - 88, 2013.
3. Ths. Nguyễn Thiên Sứ, TS. Dương Đức Chính (Chủ nhiệm đề tài) và đồng
các tác giả: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực quản lý và sử dụng
công nghệ sạch tại các doanh nghiệp thuộc khu Công nghiệp miền Bắc, Việt Nam. Đề tài
Nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 2012. Biên bản nghiệm thu đề tài cấp Bộ năm 2012
của Hội đồng khoa học công nghệ. Bộ trưởng-Bộ Công thương, ban hành ngày 22 tháng
01năm 2013.
4. Ths. Nguyễn Thiên Sứ, TS. Dương Đức Chính (chủ nhiệm đề tài) và đồng
các tác giả: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với