phân tích tài chính và giải pháp nâng cao năng lực tài chính của công ty diana - Pdf 22

Báo cáo thực tập
LỜI NÓI ĐẦU
Quốc gia là một con thuyền, doanh nghiệp là những tay chèo, con thuyền đất
nước chỉ lướt tới đích nếu các tay chèo nhịp nhàng, phối hợp”. Đó là luận điểm của
Robert S.Kaplan – một giáo sư chuyên nghành kế toán & quản trị kinh doanh tại
trường đại học Harvard, là đồng chủ tịch cao cấp của tập đoàn Palladium Group và là
cha đẻ của mô hình Balarced Scorecard. Luận điểm đó được ông nêu ra trong buổi lễ
trao giải 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2009. Câu nói đó cho thấy mỗi
doanh nghiệp đều có vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Dễ thấy,
trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp không hoạt động đơn lẻ một mình mà có
quan hệ với các nhà đầu tư, các chủ nợ, các cơ quan quản lý nhà nước, khách
hàng….Các nhà đầu tư hiện hành hay tiềm năng khi quyết định đầu tư vốn vào doanh
nghiệp rất quan tâm đến khả năng sinh lời trên đồng vốn đầu tư và mức rủi ro khi đầu
tư vốn.Trong khi đó các chủ nợ lại quan tâm đến khả năng trả gốc và lãi của doanh
nghiệp có quan hệ tín dụng. Các cơ quan quản lý nhà nước lại quan tâm đến tình hình
hoạt động của doanh nghiệp để đưa ra các chính sách kinh tế - tài chính phù hợp, sao
cho doanh nghiệp phát triển đúng hướng và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước.
Như vậy các nhà quản trị doanh nghiệp và các bên có liên quan đều muốn biết
tình hình tài chính của doanh nghiệp như thế nào, cơ cấu vốn, khả năng sinh lời, khả
năng thanh toán….Để có câu trả lời cho vấn đề nêu trên họ phải thực hiện phân tích tài
chính của doanh nghiệp, do đó phân tích tài chính là khâu rất quan trọng trong hoạt
động của doanh nghiệp. Xuất phát từ những nhận thức đó cùng với thực tiễn của việc
phân tích tài chính ở công ty Diana nên khi thực tập tại đây em đã chọn đề tài “ Phân
tích tài chính và các giải pháp nâng cao năng lực tài chính của công ty Diana” làm
chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình với mong muốn đóng góp 1 số kiến giải nhằm
góp phần nâng cao năng lực tài chính tại công ty.
Sau thời gian kiến tập tại công ty Cổ phần Diana, được sự giúp đỡ tận tình của
Giám đốc công ty, ban lãnh đạo công ty cán bộ công nhân viên chức trong công ty và
đặc biệt là sự tận tình của PGS.TS Nguyễn Thị Phương Thảo giảng viên hướng dẫn
tôi, để tôi hoàn thành bán báo cáo này.
Trong thời gian đầu thực tập tại công ty, tôi xin trình bày nội dung bài: "Báo cáo

xuất mà sự vận động đó hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến tất cả các khâu của
quá trình tái sản xuất xã hội ( sản xuất – phân phối – trao đổi – tiêu dùng ). Nhờ sự vận
động của tiền tệ đã làm hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh ở
các khâu của quá trình tái sản xuất trong nền kinh tế thị trường. Những quan hệ kinh tế
đó tuy chứa đựng nội dung kinh tế khác nhau nhưng đều có những đặc trưng giống
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
2
Báo cáo thực tập
nhau mang bản chất của tài chính doanh nghiệp. Hệ thống những quan hệ kinh tế dưới
hình thái giá trị thuộc phạm trù bản chất tài chính doanh nghiệp bao gồm :
+Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước : Thể hiện thông qua việc nhà
nước cấp vốn cho doanh nghiệp ( đối với các doanh nghiệp nhà nước ); ngân sách nhà
nước mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh….cấp trợ giá cho doanh nghiệp khi cần thiết;
doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với nhà nước như các loại thuế, phí, và
lệ phí…
+Quan hệ kinh tế giữa các doanh nghiệp với nhau : Quan hệ giữa doanh nghiệp
với các tổ chức tài chính trung gian( như ngân hàng, quỹ tiền tệ ) với các cơ quan, tổ
chức kinh tế phi tài chính , với dân cư. Thể hiện thông qua các hoạt động như vay, cho
vay vốn, mua bán trao đổi cổ phiếu, trái phiếu, mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hóa
các vật tư máy móc phục vụ cho sản xuất, cung cấp các dịch vụ, chi trả tiền công, cổ
tức…
+Quan hệ kinh tế trong nội bộ doanh nghiệp : Quan hệ giữa doanh nghiệp với
các phòng ban, đơn vị sản xuất trong việc tạm ứng, thanh toán tài sản, thể hiện thông
qua các hoạt động tài chính như trả lương, thưởng, chi trả cổ tức cho các cổ đông, trích
lập quỹ của doanh nghiệp,…
Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc
lập chiếm địa vị chủ thể trong nền kinh tế, một mặt phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa
tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài chính quốc gia.
1.1.3. Sự cần thiết của phân tích tài chính trong nền kinh tế thị trường
Thông qua một hệ thống các phương pháp, công cụ, kỹ thuật phân tích giúp cho

Họ quan tâm tới an toàn trong đầu tư và mức lợi tức kỳ vọng được phản ánh thông qua
điều kiện tài chính của doanh nghiệp và tình hình hoạt động tài chính. Các nhà đầu tư
này quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp,
khả năng tăng trưởng và phát triển của doanh nghiệp, những rủi ro mà doanh nghiệp
có thể phải hứng chịu. Thông qua đó để họ đưa ra quyết định đầu tư một cách có hiệu
quả nhất: có nên bỏ vốn đầu tư vào doanh nghiệp hay không, nếu đầu tư thì với khối
lượng bao nhiêu và trong thời gian bao lâu?
1.1.3.3. Đối với người cho vay
Người cho vay là ngân hàng, các công ty tài chính… họ phân tích tài chính để
nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng. Khi quyết định cho vay thì một
trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu
hay không? khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào?
1.1.3.4. Các cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
4
Báo cáo thực tập
Cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế gồm: cục thuế, các bộ chủ quản, thanh tra,
cảnh sát kinh tế… Họ phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của doanh nghiệp có đúng chính sách
chế độ và luật pháp không, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
1.1.3.5. Các đối tượng khác
Phân tích tài chính cũng cần thiết với một số đối tượng khác như
- Người lao động (người hưởng lương trong doanh nghiệp)
- Bạn hàng của doanh nghiệp: cụ thể là các nhà cung ứng và các khách hàng
1.2. NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.2.1 Nhiệm vụ của phân tich tài chính
Nhiệm vụ của phân tich tài chính là làm rõ xu hướng tốc độ tăng trưởng, thực
trạng tài chính của doanh nghiệp đặt trong mối quan hệ giữa các doanh nghiệp tiêu
biểu cùng nghành và các chỉ tiêu bình quân nghành chỉ ra những thế mạnh và cả

1.2.3.1 Tài liệu phân tích
Phân tích tình hình tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng làm rõ
mục tiêu của dự đoán tài chính trong đó chủ yếu thông tin từ các báo cáo tài chính.
a) Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát toàn bộ
giá trị tài sản hiện có nguồn hình thành tài sản đó của doanh nghiệp tại một thời điểm
nhất định theo 2 cách phân loại là kết cấu vốn kinh doanh và nguồn hình thành vốn
kinh doanh.
Số liệu bảng cân đối kế toán cho biết toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh
nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và nguồn hình thành tài sản tài sản.
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán có thể nhận xét đánh giá khái quát tình hình tài chính
doanh nghiệp .
Bảng cân đối kế toán thường có kết cấu 2 phần:
+ Phần tài sản: Phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời
điểm lập báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được chia thành 2 phần: Tài sản lưu động và
đầu tư ngắn hạn, Tài sản cố định và đầu tư dài hạn.
+ Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có của doanh nghiệp
tại thời điểm lập báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của
doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng tại doanh nghiệp. Nguồn vốn
được chia thành nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
6
Báo cáo thực tập
Mỗi phần của bảng cân đối kế toán đều được phản ánh theo ba cột: Mã số, số
đầu năm, số cuối kỳ (quý, năm)
Nội dung trong bảng cân đối kế toán thoả mãn phương trình cơ bản.
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Ngoài hai phần tài sản và nguồn vốn, cấu tạo bảng cân đối kế toán còn có phần
tài sản ngoài bảng.

tiền trong kỳ tiếp theo của doanh nghiệp.
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động kinh doanh: Phản ánh toàn bộ đồng tiền thu
vào và chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như thu
tiền mặt từ doanh thu bán hàng, các khoản thu bất thường bằng tiền mặt khác, chi tiền
mặt trả cho người bán hoặc người cung cấp, chi trả lương, nộp thuế, chi trả lãi tiền
vay
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư phản ánh toàn bộ đồng tiền thu vào và
chi ra liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của đã nộp. Các khoản thu chi tiền mặt
như bán tài sản, bán chứng khoán đầu tư, thu nợ các Công ty khác, thu lại về phần đầu
tư. các khoản chi tiền mặt như mua tài sản chứng khoán đầu tư của các doanh nghiệp.
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: Phản ánh toàn bộ đồng tiền thu chi
liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp bao gồm các nghiệp vụ
làm tăng giảm vốn kinh doanh của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay
vốn dài hạn, ngắn hạn, nhận vốn góp liên doanh, phát hành trái phiếu
+ Có 2 phương pháp lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ là phương pháp trực tiếp và
phương pháp gián tiếp. Mỗi báo cáo lập theo phương pháp khác nhau thì tuân theo
nguyên tắc cơ sở số liệu và cách lập các chỉ tiêu khác nhau.
d) Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận lập thành hệ thống báo cáo tài
chính của doanh nghiệp được lập để giải thích bổ sung thông tin về tình hình hoạt
động của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà báo cáo tài chính không thể trình bày rõ
ràng và chi tiết được.
Thuyết minh báo cáo tài chính trình bày khái quát địa điểm hoạt động sản xuất
kinh doanh, nội dung một số chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng
tình hình và lý do biến động của một số đối tượng sản xuất và nguồn vốn quan trọng,
phân tích một số chỉ tiêu tài sản chủ yếu và các kiến nghị của doanh nghiệp. Cơ sở số
liệu lập thuyết minh báo cáo tài chính là các sổ kế toán kỳ trước báo cáo, bảng cân đối
kế toán kỳ trước báo cáo thuyết minh báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước.
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
8

Tuy nhiên, các đối tượng tài chính mà ta cần nghiên cứu, phân tích luôn luôn
biến động vì vậy phân tích tài chính không chỉ đơn thuần là việc tổng hợp và sắp xếp
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
9
Báo cáo thực tập
số liệu mà các nhà phân tích tài chính cần phải đặt một đống tượng tài chính này trong
mối quan hệ biện chứng với các đối tượng khác và trong mối liên hệ với các tài chính
các định mức tài chính va kinh tế.
Bước 4. Báo cáo kết quả phân tích.
Đây là bước cuối cùng trong quy trình phân tích tài chính. Các nhà phân tích
dựa vào kết quả thu được ở bước trên để đưa ra nhận xét đánh giá về kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông
qua đó để đưa ra được hoạt động trong thời gian tới để có thể phát huy được thế mạnh
của doanh nghiệp và khắc phục được những mặt yếu.
1.3 CÁC CHỈ TIÊU DÙNG TRONG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH ĐỂ
ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH
1.3.1 Năng lực tài chính
1.3.1.1 Khái niệm
Năng lực tài chính của doanh nghệp là khả năng đảm bảo về nguồn lực tài chính
cho doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có đủ năng lực tài chính là doanh nghiệp có đủ
điều kiện đảm bảo vốn cho doanh nghiệp tiến hành các họat động đầu tư, họat động
sản xuất kinh doanh hướng tới đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận hướng tới tối đa
hóa giá trị doanh nghiệp
Để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành các họat động sản xuất kinh doanh,
vốn là điều kiện không thể thiếu, nó phản ánh được nguồn lực tài chính được đầu tư
vào sản xuất kinh doanh. Trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, người ta
chú ý đến việc quản lý huy động và luân chuyển của vốn. Sức mạnh tài chính của
doanh nghiệp không chỉ do tiềm lực tài chính của chủ sở hữu doanh nghiệp quy định
mà ở mức độ lớn hơn, do uy tín của doanh nghiệp đối với các tổ chức tài chính, ngân
hàng quy định. Nếu có uy tín, doanh nghiệp có thể tìm kiếm được các nguồn tài chính

Mối qua hệ này không thường xảy ra vì không thể nào nguồn vốn chủ sở hữu có
đầy đủ để trang trải cho các tài sản cần thiết phục vụ cho quá trình kinh doanh của
doanh nghiệp mà doanh nghiệp phải đi vay hoặc chiếm dụng vốn của đơn vị khác. Do
đó mối quan hệ này thường xảy ra các trường hợp sau :
VẾ BÊN TRÁI > VẾ BÊN PHẢI
Trường hợp này doanh nghiệp bị thiếu nguồn vốn để trang trải tài sản nên để quá
trình kinh doanh không bị bế tắc doanh nghiệp phải huy động them nguồn vốn từ các
khoản vay hoặc đi chiếm dụng vốn của đơn vị khác dưới hình thức mua trả chậm hơn
so với thời hạn thanh toán.
VẾ BÊN TRÁI < VẾ BÊN PHẢI
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
11
Báo cáo thực tập
Trường hợp này doanh nghiệp thừa nguồn vốn sử dụng không hết nên sẽ bị
chiếm dụng từ bên ngoài.
Do tính chất cân đối của bảng cân đối kế toán là tổng số tiền phần tài sản luôn
luôn bằng tổng số tiền phần nguồn vốn. Nên quan hệ cân đối được viết một cách đầy
đủ như sau :
TÀI SẢN LƯU ĐỘNG ĐẦU TƯ VÀO NGẮN HẠN + TÀI SẢN CỐ ĐỊNH
ĐẦU TƯ VÀO DÀI HẠN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HỮU
TỔNG TÀI SẢN = NỢ PHẢI TRẢ + VỐN CHỦ SỞ HŨU
a) Phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
Quá trình kinh doanh diễn ra thuận lợi hay không, có hiệu quả hay không được
biểu hiện qua việc phân bổ và sử dụng vốn phải hợp lý, phân bổ hợp lý sẽ dễ dàng cho
việc sử dụng cũng như mang lại hiệu quả cao. Vì vậy việc nhận xét về quan hệ kết cấu
trên bảng cân đối kế toán sẽ giúp cho doanh nghiệp đánh giá kết cấu tài chính hiện
hành có biến động phù hợp với hoạt động doanh nghiệp hay không.
*) Phân tích kết cấu tài sản
Phân tích kết cấu tài sản là việc so dành tổng hợp số vốn cuối kỳ với đầu năm
ngoài ra còn xem xét từng khoản vốn của doanh nghiệp chiếm trong tổng số để thấy

năng cạnh tranh và mức kết quả của doanh nghiệp.
Lãi gộp : Là doanh thu trừ giá vốn hàng bán. Chỉ tiêu này tiến triển phụ thuộc
vào cách biến đổi các thành phần của nó. Nếu phân tích rõ những chỉ tiêu trên, doanh
nghiệp sẽ hiểu được mức độ và sự biến động của chỉ tiêu này.
Chi phí bán hàng : Là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, dịch vụ.
Chi phí quản lý kinh doanh : Là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động
quản lý kinh doanh, quản lý hành chính, và quản lý điều hành chung của toàn bộ
doanh nghiệp.
Tổng lợi nhuận trước và sau thuế : Là chỉ tiêu tổng hợp, tóm tắt bảng báo cáo
kết quả kinh doanh. Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất của doanh
nghiệp. Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
C)PHÂN TÍCH CÁC TỶ SỐ TÀI CHÍNH
C.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Tình hình tài chính doanh nghiệp đươc thể hiện khá rõ nét qua các chỉ tiêu và khả
năng thanh toán của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ảnh
mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong ký. Nhóm chỉ tiêu
này bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu sau :
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
13
Báo cáo thực tập
- Hệ số thanh toán ngắn hạn = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này là thước đo khả năng có thể tựu trả nợ trong kỳ của doanh nghiệp,
đồng thời nó chỉ ra phạm vi, quy mô mà các yêu cầu của các chủ nợ được trang trải
bằng những tài sản có thể chuyển đổi thành tiền phù hợp với thời hạn trả nợ.
Trong đó :
∙ Tài sản lưu động : Là tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong khoảng thời
gian dưới một năm. Cụ thể bao gồm những khoản tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, các khoản
phải thu, hàng tồn kho.
∙Nợ ngắn hạn : Là toàn bộ các khoản nợ có thời hạn trả nợ dưới một năm kể từ

nghĩa là doanh nghiệp chỉ góp một phần vốn nhỏ trong tổng số vốn thì rủi ro trong
kinh doanh chủ yếu do chủ nợ gành chịu.
- Hệ số thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/ lãi vay
Hệ số này cho biết vốn mà doanh nghiệp đi vay được sử dụng như thế nào để
đem lại một khoản lợi nhuận là bao nhiêu và có thể bù đắp tiền lãi vay hay không.
Trong đó :
∙Lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) phản ánh số tiền mà doanh nghiệp có
thể sử dụng để trả lãi vay trong năm.
∙Lãi vay là số tiền nợ vay trong năm mà doanh nghiệp phải trả có thể là lãi vay
ngân hàng hoặc các tổ chức khác.
Nhóm chỉ tiêu này còn bao gồm :
- Hệ số nợ vốn cổ phần = ΣNợ phải trả / ΣVốn chủ sở hữu
- Hệ số cơ cấu tài sản = TSCĐ hoặc TSLĐ / Σ Tài sản
- Hệ số cơ cấu nguồn vốn = ΣVốn chủ sở hữu / Σ Nguồn vốn
C.3 Nhóm chỉ tiêu về năng lực hoạt động
- Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán / Hàng tồn kho bình quân
Vòng quay hàng tồn kho càng cao chứng tỏ số ngày cho 1 vòng ngắn, càng tốt.
Tuy nhiên với số vòng quá cao càng thể hiện sự trục trặc trong khâu cung cấp hàng
hóa dự trữ không kịp cung ứng kịp thời cho khách hàng, gây mất uy tín doanh nghiệp.
- Vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần / TSLĐ bình quân
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ = Doanh thu thuần / TSCĐ bình quân
- Hiệu suất sử dụng tổng tài sản = Doanh thu thuần / ΣTSCĐ bình quân
- Kỳ thu tiền bình quân = Các khoản phải thu / Doanh thu bình quân 1 ngày.
Kỳ thu tiền bình quân : Là khoảng thời gian bình quân mà doanh nghiệp phải chờ
đợi sau khi bán hàng để nhận được tiền hay nói cách khác là số ngày mà doanh thu
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
15
Báo cáo thực tập
tiêu thụ bị dồn dưới hình thức khoản phải thu. Tỷ số này dùng đê đo lường khả năng
thu hồi vốn nhanh hay chậm trong quá trình thanh toán.

luồng tiền chủ yếu từ hoạt động kinh doanh gồm: tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch
vụ; tiền trả cho người cung cấp hàng hóa dịch vụ, tiền chi trả lãi vay, tiền chi trả cho
người lao động…
Phần 2: Lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động đầu tư là luồng tiền có liên quan đến việc mua
sắm, xây dựng, nhượng bán, thanh lý tài sản dài hạn và các khoản đầu tư khác không
thuộc các khoản tương đương tiền. Các luồng tiền chủ yếu từ hoạt động đầu tư gồm:
tiền thu từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và các khoản tài sản dài hạn khác;
tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào các đơn vị khác (trừ trường hợp tiền thu từ bán lại cổ
phiếu đã mua vì mục đích thương mại); tiền thu hồi cho vay (trừ trường hợp tiền thu
hồi cho vay của ngân hàng, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính); tiền chi mua
sắm, xây dựng tài sản cố định và tài sản dài hạn khác; tiền chi đầu tư góp vốn vào các
đơn vị khác (trừ trường hợp tiền chi mua cổ phiếu vì mục đích thương mại)…
Phần 3: Lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính
Luồng tiền phát sinh từ hoạt động tài chính là luồng tiền có liên quan đến việc
thay đổi về quy mô và kết cấu của vốn chủ sở hữu và vốn vay của DN. Các luồng tiền
chủ yếu từ hoạt động tài chính gồm: tiền thu từ phát hành cổ phiếu, nhận vốn góp của
chủ sở hữu; tiền thu từ các khoản vay ngắn hạn, dài hạn; tiền chi trả vốn góp của chủ
sở hữu, mua lại cổ phiếu của chính DN đã phát hành; tiền chi trả các khoản nợ gốc đã
vay…
Theo quy định, DN được trình bày các luồng tiền từ hoạt động kinh doanh, hoạt
động đầu tư và hoạt động tài chính theo cách thức phù hợp nhất với đặc điểm kinh
doanh của DN. Việc phân loại và báo cáo luồng tiền theo các hoạt động sẽ cung cấp
thông tin cho người sử dụng đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động đó đối với tình
hình tài chính và đối với lượng tiền và các khoản tương đương tiền tạo ra trong kỳ của
DN. Thông tin này cũng được dùng để đánh giá các mối quan hệ giữa các hoạt động
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
17
Báo cáo thực tập
nêu trên.

người tốt là tài sản của doanh nghiệp, là tiền đè cho doanh nghiệp phát triển vững
mạnh , củng cố năng lực tài chính của doanh nghiệp. Yếu tố hạn chế trong hầu hết mọi
trường hợp làm ăn kém hiệu quả chính là sự thiếu thốn vế chất lượng và sức mạnh của
nhà quản trị doanh nghiệp, không biết cách khai thác các nguồn nhân lực và sự lãng
phí về các nguồn nhân lực và vật lực.
Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, các doanh nghiệp đang rất quan tâm dến yếu tố
con người mà thông qua hệ thống quản trị tốt sẽ phát huy hết tài năng để đóng góp
thật nhiều cho sự tồn tại, phát triển lâu dài và ổn định cho doanh nghiệp
- Cơ chế quản trị tài chính
Các quyết định tài chính rất quan trọng đối với sự phát triển và thành công của
doanh nghiệp. Các chuyên gia tài chính của doanh nghiệp luôn phải đói mặt với 3 câu
hỏi, đó là :
o Trong rất nhiều các cơ hội đầu tư thì doanh nghiệp sẽ phải đưa ra quyết
định lựa chọn cơ hội đầu tư nào?
o Doanh nghiệp nên dùng nguồn tài trợ nào để tài trợ cho nhu cầu vốn đầu
tư đã được hoạch định đó?
o Doanh nghiệp nên thực hiện phân phối kết quả hoạt động đó như thế
nào?
Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền, câu hỏi thứ 2 liên quan đến việc huy
động vốn và câu hỏi thứ 3 liên quan đến sự kết hợp 1 và 2.
Như vậy nhà quản trị là đầu nối quan trọng giữa hoạt động của doanh nghiệp và
thị trường tài chính. Thị trường tài chính là nơi mà các nhà đầu tư nắm giữ tài sản tài
chính được phát hành bởi doanh nghiệp. Cầu nối này được thể hiện trong hình sau :
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
19
Báo cáo thực tập
Các hoạt động
của 1 công ty( Tất
cả các tài sản
thực)

+ Thay đổi lần 4 : Ngày 26/08/2003 về việc bổ sung tên, địa chỉ chi nhánh tại Hồ
Chí Minh.
+ Thay đổi lần 5 : Ngày 24/02/2004 về việc bổ sung nhành nghề kinh doanh.
Đến ngày 11/04/2007 Công ty chuyển đổi hình thưc kinh doanh thành công ty cổ phần
Diana theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số : 0103016721 do sở kế hoạch và
đầu tư TP.hà nội cấp.
Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN DIANA
Địa chỉ : Khu công nghiệp Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam, hoàng Mai, Hà Nội.
Điện thoại : 04-36445757 Fax : 04-36445777
MST : 0100507058
Số TK : 1420211-000230 tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triền nông thôn
chi nhánh Đông Hà Nội.
Công ty có chi nhánh tại 128C Phan Đăng Lưu, Phường , Quận Phú Nhuận, Tp Hồ
Chí Minh.
Và chi nhánh nhà máy giấy Tisiue tại KCN Tân Chi, Tiên Du, Bắc Ninh hiện đang bắt
đầu đi vào hoạt động.
1.2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA SẢN PHẦM CÙNG CÔNG NGHỆ SẢN
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
21
Báo cáo thực tập
XUẤT
Những sản phẩm đầu tiên của công ty Diana được đưa ra thị trường vào tháng
11/1997 với việc không ngừng áp dụng các công nghệ tiên tiến đi đầu thế giới vào sản
phẩm, Diana đã phục vụ tôt nhất nhu cầu người tiêu dùng trong các năm qua.
Công nghệ sản xuất sản phẩm băng vệ sinh (BVS) Diana là công nghệ ép chân
không. Ngay từ năm 1997 công nghệ này đã được áp dụng ngay vào sản xuất những
gói BVS Diana đầu tiên tại Việt Nam.Với công nghệ này sản phẩm BVS được cách
mạng một cách triệt để về độ dày , sản phẩm nhanh chóng chiếm được cảm tình của
đông đảo người tiêu dùng.
Tháng 6/1998 Diana đưa ra thị trường sản phẩm Diana Night dùng cho ban đêm

Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ nhất ngày 23/04/2007, vốn
điều lệ của công ty là 180 tỷ đồng với các cổ đông sáng lập như sau :
Ông Đỗ Minh Phú 4.000.000 cổ phần
Ông Đỗ Anh Tú 3.500.000 cổ phần
Bà Trung Thị Lâm Ngọc 2.500.000 cổ phần
Đến ngày 31/12/2007, danh sách các thành viên góp vốn vào công ty như sau :
Ông Đỗ Minh Phú 63.000.000.000 tỷ lệ 35%
Ông Đỗ Anh Tú 54.000.000.000 tỷ lệ 30%
Bà Trung Thị Lâm Ngọc 45.000.000.000 tỷ lệ 25%
Công ty CPCK Thiên Việt 18.000.000.000 tỷ lệ 10%
Cộng 180.000.000.000 tỷ lệ 100%
1.4 NGHÀNH NGHỀ HOẠT ĐỘNG – CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ
Theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần 5 ngày 24/02/2004,
nghành nghề hoạt động của công ty cổ phần Diana bao gồm :
- Sản xuất kinh doanh giấy và các sản phẩm từ giấy để phục vụ vệ sinh tiêu dùng.
- Sản xuất hàng may công nghiệp và hàng thủ công mỹ nghệ.
- Bán buôn tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng: các nghành hàng hóa mỹ phẩm,
giấy, băng vệ sinh, may công nghiệp và hàng thủ công mỹ nghệ.
- Đại lý gửi hàng hóa.
- Sản xuất kinh doanh hóa mỹ phẩm.
- Kinh doanh nhà nghỉ khách sạn.
Tuy nhiên hiện nay, công ty chủ yêu sản xuất và kinh doanh các sản phẩm tiêu
dùng như khăn, tã giấy, băng vệ sinh phụ nữ. Với giá thành hợp lý, tiện lợi, an toàn
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
23
Báo cáo thực tập
cho người sử dụng, phục vụ tốt cho nhu cầu của người già, phụ nữ và trẻ em trong các
Cơ quan, bệnh viện, trường học, gia đình …
PHẦN 2: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ CÁC CÔNG TÁC ĐƯỢC CHÚ
TRỌNG

xuất tiến tiến, phương pháp sản xuất khoa học vào loại bậc nhất hiện nay tại Việt Nam
trong nghành sản xuất các sản phẩm chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ, trẻ en và người
già.
Trang thiết bị hệ thống máy tính nối mạng các phòng ban, xưởng sản xuất để nâng cao
hiệu quả công việc. Những hệ thống thông tin liên lạc bằng điện thoại, máy Fax, rất
hiện đại giúp cho việc truy cập và thông tin liên lạc giữa các phòng ban tại văn phòng
chính với các văn phòng chi nhánh, hệ thống phân phối trên khắp mọi miền đất nước
cũng như các đối tác luôn luôn dễ dàng và tiện lợi.
3. ĐẶC ĐIỂM THỊ TRƯỜNG
Hệ thống phân phối của công ty được đặt trên 61 tỉnh thành phố trong cả
nước.Các sản phẩm BVS Diana và tã giấy Diana cũng đã có mặt trên thị trường quốc
tế như : Thái Lan, Malaysia, Philipin, Campuchia…Trong những năm qua nghành sản
xuất ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn, các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội hoạt
động cầm chừng và đang dần chuyển sang hình thức kinh doanh khác, trong hoàn cảnh
đó công ty đã khắc phục khó khăn, tích cực tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường,
đồng thời mở rộng sản xuất.
II. CÁC CÔNG TÁC ĐƯỢC CHÚ TRỌNG
1. CÔNG TÁC THU HÚT & ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
Tuyển chọn trực tiếp cán bộ quản lý và các sinh viên xuất sắc thông qua các
buổi giao lưu với sinh viên tại các trường đại học lớn tại Hà Nội.
Công ty luôn chú trọng đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, từ công nhân sản
xuất liên tục đựợc đào tạo để phù hợp với yêu cầu công việc ngày càng cao, cũng như
công nghệ ngày càng tiên tiến, cho đến đội ngũ cán bộ quản lý theo phong cách
chuyên nghiệp, ứng dụng khoa học tiên tiến vào quản lý. Từ khi thành lập đến nay
công ty đã luôn cử cán bộ đi học các lớp ngắn hạn, dài hạn về kế toán, các nghiệp vụ
hoặc mời các chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước về giảng dậy cho nhân viên.
SV: Vũ Thị Hoa - Lớp TCA K38
25

Trích đoạn HỆ SỐ THANH TOÁN LÃI VAY LƯU CHUYỂN TIỀN TỪ HĐ ĐẦU TƯ 1 Tiền chi mua sắm, XD TSCĐ và các TS dà
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status