Bộ tài nguyên và môi trờng
Viện KHOA HC địa chất và khoáng sản BO CO TNG KT
TI: nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học phục vụ
công tác đánh giá tác động môi trờng chuyên ngành
đối với các dự án khai thác lộ thiên
Ch nhim ti: MAI TH TON
Vin Khoa hc a cht v Khoỏng sn Ths. Mai Th Ton
hà Nội - năm 2007
2
BẢNG THỐNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT
ký hiệu Diễn giải
ANFO Ammonium NitrateFuel Oil (Hỗn hợp thuốc nổ amonit + dầu mỏ)
BOD
5
Biochemical Oxygen Demand (Yêu cầu oxy cho quá trình
sinh hoá trong 5 ngày)
BTC Bãi thải cố định
BTT Bãi thải tạm
BVMT Bảo vệ môi trường
CNH Công nghiệp hoá
CHLB Cộng hoà Liên bang
CHXHCN Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa
COD Chemical Oxygen Demand (Yêu cầu oxy cho phản ứng hoá)
DO Dissolved oxygen (Oxy hoà tan)
ĐTM Đánh giá tác động môi trường
GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
HĐH Hiện đại hoá
HTKT Hệ thống khai thác
KTLT Khai thác lộ thiên
KSCI Khoáng sản có ích
LKM Luyện kim màu
MXTL Máy xúc thuỷ lực
NPV Net Present Value (Giá trị hiện tại ròng)
SS Chất rắn lơ lửng
TLGN Thuỷ lực gàu ngược
TLGT Thuỷ lực gàu thuận
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG CỦA KHAI
THÁC LỘ THIÊN TỚI CÁC THÀNH PHẦN CỦA MÔI TRƯỜNG. 74
III.1. Phân loại tác hại của khai thác lộ thiên 74
III.2. Các hoạt động gây ô nhiễm từ các mỏ lộ thiên 76
III.3. Các tác động chính của khai thác lộ thiên tới môi trường 77
CHƯƠNG IV: NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT
TRONG KHAI THÁC LỘ THIÊN NHẰM BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 90
IV.1 Hạn chế sự chiếm dụng đất đai của khai thác lộ thiên. 90
IV.2. Tiết kiệm tài nguyên lòng đất 95
IV.3. Hạn chế sự suy giảm môi trường đất 95
IV.4. Phục hồi chức năng trồng trọt cho đất 101
IV.5. Hạn chế việc xả bụi, khí độc và tiếng ồn vào không khí. 104
IV.6. Xử lý nước thải trên mỏ lộ thiên. 114
IV.7. Xử lý quặng đuôi tuyển nổi và bùn tại hồ thải 121
IV.8. Tận dụng công trình mỏ cũ vào mục đích dân sinh khác. 123
CHƯƠNG V: PHỤC HỒI MÔI TRƯỜNG SAU KHAI THÁC 124
V.1.Công tác chuẩn bị 124
V.2.Khôi phục cải tạo khai trường 128
V.3.Chương trình phục hồi môi trường 135
V.4.Dự toán chi phí phục hồi môi trường 140
V.5. Ký quỹ môi trường 146
CHƯƠNG VI: LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI
TRƯỜNG CHO CÁC DỰ ÁN KHAI THÁC MỎ 155
VI.1. Các phương pháp được khuyến cáo áp dụng 155
VI.2. Phương pháp liệt kê danh mục (checklist methodologies) 155
4
và hoàn thiện môi trường kỹ thuật, môi trường xã hội (tạo dựng các tụ điểm dân
cư mới, nâng cao dân trí cho các cộng đồng dân cư vùng sâu, vùng xa); tạo công
ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động Bên cạnh sự đóng góp không nhỏ của
ngành KTLT đối với sự phát triển của xã hội nói chung, thì những tác động xấu
của nó tới môi trường cũng khá trầm trọng.
Sự đào bới bề mặt đất đai của KTLT đã phá vỡ các cảnh quan và địa mạo
nguyên thủy của khu vực, gây những xáo trộn về dòng chảy và chế độ thủy văn
đầu nguồn, tổn hại đến rừng phòng hộ, thay đổi cảnh quan khu vực,…
Khai trường, bãi thải, các công trình phụ trợ (mặt bằng công nghiệp, kho
tàng và nhà x
ưởng, đường giao thông,…) của mỏ lộ thiên chiếm dụng một diện
tích khá lớn (chỉ riêng các khai trường lộ thiên vùng Cẩm Phả chiếm 45.10
6
m
2
).
Sự chiếm dụng đó đã làm thu hẹp thảm thực vật, diện tích cây trồng - điều đó
không chỉ gây ảnh hưởng làm thay đổi vi khí hậu toàn vùng mà còn làm ảnh
hưởng đến tính đa dạng sinh học của môi trường. (Một số thực vật bị biến mất,
một số động vật bị tiêu diệt hoặc phải di cư do bị tước mất điều ki
ện sinh sống
hoặc bị chết).
Đặc điểm của KTLT là khối lượng đất đá thải rất lớn gấp hàng chục lần
khối lượng khoáng sản thu hồi (hệ số bóc của than hiện là 8-10m
3
/t hay là 11-
14m
3
/m
3)
về đánh giá tác động môi trường, đảm bảo thực hiện đúng các tiêu chuẩn môi
trường; phòng, chống, khắc phục suy thoái môi trường; đóng góp tài chính bảo
vệ môi trường, bồi thường thiệt hại do có hành vi gây tổn hại môi trường theo
quy định của pháp luật; tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản phải tuân theo
tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, bao gồm tiêu chuẩn môi trường trong khai thác
các mỏ lộ thiên và khai thác các mỏ hầm lò, Tiêu chu
ẩn khác về chất lượng
nước, không khí, độ rung, tiếng ồn,…
Các quy định về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), thẩm định, phê
duyệt các báo cáo ĐTM hoặc cam kết bảo vệ môi trường trong hoạt động
khoáng sản được quy định cụ thể trong Luật BVMT năm 2005, Nghị định
80/2006/NĐ-CP và Thông tư số 08/2006/TT-BTNMT ngày 08/9/2006 về việc
hướng dẫn và lập báo cáo ĐTM.
Trong quá trình thực thi Luật BVMT đã n
ảy sinh nhu cầu về việc cần có
những hướng dẫn chi tiết về lập báo cáo ĐTM riêng cho từng ngành, từng lĩnh
vực hoạt động kinh tế, năm 1999 Cục Môi trường thuộc Bộ KHCN và MT đã
ban hành “hướng dẫn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường dự án khai thác
chế biến đá và sét”-là một trong 8 lĩnh vực hoạt động kinh tế khác nhau có bản
hướng dẫn lập báo cáo ĐTM. Bản hướng d
ẫn đã trình bày một cách chi tiết và
đầy đủ nội dung cũng như phương pháp ĐTM cho một dự án khai thác chế biến
đá và sét như mô tả sơ lược dự án; khảo sát đánh giá hiện trạng môi trường nền;
dự án và đánh giá tác động của dự án tới môi trường, cuối cùng là chương trình
quản lý và quan trắc giám sát môi trường. Nhờ có bản hướng dẫn này mà những
báo cáo ĐTM của các dự án khai thác đá và sét trong thời gian qua
đã được trình
bày thống nhất về hình thức kết cấu, đầy đủ chi tiết về nội dung, giúp cho việc
thẩm định, phê duyệt của các cơ quan chức năng được thuận lợi và nhanh chóng
hơn, giúp cho các chủ đầu tư cũng như cơ quan tư vấn có cơ sở pháp lý để xây
lượng) khoáng sản trong quá trình khai thác cần được xem xét nghiêm túc hơn
so với các khoáng sàng đá văng bằng cách xem vấn đề tổn thất và sử dụng hợp
lý tài nguyên khoáng sản trong khai thác mỏ nói chung, khai thác lộ thiên nói
riêng là một tiêu chí môi trường khi đánh giá phê duyệt dự án. Mạnh dạn đình
chỉ những dự án áp dụng công nghệ gây tổn thất tài nguyên nhiều. Bởi lẽ dành
dụm tài nguyên để lạ
i cho các thế hệ mai sau cũng là một nội dung của chiến
lược phát triển bền vững mà các nước phát triển đang thực hiện.
Bên cạnh những vấn đề nêu trên, báo cáo ĐTM đối với ngành KTLT
cũng cần đề cập tới hiệu quả sử dụng đất của dự án, bởi vì không phải bào giờ
việc sử dụng đất vào việc khai thác khoáng sản cũng mang lại lợi ích lớn h
ơn so
với việc sử dụng chúng vào mục đích kinh tế khác (trồng trọt, du lịch,…).Sự
quan tâm này còn có tác dụng thúc đẩy các chủ dự án tiết kiệm diện tích đất đai
sử dụng, tìm tòi giải pháp thu hẹp diện tích đất đai chiếm dụng của dự án.
Tóm lại, trong hoạt động khoáng sản thì ngành KTLT là đối tượng chủ
yếu, có quy mô, số lượng lớn và ngày càng phát triển về phạm vi hoạt
động,
thiết bị sử dụng, nhân lực tham gia và cũng là đối tượng chính gây ra nhiều tác
động xấu đến môi trường. Để hạn chế và ngăn chặn tới mức có thể những tác
8
nhõn suy gim mụi trng t hot ng KTLT, bờn cnh nhng gii phỏp k
thut, cụng ngh l cỏc gii phỏp v qun lý, giỏo dc thụng qua cỏc lut v vn
bn phỏp quy di lut. cỏc bỏo cỏo TM ca cỏc d ỏn KTLT khụng mang
tớnh hỡnh thc, i phú, m thc s tr thnh mt b phn ca d ỏn u t, tr
thnh mt cụng c giỳp cho ch u t cng nh nh qun lý thc thi ngha v
v chc nng ca mỡnh trong trỏch nhim bo v mụi trng thỡ cn xõy dng
mt vn bn phỏp quy hng dn chi tit vic lp bỏo cỏo TM cho ngnh
KTLT (hin cha cú trong h thng vn bn nh nc), trong ú c bit quan
phi kim loi, vt liu xõy dng v than.
2. Cỏc vn bn phỏp quy v mụi trng cú liờn quan n ngnh khai thỏc
khoỏng sn.
9
3. Hiện trạng ĐTM trong ngành KTLT: triển khai thực hiện giải pháp
BVMT trên các mỏ lộ thiên, công tác quản lý môi trường trên các mỏ lộ thiên.
4. Những giải pháp công nghệ kỹ thuật trong KTLT nhằm bảo vệ môi
trường.
Báo cáo không đi sâu vào vấn đề ô nhiễm môi trường trên các mỏ lộ thiên
mà chỉ lồng ghép vấn đề này để làm sáng tỏ các mục tiêu trình bày trong các
phần thích ứng. 10
CHƯƠNG I:
HIỆN TRẠNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
I.1 Khái quát chung
Trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, công nghiệp
mỏ giữ vị trí quan trọng để phát triển các ngành kinh tế như năng lượng, xi
măng và vật liệu xây dựng, luyện kim đen và luyện kim màu, phục vụ xuất khẩu
với nguồn thu ngoại tệ lớn cũng như đáp ứng nhu cầu đời sống của nhân dân.
Công nghiệp mỏ Việt Nam bao gồm: ngành than (khai thác chế biến than
antraxit, than nâu, than mỡ, diệp thạch cháy); ngành quặng (khai thác chế biến
quặng kim loại: kim loại đen, kim loại màu, phi kim loại như sắt, mangan, titan,
crôm, bauxit, pyrit, đồng, chì, kẽm, thiếc, nikel, antimoan, moliđen, uranium,
vàng, bạc, đá quý, apatit, graphit, đất hiếm, thuỷ ngân); ngành vật liệu xây
dựng (khai thác chế biến các loại khoáng sản để làm vật liệu xây dựng như đá
vôi làm xi măng, sành sứ, v
ật liệu chịu lửa, cao lanh, thạch anh, amiăng, cát xây
11
- Khai thác quy mô cá thể, tự phát và thủ công tại những vùng có quặng là
hiện trạng rất phổ biến và mang tính hai mặt trong hoạt động khai thác khoáng
sản ở Việt Nam.
Giá trị tổng sản phẩm của các ngành công nghiệp mỏ trong tổng sản phẩm
toàn quốc (GDP) và giá trị sản xuất khoáng sản công nghiệp mỏ được trình bày
trong bảng 1.4 và 1.5
Bảng 1.1: Giá trị tổng sản phẩm của các ngành công nghiệp mỏ trong
tổng s
ản phẩm toàn quốc (Đơn vị GDP: 10
9
đồng)
Năm
GDP cả nước
(theo giá hiện
hành)
GDP công
nghiệp và xây
dựng
GDP của công
nghiệp mỏ
Tỷ lệ GDP công
nghiệp mỏ so
với cả nước (%)
1 2 3 4 5 = 4/2
1995 228.892 65.820 11.009 4,8
1996 272.037 80.876 15.282 5,62
1997 313.623 100.594 19.768 6,30
1998 316.016 117.299 24.196 6,70
1999 399.942 137.959 33.703 8,43
+ Quặng Crômit: Cho tới thời điểm hiện nay, công nghiệp khai thác, chế
biến quặng crômit tại mỏ Cổ Định tồn tại ở 2 dạng: khai thác quy mô công
nghiệp (sức nước, tàu cuốc) và khai thác thủ công (sức nước). Theo kết quả
thống kê, sản lượng quặng khai thác quy mô công nghiệp đạt cao nhất trong giai
đoạn những n
ăm 1960 ÷ 1964. Trong những năm từ 1995 trở lại đây, sản lượng
quặng khai thác quy mô công nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 20% trong tổng
sản lượng tinh quặng crômit hàng năm.
Mặc dù khai thác thủ công đem lại sản lượng đáng kể nhưng hậu quả để
lại cho môi trường, môi sinh là đáng kể và đã gây tổn thất tài nguyên khoáng sản
(không khai thác hết tầng quặng lớp dưới, hệ s
ố thu hồi khi tuyển thủ công
thấp…).
+ Quặng Bauxit: Công nghiệp khai thác bauxit và luyện nhôm ở nước ta
hiện nay chưa phát triển. Hiện chỉ có mỏ bauxit Bảo Lộc đang khai thác lộ thiên
bằng ôtô, máy xúc kết hợp với máy gạt và máy xúc tải, tuyển trọng lực rửa bằng
nước với quy mô vài chục nghìn tấn bauxit mỗi năm để cấp cho Công ty hoá
chất Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh làm phèn chua. Dự kiến trong thời gian
tới, tổ
hợp này sẽ tăng công suất lên gấp đôi.
Dự án khả thi xây dựng tổ hợp khai thác bauxit, sản xuất alumin và nhôm
Tân Rai Lâm Đồng với công suất 300.000 tấn/năm alumin và 72.000 tấn/năm
nhôm kim loại đã hoàn thành và đang trong giai đoạn phê duyệt. Dự án tiền khả thi
liên doanh với nước ngoài khai thác bauxit và sản xuất alumin Daknông Daklắc với
công suất 1.000.000 ÷ 2.000.000 tấn/năm alumin đang được triển khai.
+ Quặng kẽm chì: Hiện nay việc khai thác qu
ặng và luyện kẽm chì ở quy
mô công nghiệp tập trung ở Công ty LKM Thái Nguyên. Quặng ôxyt kẽm chủ yếu
được khai thác bằng phương pháp lộ thiên để sản xuất bột ôxyt kẽm với sản lượng
4.000 ÷ 5.000 tấn/năm. Quặng sunphua kẽm chì khai thác chủ yếu bằng phương
2
. Tổng sản lượng các sản phẩm từ khai thác quặng
titan hiện nay đã vượt trên chục vạn tấn/năm.
Công nghệ khai thác sa khoáng titan ven biển phát triển theo các giai
đoạn như sau:
- Giai đoạn trước năm 1990: Chưa hình thành ngành khai thác - chế biến
sa khoáng titan, trừ một số địa phương khai thác thủ công quặng giàu > 85%
khoáng vật nặng cung cấp cho sản xuất que hàn ở trong nước.
- Giai đoạn 1990 ÷ 1995: Hình thành nhiều xí nghiệp, công ty khai thác
chế
biến quặng titan. Tốc độ phát triển nhanh. Chủ yếu là khai thác, tuyển
thu hồi quặng tinh inmenhit, zircon và rutin, đáp ứng nhu cầu sản xuất que
hàn trong nước. Công nghệ khai thác chủ yếu bằng thủ công chọn lọc những
lớp quặng giàu 80÷85% khoáng vật nặng. Một số cơ sở khai thác thủ công
đưa về tuyển bằng bãi đãi, máng thủ công tách cát và thu hồi khoáng vật
nặng. Tiếp đó tuyển tinh bằng máy tuyển t
ừ, tuyển điện - bàn đãi thu các loại
quặng tinh inmenhit > 52% TiO
2
, zircon 55 ÷ 60% ZrO
2
, rutin đạt > 85%
TiO
2
.
- Giai đoạn 1995 đến nay: Đối với các mỏ lớn như Cẩm Hoà, Kỳ Khang,
Đề Di, Bàu Dòi, Chùm Găng đã áp dụng công nghệ khai thác cơ giới bằng máy
xúc - máy gạt, máy bốc, tập trung quặng về các cụm tuyển thô. Công nghệ tuyển
thô sử dụng phân li côn, vít đứng, v.v. tuyển tinh bằng tuyển từ, tuyển điện, bàn
đãi khí. Đã hình thành bãi thải trong, có quy trình hoàn thổ và sử dụng lại nước
+ Quặng vàng: Hiện nay một số xí nghiệp khai thác vàng trong nước và
liên doanh với nước ngoài quy mô nhỏ đang hoạt động, sản lượng khoảng 70
kg/năm. Công nghệ khai thác chủ yếu là thủ công kết hợp với cơ khí. Các xí
nghiệp khai thác vàng quốc doanh thường bị lỗ vì công nghệ lạc hậu, thiếu vốn,
thi
ết bị không đồng bộ, công tác quản lý kém. Hiện nay khai thác thủ công là
chủ yếu, chỉ khai thác quặng giàu, không có khả năng thu hồi được các nguyên
tố đi kèm và gây ô nhiễm môi trường.
+ Quặng antimon: Được khai thác ở mỏ Làng Vài - Tuyên Quang từ năm
1969. Sản lượng khai thác 50 ÷ 200 tấn/năm để sản xuất Sb kim loại. Tổng số
quặng đã khai thác khoảng 8000 tấn. Đến năm 1990 các thân quặng giàu đã khai
thác hết. Trữ lượng còn lạ
i có hàm lượng dưới 5% Sb, nên sản xuất không có lãi
phải tạm ngừng. Hiện tại xí nghiệp khai thác, tuyển, luyện antimon Hà Giang
của Công ty khoáng sản Hà Giang đã đi vào hoạt động vào đầu năm 2003. Công
suất thiết kế là 1000 tấn/năm antimon kim loại.
Nhu cầu antimon ở nước ta hiện nay khoảng 1000 tấn/năm chủ yếu dùng
làm hợp kim chì - antimon, dùng trong công nghiệp sản xuất ắc quy, hợp kim
chữ in, hợp kim chịu mài mòn và một phần nhỏ sunphát atimon dùng trong công
nghiệp thuốc nổ.
+ Quặng mangan: Được sử dụng chủ yếu cho sản xuất feromangan trong
ngành luyện kim và sản xuất pin. Mỏ mangan Tốc Tác, Trà Lĩnh - Cao Bằng hiện
đang khai thác lộ thiên thân quặng deluvi, công nghệ thủ công, khai thác tận thu với
công suất 12.000 ÷ 15.000 tấn/năm dùng cho sản xuất feromangan. Ngoài ra mỏ
15
Làng Bài - Tuyên Quang cũng được khai thác với sản lượng 2000 ÷ 2500 tấn
quặng tinh năm để phục vụ cho sản xuất pin.
+ Quặng đất hiếm: Công tác nghiên cứu khoa học công nghệ xử lý quặng
đất hiếm ở trong nước đã được triển khai từ cuối những năm 60. Ở quy mô
đạt 375 ngàn tấn/năm.
Ngoài hai vùng trên, cao lanh còn được khai thác ở Lào Cai, Hà Tĩnh,
Quảng Bình, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Khánh Hoà, Lâm Đồng. Tổng sản lượng
khoảng trên 100 ngàn tấn/năm.
Sản lượng khai thác tự do trong dân chúng hàng năm cũng vào khoảng
500 ngàn tấn, tập trung ở Đồng Nai, Sông Bé, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Phú, Yên
Bái, Quảng Nam.
Riêng quặng kaolin - pyrophilit khai thác ở mỏ
Tấn Mài - Quảng Ninh.
Đến năm 1994 đạt 27 ngàn tấn/năm. Từ năm 1997 trở lại đây, sản lượng tăng lên
tới 35 ÷ 50 ngàn tấn/năm, chủ yếu khai thác chọn lọc lấy quặng tốt để xuất khẩu
hoặc bán trong nước.
16
+ Quặng graphit: Nhu cầu sử dụng graphit ở nước ta còn nhỏ, chủ yếu
chỉ để sản xuất pin và điện cực. Dự báo năm 2005, nhu cầu graphit trong nước
sẽ có thể vượt trên 5.000 tấn/năm.
Các mỏ đang khai thác - chế biến graphit là Mậu A - Yên Bái, Nậm Thi
(Lào Cai), Hưng Nhượng - Quảng Ngãi. Công nghệ khai thác lộ thiên, được cơ
giới hoá bằng ôtô - máy xúc kết hợp thủ công chọn lựa trong khai thác để bóc
đấ
t đá vách và đá kẹp như ở Mậu A. Làm giàu quặng graphit bằng tuyển nổi.
Sản lượng graphit các năm gần đây (1995 ÷ 1998) đạt từ 1.450 ÷ 1.850 tấn. Mỏ
Nậm Thi (Lào Cai) từ trước năm 1996 đã liên doanh với Công ty Paslsa
(Australia). Trong nước hiện chưa có công nghệ tuyển để đưa hàm lượng cacbon
lên > 95%. Việc khai thác graphit cần tính đến công nghệ tận thu các khoáng sản
có ích đi kèm để tăng thêm giá trị kinh tế.
+ Quặ
ng Barit: Barit được khai thác từ năm 1939 ÷ 1942 ở khu núi chùa
Hà Bắc với 3.000 ÷ 4.000 tấn, năm 1965 ÷ 1978 xí nghiệp barium thuộc sở
n trực tiếp tạo ra VLXD như đá xây dựng, cát vàng,
17
cát đen xây dựng, sỏi cuội xây dựng; khai thác, chế biến và nung luyện tạo ra
sản phẩm VLXD như đá làm xi măng, đá làm kính xây dựng.
Trước thời kỳ đổi mới, khai thác và chế biến TNKS làm VLXD đều có
trang bị kỹ thuật kém, chủ yếu làm thủ công, tỷ trọng thiết bị máy móc trong các
mỏ vật liệu chỉ đạt < 50% và phần lớn là không đồng bộ.
Từ năm 1986 việc khai thác và chế biế
n tài nguyên làm VLXD bắt đầu
phát triển mạnh: từ chỗ khai thác TNKS làm VLXD thông dụng như xi măng,
gạch, ngói, đá, cát sỏi, vôi xây dựng,… đến nay chúng ta đã sản xuất được cả
các chủng loại VLXD cao cấp như gạch ceramic, gạch granit nhân tạo, sứ vệ
sinh, kính xây dụng, đá ốp lát,… Một số loại nguyên liệu và sản phẩm VLXD đã
được xuất khẩu ra nước ngoài như cát trắng, cát vàng, đá ốp lát, g
ạch ngói nung,
kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch ceramic và một số loại vật liệu trang trí hoàn
thiện khác.
- Đá vôi làm xi măng: Xi măng là chủng loại VLXD quan trọng nhất của
ngành xây dựng, do vậy việc khai thác và chế biến đá làm xi măng được quan
tâm số một của lĩnh vực xi măng.
- Đá vôi làm xi măng đòi hỏi hàm lượng: CaCO
3
≥ 96%; MgCO
3
≤ 1,5%.
Hiện nay, cả nước có 63 mỏ đá vôi với khả năng khai thác 16 ÷ 17 triệu
m
3
/năm để đảm bảo cho năng lực sản xuất 15,73 triệu tấn xi măng/năm. Trong
18
Cát xây dựng, đặc biệt là cát đen, phân bố tương đối rộng dọc các triền
sông suối. Năm 2001 cả nước đã khai thác 24,8 triệu m
3
cát vàng cho xây dựng
(chưa kể lượng cát cho ngành giao thông làm đường). Cát đen làm vữa xây và
để san lấp có số lượng lớn gấp 2 ÷ 4 lần số lượng cát vàng.
- Cát trắng (cát thủy tinh): Cát trắng ở Việt Nam dùng để sản xuất thủy
tinh có trữ lượng lớn, song loại có thành phần hóa học tốt nhất (không phải điều
chỉnh lại thành phần hóa học) có thể sản xuất được thủy tinh cao cấp là mỏ cát
trắng Vân Hải ở Miền Bắc và mỏ cát trắng ở Cam Ranh, Miền Trung.
- Đất sét phục vụ sản xuất xi măng: Đất sét là nguyên liệu cho sản xuất xi
măng chiếm khoảng 24% tổng số các nguyên liệu. Hiện nay có 64 mỏ sét được
khai thác phục vụ sản xuất xi măng. Các mỏ này có năng lực khai thác trên 7,65
triệu tấn/năm. Trong đó có 9 mỏ sét lớn phục vụ các nhà máy xi măng lò quay
với tổng nă
ng lực khai thác trên 5,76 triệu tấn/năm và 55 mỏ sét nhỏ phục vụ các
nhà máy xi măng lò đứng có tổng năng lực khai thác trên 1,35 triệu tấn/năm.
Theo nhu cầu sản xuất xi măng, các mỏ sét năm 2002 đã cung cấp đủ với khối
lượng đạt 9,313 triệu tấn sét.
- Đất sét làm gạch ngói nung: Gạch ngói nung là loại VLXD thông dụng
từ lâu đời và nhu cầu cho xây dựng các công trình công cộng và cho nhân dân
ngày càng phát triển, chỉ tính năm 2001 cả nước sản xu
ất được 8,471 tỷ viên
gạch và 467 triệu viên ngói và đã phải khai thác tổng cộng là 17,123 triệu m
3
đất
gạch ngói.
- Cao lanh: Ở Việt Nam có tới 203 mỏ cao lanh lớn, nhỏ nhưng theo
thống kê hiện mới có 17 mỏ được cấp giấy phép hoạt động. Sản phẩm cao lanh
3
. Hệ số bóc đất ở công
trường đất chịu lửa và công trường sét trắng của mỏ tương tự như nhau, trung
bình là 2,82 m
3
/tấn. Trữ lượng còn lại hiện nay 8.338.890 tấn. Hệ số tổn thất tài
nguyên của mỏ là 5%.
- Đá ốp lát: Hiện nay, sản xuất đá ốp lát của nước ta được tiến hành trên
15 tỉnh, thành phố, gồm 35 cơ sở với năng lực sản xuất đạt 1.260 ngàn m
2
.
Trong giai đoạn vừa qua, đã xuất khẩu đá ốp lát ra một số nước như: Nhật
Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Ả Rập Xêút, Canađa…, song với khối
lượng chưa nhiều do thiết bị sản xuất thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu
kỹ thuật của khách hàng.
+ Tình hình khai thác than: Ở Việt Nam khai thác than là ngành sản xuất
có quy mô công nghiệp lớ
n nhất trong lĩnh vực khai thác khoáng sản và tập
trung chủ yếu ở tỉnh Quảng Ninh, ngoài ra khai thác than còn được tiến hành ở
một số tỉnh miền Bắc và miền Trung.
Trong giai đoạn 10 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng sản lượng khai
thác than dao động từ 7,1% đến 37%, trung bình 15% năm. Năm 2004, toàn
ngành Than đã khai thác 27,3 triệu tấn than nguyên khai. Trong khai thác than
sử dụng hai công nghệ là hầm lò và lộ thiên.
Đối với công ngh
ệ khai thác lộ thiên, các thiết bị công nghệ tương đối
đồng bộ và hiện đại, đạt được sản lượng cao. Hiện nay sản lượng than lộ thiên
chiếm khoảng 64% tổng sản lượng khai thác than.
Theo dự báo hiện nay, nhu cầu than thương phẩm cho nội địa và xuất
khẩu đến năm 2010 khoảng 39 ÷ 42 triệu tấn, 2015: 48 ÷ 51 triệu tấn và 2020:
bụi từ 800
÷5000mg/m
3
, trong khi nếu máy xúc không làm việc nồng độ bụi chỉ
có 18,5 mg/m
3
.
- Các bãi thải, nhất là bãi thải nam mỏ Hà Tu, bãi thải mỏ Đèo Nai- Cọc
Sáu, cao hàng trăm mét, nằm sát khu vực dân cư khi bị xói mòn do gió thổi và
đổ thải tao ra lượng bụi rất lớn, phạm vi tác động rộng. Trong khi đó khu vực
đệm giữa bãi thải và khu vực dân cư chỉ hẹp khoảng 100
÷
200m chưa đủ để
ngăn chặn bụi lan toả.
- Việc tồn tại nhiều mỏ nhỏ, lộ vỉa (hợp pháp và không hợp pháp), vận tải
than bằng ô tô qua khu vực dân cư đã gây ô nhiễm thêm về bụi. Bụi sinh ra từ cá
hoạt động quy mô nhỏ tuy ít, nhưng do nhiều cơ sở nên tổng lượng bụi và nồng
độ bụi đủ để gây tác hại và tàn phá môi trường. Theo các số liệu thống kê khai
thác 1000 tấn than khai thác ở các mỏ hầm lò tạo 11
÷
12 kg bụi, khai thác lộ
thiên lượng bụi sinh ra lớn gấp hai lần.
Tổng lượng bụi sinh ra trong các công đoạn sản xuất chính (khai thác, vận
chuyển, sàng tuyển) năm 1995 với sản lượng than 7,5 triệu tấn, ước tính khoảng
340 tấn bụi, năm 1995 là 400tấn, năm 1998 là 484 tấn với tốc độ gia tăng sản
lượng than hàng năm trên 10%, tổng lượng bụi và nồng độ bụi chung của vùng
than Quảng Ninh cũng s
ẽ tăng nhanh theo thời gian và làm suy giảm chất lượng
khô khí toàn vùng.
Bảng 1.3: Tổng hợp chất lượng không khí tại các mỏ than lộ thiên
3
Ngoài khu
vực khai
thác than
4
÷
10
2800
÷
1500
88 12
14
÷
30
0,8 ÷0,2
13 ÷2 Khu vực
trung tâm
khai thác
đáy moong
130
÷
90
4200
÷
2,8 ÷1,5
18 ÷2,2
2,5
÷
0,5
Nơi đặt
thiết bị máy
móc
145
÷
50
4600
÷
2000
85 28
16
÷
22
3,8 ÷4,2
25 ÷2
4
÷
1
thống ít phải sửa chữa, dễ bảo qu
ản.
Khi so sánh với các thành phố công nghiệp và ven biển khác ở Việt Nam,
vấn đề chống bụi ở thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và các mỏ than vùng
Quảng Ninh được xem xét là trầm trọng do các hoạt động khai thác than quy mô
ngày càng lớn, khu vực bị ảnh hưởng rộng. Những giải pháp chống bụi đang
được áp dụng trong nhiều trường hợp chưa đáp ứng được tiêu chuẩn về sức khoẻ
và môi tr
ường hiện có.
Những số liệu về bụi, nhất là bụi lắng đọng chưa đủ cả về số lượng và chất
lượng để có thể xây dựng một chiến lược giảm thiểu bụi cho các mỏ cũng như
việc đánh giá mức độ ô nhiễm bụi do hoạt động khai thác mỏ so với các hoạt
động khác xảy ra trong khu vực.
b) Khí độc: Bao gồm hai dạng: Độ
chứa khí tự nhiên và phát sinh trong quá
trình sản xuất. Khí Mêtan (CH
4
) là khí đi kèm, chứa trong các vỉa than, trong
quá trình khai thác than, lượng khí này thoát ra và la toả vào không khí.
22
- Ở các mỏ lộ thiên, ngoài CH
4
có chứa trong tự nhiên còn có các loại khí
độc sinh ra do nổ mìn, đốt cháy xăng dầu của xe máy, than tự cháy vv nên
lượng khí độc ở mỏ lộ thiên lớn gấp nhiều lần so với các mỏ hầm lò.
Trong một năm mỗi xe ô tô loại tải trọng 30
÷
35 tấn, thải ra khoảng
100
càng sử dụng thiết bị cỡ lớn: máy xúc, ô tô, máy gạt, máy khoan, máy bơm nước
vv Các loại thiết bị này làm việc ở đáy mỏ thoát nhiệt vào môi trường rất lớn.
Các yếu tố ảnh h
ưởng đến chế độ nhiệt mỏ lộ thiên:
+ Năng lực bức xạ là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất do nước ta vùng nhiệt đới.
Bảng 2.4 giới thiệu kết quả đo đạc thời gian chiếu sáng trong ngày và lượng bức
xạ thực tế ở vùng Quảng Ninh.
Bảng 1.4: Kết quả đo đạc thời gian chiếu sáng:
Tháng
Các
Chỉ tiêu
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Cả
năm
Thời
gian
chiếu
sáng
ngày, giờ
10,52 11,2 11,52 12,3 13 13,16 15,18 12,44 12,1 11,34 11,02 10,44
Lượng
bức xạ
Kcal/cm
3
7,3 5,8 7,3 9,8 13,4 11,5 13,1 13 11,1 11,3 8,6 6,2 620,1
23
Trong những ngày mặt trời chiếu sáng, bề mặt lớp đất đá hấp phụ một phần
năng lượng làm tăng nhiệt độ đất đá, một phần phản xạ lại không gian, một phần
của người lao động. Máy càng rung càng nhanh chóng hỏng. Độ rung cũng gây
ra các loại bệnh cho con người như bệnh tiêu hoá, đau ngực, đau lưng, rối loạn
thần kinh, mất phản xạ, mất thăng bằng, thị lự
c giảm sút, triệu trứng về tim
mạch, suy nhược cơ thể, vv
* Môi trường nước
Hoạt động của sản xuất than có tác động mạnh mẽ đến chất lượng và lưu
lượng của nước mặt, nước ngầm và nước biển.
a) Suy giảm lưu lượng nước
b) Hệ thống thuỷ văn ở các khu vực có sản xuất than ở các khu vực có hoạt
động sản xu
ất than đã bị biến dạng mạnh mẽ về mọi phương diện: hình dáng,
độc lực dòng chảy, hệ thống bồn thu nước, mức độ liên tục của dòng chảy vv