Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
LỜI CẢM ƠN
Ngoài sự nổ lực và cố gắng của bản thân, trong quá trình thực tập tốt
nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, dạy bảo, động viên nhiệt tình của các
thầy cô giáo, gia đình và bạn bè.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng
dẫn TS. Nguyễn Văn Cương, người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình
thực hiện chuyên đề.
Tôi xin chân thành cảm ơn KS. Nguyễn Chí Dân và các thầy cô giáo
Bộ môn Di Truyền – Giống, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội đã tạo điều
kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn
ủng hộ, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua.
Mặc dù bản thân đã cố gắng hoàn thành chuyên đề thục tập trong phạm vi và khả
năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận
được sự cảm thông và tận tình chỉ bảo của quý Thầy Cô và các bạn.
Hà nội, ngày tháng năm 2010
Sinh viên
Trần Thị Ngọc
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
i
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
ii
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
DANH MỤC BẢNG
LỜI CẢM ƠN i
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
iii
cần có chiến lược lâu dài để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trong giai
đoạn trước mắt cũng như lâu dài. Việc nghiên cứu và sử dụng các giống năng
suất cao, chất lượng tốt đang được xem là một hướng đi quan trọng hàng đầu
đối với sản xuất lúa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh các giống
lúa thuần nước ta còn sử dụng lúa lai. Các giống lúa lai như tạp giao 1, Tạp
giao 2, Bùi tạp Sơn thanh,…. được nhập từ Trung Quốc, mang lại hiệu quả rõ
rệt về năng suất cho người trồng lúa. Tuy nhiên, sự phụ thuộc giống lúa lai
nhập nội gây ra không ít khó khăn như: nguồn giống không ổn định, giá giống
quá cao; nhiều năm bị sâu bệnh hại rất nặng, dẫn đến năng suất không đạt yêu
cầu mong muốn. Những khó khăn này thúc đẩy các nhà chọn giống tập trung
nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa mới chủ động hơn, thuận lợi hơn và an
toàn hơn. Một số giống lúa lai do Việt Nam chọn tạo và đưa vào sản xuất
như: các giống lúa lai Việt lai 20, TH 3-3, TH 3-4, Việt lai 24, HYT83,
HYT100,…;
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
1
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
Các giống lúa thuần chất lượng năng suất cao được chọn tạo như:
Hương Cốm; Giống lúa OM5464, OM8923, OM6677, OM6377, OM6976,
OM5981, OM6904; OM6932, TBR36, TBR45, BN3,…
Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng -Trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội đã và đang nghiên cứu chọn tạo ra các giống lúa mới. Mỗi
giống lúa mới được chọn tạo trước khi đưa vào sản xuất đại trà thì trước hết
cần phải tiến hành khảo nghiệm đánh giá những đặc điểm sinh trưởng phát
triển, khả năng thích ứng và tiềm năng cho năng suất của giống. Đây là một
trong những công việc rất quan trọng và có ý nghĩa cho sản xuất nhằm chọn
ra các giống lúa có khả năng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao, chất lượng
tốt. Để góp phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới của nông nghiệp Việt Nam,
chúng tôi đã thực hiện chuyên đề:
“Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của dòng lúa
rễ mộng, rễ này chỉ hoạt động một thời gian rồi chết đi và được thay thế bằng
các lớp rễ phụ. Rễ phụ được hình thành từ các mắt đốt gốc của cây, số lượng
rễ mọc từ các mắt đốt tăng dần theo thời gian sinh trưởng và phụ thuộc vào
kích thước và khả năng hoạt động của các lá tương ứng, những mắt đầu chỉ ra
được trên dưới 5 rễ, những mắt sau có thể đạt 5 – 20 rễ. Bộ rễ lúa có thể đạt
tới 500 – 800 cái, phân bố chủ yếu ở lớp đất 0-20cm. Ở giai đoạn đẻ nhánh,
hầu hết rễ tập trung ở lớp đất 10cm trên cùng, ở các giai đoạn sau có tới 92 –
95% số lượng rễ phân bố ở lớp đất từ mặt tới 20cm (Đinh Văn Lữ - 1978)
[11]. Ở cấc thời kỳ khác nhau thì sự phát triển của bộ rễ lúa cũng có sự khác
nhau, ở thời kỳ đẻ nhánh làm đòng bộ rễ lúa phát triển có dạng hình bầu dục
nằm ngang, ở thời kỳ trổ bông bộ rễ phát triển xuống sâu có dạng hình quả
trứng ngược.
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
3
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
Hasegawa (1963) làm thí nghiệm về bộ rễ lúa cạn Nhật Bản thấy rằng:
hai giống lúa cạn có bộ rễ ăn sâu hơn 20 cm trong khi chỉ có một vài rễ của
hai giống lúa nước tham gia thí nghiệm đạt đến độ sâu này [26].
IRRI (1975) [26] đã so sánh bộ rễ của 25 giống lúa với bộ rễ của ngô
và lúa miến, là hai loại cây trồng có khả năng chịu hạn khá hơn lúa. Tỷ lệ
rễ/thân lá của ngô (146mg/g) và lúa miến (209mg/g) cao hơn nhiều so với các
giống lúa. Tuy nhiên, giống lúa khác nhau thì tỷ lệ này cũng khác nhau.
Chẳng hạn, giống lúa mẫn cảm với hạn IR20 có tỷ lệ rễ/thân lá thấp nhất
(49mg/g) trong khi phần lớn các giống lúa chịu hạn (OS4, E425, Palawa,
Dular, M1-48 …) có tỷ lệ này gần tương đương với ngô (101-120mg/g). Tỷ lệ
rễ/thân lá của các giống lúa cạn cao hơn lúa nước và đáng tin cậy ở cả hai
điều kiện đủ nước và hạn.
* Thân lúa: Cây lúa có thân giả và thân thật. Ở thời kỳ lúa con gái thân nhìn
thấy trên mặt đất là thân giả do các bẹ lá xếp sít nhau tạo thành, thân giả
thường dẹt, xốp. thân thật chỉ xuất hiện từ khi cây lúa vươn đốt, thân thật gồm
bình thường như cây mẹ. Qúa trình phát triển của một nhánh lúa trải qua 4
giai đoạn: mầm nhánh phân hóa, nhánh hình thành, nhánh dài ra trong bẹ lá
và nhánh xuất hiện. Theo quy luật “cùng ra lá cùng đẻ nhánh của Katayama
(Nhật Bản) thì quá trình đẻ nhánh có liên quan chặt chẽ với quá trình ra lá và
khi lá thứ tư xuất hiện thì nhánh thứ nhất cũng bắt đầu xuất hiện [6].
Còn theo Bùi Huy Đáp, cấy một dảnh ngạnh trê và cấy thưa trong vụ
mùa, giống lúa tám có thể đẻ được 232 nhánh trong đó có 198 nhánh thành
bông. Vụ chiêm, giống Chiêm Chanh đẻ được 113 nhánh trong đó có 101
nhánh thành bông. Tuy nhiên trên đồng ruộng, nếu cấy 4 – 5 dảnh, khóm lúa
có thể đẻ 15 – 20 nhánh sau đó có thể cho 12 – 15 nhánh hữu hiệu [6]. Tổng
kết các kết quả nghiên cứu trên các giống lúa năng suất cao cho thấy: các
nhánh được sinh ra sớm lớn lên thành bông hữu hiệu , các nhánh đẻ sớm cho
bông to, các nhánh đẻ muộn cho bông nhỏ. Muốn có một khóm lúa tốt,ít
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
5
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
nhánh vô hiệu thì chỉ nên để cây mạ (hoặc cây lúa) đẻ dến nhánh thứ 3 với
giống ngắn ngày và nhánh thứ tư với các giống dài ngày [12]. Theo Nguyễn
Văn Hoan, 1995, nếu thâm canh mạ tốt, cây mạ đẻ sớm thì chỉ cần cấy 3 – 4
khóm mạ/khóm lúa với các giống ngắn ngày và chỉ cần cấy 2 – 3 khóm
mạ/khóm lúa với các giống trung ngày và dài ngày là vừa [12].
* Bông lúa: Bông lúa là bộ phận quan trọng nhất của cây lúa, là kết quả của
mọi hoạt động trong đời sống cây lúa. Một bông lúa gồm các phần cơ bản là
trục bông, gié cấp I, gié cấp II và các hoa lúa. Theo số lượng hoa trên các bông
người ta chia bông ra 4 nhóm: nhóm bông bé - số hoa/bông dưới 100, nhóm
bông trung bình số hoa/bông là 101-150, bông to - số hoa/bông là 151-200 và
bông rất to – số hoa/bông trên 200 hoa. Hiện nay các loại hình bông rất to, trung
bình tất cả các bông có thể đạt đến 300 hạt, ở bông chính (bông to nhất) có thể
đạt 600-620 hoa (Yuan Long Ping-1996, Nguyễn Văn Hoan-1999) [12].
2.2. Những nghiên cứu về thời gian sinh trưởng của cây lúa.
Dựa vào thời gian sinh trưởng, cây lúa được chia thành 4 nhóm sau:
- Nhóm cực ngắn nhày có thời gian sinh trưởng dưới 100 ngày.
- Nhóm ngắn ngày có thời gian sinh trưởng từ 101 - 120 ngày.
- Nhoám trung ngày có thời gian sinh trưởng từ 121 -140 ngày.
- Nhóm dài ngày có thời gian sinh trưởng 140 ngày trở lên.
Ở nước ta các giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng khoảng 90-
120 ngày, các giống lúa trung ngày có thời gian sinh trưởng dài 140 -160
ngày [6].
2.3. Những nghiên cứu về đặc điểm di truyền của cây lúa
2.2.1.Di truyền về chiều cao cây
Chiều cao cây của cây lúa là một đặc tính di truyền được quyết định
bởi số lóng kéo dài và chiều dài các lóng. Chiều cao cây ảnh hưởng tới đến
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
7
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
khả năng thích ứng của cây lúa ở các vùng sinh thái khác nhau đặc biệt chiều
cao cây còn quyết định tính chống đổ, khả năng chống úng và khả năng chịu
thâm canh. Guliaep (1975) xác định có 4 gen kiểm tra chiều cao cây. Khi
nghiên cứu các dòng lùn tự nhiên và đột biến có trường hợp do 1 cặp gen, có
trường hợp do 2 cặp gen và đa số trường hợp do 8 cặp gen lặn kiểm tra lá d
1
,
d
2
, d
3
, d
4
, d
5,
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
cho bông là những nhánh đẻ sớm có đủ thời gian để tích luỹ chất khô vào
trong thân lá. Ngoài ra qua các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tính đẻ
nhánh khoẻ di truyền bởi số lượng có hệ số di truyền từ thấp đến trung bình
và bị ảnh hưởng rõ rệt của điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật chăm bón [1]. Một
số nhà nghiên cứu khác cho rằng đa số giống lúa cổ truyền có khả năng đẻ
nhánh khỏe, khi lai chúng với dạng lùn để rút ngắn chiều dài thân thường
không làm giảm khả năng đẻ nhánh mà còn làm tăng lên [18].
2.2.3. Di truyền về bộ lá lúa
Qua nghiên cứu người ta thấy lá thẳng đứng được kiểm tra bởi một cặp
gen lặn có hệ số di truyền cao, cặp gen này có tác dụng đa hiệu vừa gây ra
thân ngắn vừa làm cho bộ lá đứng thẳng, cứng và ngắn. Độ dài lá có quan hệ
với các gen xác định chiều cao cây và còn bị chi phối bởi các điều kiện môi
trường. Độ dài lá có quan hệ chặt chẽ với tiềm năng năng suất lúa. Tính trạng
lá đòng dài di truyền độc lập với gen lùn kiểm tra độ dài thân và độ dài các lá
phía dưới [8].
2.2.4. di truyền về khả năng vượt nước sâu.
Khả năng vượt nước sâu của các giống lúa có giá trị với những vùng
đất ngập. Theo nhũng nghiên cứu của Jennings và cộng sự (1979) cho rằng;
Tính trạng vượt nước sâu của cây lúa do 2 hoặc 3 gen kiểm tra, tuy nhiên các
gen chịu ngập không cùng alen với các gen kiểm tra tính trạng vươn lóng
nhanh [8]. Khả năng vượt nước sâu liên quan tới tính trạng vươn lóng của
giống, qua phân tích diallel Bùi Chí Bứu, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Thị Lang
đã có nhận xét: có ít nhất 5 nhóm gen kiểm tra tính trạng chiều cao của giống
lúa nước sâu [20].
2.2.5. Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất.
Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất có tương quan thuận với
nhau, sự tương quan này còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh. Theo Yuan
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
9
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
10
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
Các kết quả nghiên cứu gần đây vẫn chưa thống nhất được về số gen
kiểm tra tính trạng nỗi nhũ trong, nhưng đều có nhận xét rằng sự di truyền
tính trạng này không quá phức tạp, có thể chọn được những cá thể phân ly hạt
gạo trong ở quần thể F
2
của lai đơn, ở F
1
của lai 3 hoặc lai trở lại. Đặc tính
gạo trong di truyền độc lập với các tính trạng nông sinh học khác [18].
* Chất lượng nấu nướng:
Đi sâu nghiên cứu về tính di truyền hàm lượng amylose chưa có kết quả
chính xác. Theo Jenning và cộng sự (1979) [32] cho rằng: “ do một cặp gen điều
khiển và hàm lượng amylose cao là trội hoàn toàn so với hàm lượng amylose
trung bình và thấp”. Hàm lượng amylose thấp và trung bình được điều khiển bởi
gen đơn tác động chính và một số gen nhỏ cũng tác động tính trạng này. Do vậy
muốn con lai có hàm lượng amylose trung bình thì một trong hai bố mẹ phải có
hàm lượng amylose trung bình (Jenning và cộng sự, 1979) [32]
Di truyền tính trạng hàm lượng amylose rất phức tạp vì nó có hai alen
(3n trong nội nhũ). Hàm lượng amylose cao được kiểm tra bởi một gen bổ
sung. Một vài nghiên cứu cho rằng hàm lượng amylose do đa gen kiểm soát
(Puri, 1980, N.T.Lang và B.C.Buu, 2004). Trong phân tích hệ di truyền của
hàm lượng amylose thì hàm lượng amylose ảnh hưởng cả hai nhóm alen cộng
tính và alen không cộng tính. Một số nhà nghiên cứu cho rằng hàm lượng
amylose có hiệu ứng cộng tính và không cộng tính [2]. Đi sâu nghiên cứu ở
cấp độ phân tử cho thấy hàm lượng amylose được tổng hợp bởi 1 enzyme gọi
là GBSSI (Kossmann và Lloyd, 2000; Smith và cộng sự, 1999) [28] Mặt
khác, enzym GBSSI được mã hoá bởi 1 gen kí hiệu là Wx nằm trên NST số 6
có những nghiên cứu đầu tiên về di truyền khả năng kháng bệnh bạc lá. Trong
khi nghiên cứu về sự luân chuyển các giống lúa trồng ở Nhật Bản, ông đã
phát hiện khả năng kháng bệnh bạc lá ở hai giống lúa trồng Kogyoku và
Kaganeman, được điều khiển bởi một gen trội nằm trên NST số 11. Hiện nay,
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
12
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
các nhà khoa học đã phát hiện được 29 gen kháng bệnh bạc lá lúa được ký
hiệu từ Xa1 đến Xa29, trong đó có 20 gen trội và 9 gen lặn. Hầu hết các gen
này đã được đánh giá khả năng kháng và được sử dụng trong chọn giống
kháng bệnh (Kinoshita, 1995; Sidhu và Khush 1978; Lin, 1996; Ogawa,
1988; Nagato và Yoshimura, 1998; Zhang, 1998; Khush và Angeles, 1999;
Gao, 2001; Chen, 2002; Lê, 2003; Yang, 2003; Tan, 2004) [29] [34] [35].
Gần đây, IRRI và một số nước phát triển đã phát hiện và chọn lọc
những gen chống bệnh ở lúa trong đó có bệnh bạc lá. Trên cơ sở đó, người ta
tạo ra những giống lúa có khả năng chống chịu được bệnh bạc lá và một số
loại bệnh khác nhanh hơn.
Ở nước ta trong khoảng 10 năm trở lại đây bệnh bạc lá phát sinh và gây
hại khá nặng ở các giống lúa vụ mùa nhưng gần đây lại có dấu hiệu phát sinh cả
ở vụ Xuân. Nguyên nhân là do chúng ta nhập nội và sử dụng quá nhiều các
giống lúa lai có nguồn gốc từ Trung Quốc có khả năng kháng bệnh kém.
* Di truyền kháng bệnh đạo ôn
Bệnh đạo ôn phát sinh phát triển khắp các vùng trồng lúa trên thế giới.
nó có nhiều chủng loại khác nhau, người ta đã phát hiện được gen chống bệnh
đạo ôn ở lúa, có thể là gen chính hoặc các locus tính trạng số lượng. Guliaep
(1975) đã xác định bệnh đạo ôn do nhiều chủng khác nhau gây nên, ở lúa khi có
3 cặp gen hiện diện là Pi1, Pi2, Pi3 thì có thể chống được bệnh này. Theo
Kinoshita (1991) và Mackill (1992) cho rằng ít nhất có 30 locus chống bệnh đạo
ôn trong đó có 20 gen chính và 10 gen giả định số lượng. Do có nhiều gen chống
bệnh đạo ôn nên công tác chọn tạo, lai tạo ra các giống chống bệnh đạo ôn rất
Tại cuộc hội thảo của các nhà di truyền chọn giống cũng như của các nhà
hóa sinh và hóa học hạt của các nước trồng lúa trên hành tinh được tổ chức
vào tháng 10 năm 1978 ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế IRRI đã phân chia
chất lượng lúa gạo thành 4 nhóm: Chất lượng xay xát, chất lượng thương
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
14
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
phẩm, chất lượng nấu nướng và ăn uống, chất lượng ăn uống, cho đến nay
bốn nhóm chất này đã được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu cũng như sản
xuất. Trong công tác lai tạo và chọn giống lúa, các nhà chọn giống rất quan
tâm đến các chỉ tiêu này để chọn tạo được các giống lúa thuần có chất lượng
cao [4]. Trong các tài liệu nói về chiến lược chọn giống lúa của IRRI (1989)
đã đề xuất hai hướng chính đó là: Chọn giống lúa lai và chọn giống lúa thuần.
Cả hai hướng này đều nhằm chọn ra những giống lúa có đặc điểm như:
- Có tiềm năng năng suất cao từ 12- 15 tấn/ha
- Có khả năng thích ứng rộng và ổn định về năng suất
- Có khả năng chống đổ tốt, chống rụng hạt.
- Chín sớm để tránh điều kiện môi trường khó khăn (bão, sâu bệnh).
- Chống chịu tốt với sâu bệnh
- Có chất lượng gạo tốt
Năm 2001, hướng chọn tạo một số đặc chủng chính của giống lúa kiểu
mới phù hợp với điều kiện thâm canh ở đồng bằng Bắc Bộ được đề xuất với
các chỉ tiêu sau:
- Chiều cao của cây từ 95- 105cm, có 5-6 đốt
- Thân cây cứng có khả năng chống đổ tốt
- Khả năng đẻ nhánh của các giống vừa phải. Khi cấy một dảnh các
giống đẻ toàn nhánh cấp 1 và cấp 2 không có nhánh vô hiệu ở vụ xuân đạt 6-9
nhánh/khóm, vụ mùa đạt 5-8 nhánh/khóm.
- Chiều dài bông đạt 25-26 cm, có 190-260 hạt/bông, tỉ lệ hạt chắc trên 90%
- Hệ thống rễ phát triển mạnh, thích ứng trên nhiều loại đất
ba giống này đều là giống truyền thống, [15].
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
16
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
Các nhà chọn tạo giống trên thế giới cũng đã quan tâm đến chất lượng
nấu nướng đối với các giống lúa cải tiến. Tuy nhiên, kết quả chọn tạo giống
lúa tẻ thơm chất lượng thường đạt thấp vì hầu hết các giống mang gen chống
chịu sâu bệnh đều có hàm lượng amylose cao và nhiệt độ hóa hồ thấp. Giống
lúa IR64 là giống lúa cải tiến có hạt dài, trong, có hàm lượng amylose cao và
nhiệt hóa hồ trung bình, được gieo trồng rộng rãi ở Châu Á. Hiện nay có hàng
loạt các giống lúa cải tiến được chọn tạo, có tiềm năng năng suất cao, chất
lượng gạo tốt đang được mở rộng trong sản xuất như: IR29723, IR42, IR50,
….Tại Trung Quốc, Nam Triều Tiên, Philippin và Srilanca trên 90% diện tích
trồng lúa là các giống lúa cải tiến.
Trên thế giới, các giống lúa chất lượng đã được quan tâm và xếp vào
các nhóm lúa đặc biệt. Ấn Độ, Bangladest, Pakistan là các nước có nguồn gen
lúa chất lượng phong phú, đáng chú ý nhất là giống lúa Basmati 370. Hiện
nay, các nước này đang tích cực thực hiện chương trình cải tiến giống lúa, tạo
ra các giống lúa mới có năng suất và chất lượng cao và mang gen chất lượng
của giống Basmati (Abbas S, Lanqui S.M.S, 1998).
Ở nước ta công tác chọn tạo giống lúa thuần chất lượng trong những
năm qua cũng đã được quan tâm nghiên cứu và đã đạt được những thành tựu
nhất định. Các tác giả Phạm Văn Siêu, Nguyễn Viết Minh, Dương Thành Tài
khi tiến hành đánh giá khả năng kháng rầy và bệnh đạo ôn của giống
KSB218-9-33 theo phương pháp phả hệ tại Đồng Bằng Sông Cửu Long đã
đưa ra kết luận: “Giống KSB218-9-33 có phản ứng ổn định với rầy nâu từ cấp
3- 5 qua nhiều đợt thử nghiệm từ năm 1990- 1993; Đối với bệnh đạo ôn giống
có phản ứng kháng cấp 3 trong nương mạ khô vào thời điểm dịch đạo ôn vụ
xuân năm 1991- 1992; Giống kháng được bệnh bạc lá, ít nhiễm khô vằn và
sâu đục thân; Giống tỏ ra thích nghi rộng, chịu hạn chịu phèn trung bình,
giống Quế chiêm tẻ: lúa thuần Trung Quốc có thời gian sinh trưởng cực ngắn,
thích hợp vụ mùa sớm trên chân đất 1 năm 3 vụ.
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
18
Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – LT2 KHCT
- DT47; giống cho trà mùa muộn năng suất cao, chống được úng, trũng,
chống đổ kém.
-ITA212: Chống chịu sâu bệnh (kháng đạo ôn), khả năng thích ứng
rộng[21].
Nguyễn Văn Hiển, Vũ Văn Liết và Vũ Thu Hiền 1999 [9], khi khảo sát
và chọn tạo một số dòng, giống lúa chất lượng, không phản ứng ánh sáng
ngày ngắn ở Gia Lâm- Hà Nội đã đưa ra kết luận:
- Các dòng CT1-A1,CT3-A3, IR63872, IR63881,IR63885 và IR65912
có chiều cao cây thấp làm vật liệu trong chọn giống để cải tạo chiều cao cây
của một số giống địa phương.
- Các dòng CT5-A1, IR57301, IR63872, IR65610-105, IR67413,-014,
IR67418-228 có chiều dài bông lớn và ổn định, có tiềm năng cho năng suất cao.
- Các dòng CT7-A1, IR59692, IR65610-105 có tính chống chịu sâu
bệnh và điều kiện bất thuận.
- Những dòng, giống có kích thước hạt đều,độ trắng,độ trong, cơm
ngon phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu là CTV-A1, IR53674, IR63889,
IR67413-44, CT5-A1.
Nguyễn Hữu Đống (2001) và Nguyễn Minh Công (2002) đã đưa ra
được một số dòng đột biến thuần của giống lúa tám thơm Nam Hà (Nam
Định), với diện tích gieo trồng lên tới vài trăm ha ở Bắc Việt Nam, năng suất
tuy vẫn thấp (27 – 31 tạ/ha), hạt vẫn nhỏ song có thể trồng 2 vụ /năm.
Trung tâm Hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh đã tạo ra được 2 dòng đột
biến của lúa tám có triển vọng là: Hạt nhân 9 có vỏ trấu nâu đậm, vỏ cám đỏ
và Hạt nhân 10 có vỏ trấu vàng tươi, vỏ cám trong. Cả hai dòng đột biến này
đều có dạng hình cây cứng khỏe, bộ lá xanh đậm, không rủ, bông to, cứng,
OM5464 90-95 102-104 25,1 7 cứng 6-7 RN (cấp 5) DO (cấp 3)
ít nhiễm VL-LXL)
hạn
OM8923 90-95 102-107 25,9 7 mềm 7-8 RN (cấp 3) DO (cấp 3-
5) ít nhiễm VL-LXL)
phèn
mặn
OM6677 90-95 107-116 27 7 mềm 6-7 RN (cấp 5) DO (cấp 5)
ít nhiễm VL-LXL)
phèn
mặn
OM6377 90-95 107-115 31 7 TB 6-7 RN (cấp 3-5) DO (cấp
3) ít nhiễm VL-LXL)
phèn
mặn
OM6976 95-
100
100-104 29,5 7 mềm 7-8 RN (cấp 3-5) DO (cấp
5) ít nhiễm VL-LXL)
phèn
mặn
OM5981 95-98 100-103 27,5 7 mềm 5-7 RN (cấp 3) DO (cấp 5)
ít nhiễm VL-LXL)
phèn
mặn
OM6904 85-90 94-99 27 7 mềm 6-7 RN (cấp 3) DO (cấp 3-
5) ít nhiễm VL-LXL)
phèn
mặn
OM6932 90 100-108 28 7 TB 6-7 RN (cấp 5) DO (cấp 5)
Giống lúa HT6 là giống lúa thơm, cơm dẻo, đậm, mềm và ngọt. HT6 có
TGST ngắn hơn các giống lúa chất lượng khác: Vụ mùa 102-105 ngày, vụ
xuân muộn 130-135 ngày. HT6 là giống cứng cây, chống đổ khá, kháng bệnh
đạo ôn khá, kháng bệnh bệnh bạc lá tốt; thích hợp với vùng thâm canh. Giống
lúa HT9 có TGST 132-135 ngày vụ xuân; 105-110 ngày vụ mùa; kháng tốt
với bệnh đạo ôn, bạc lá, chống đổ tốt. HT9 có hàm lượng Amyloza trung
bình, phẩm chất gạo ngon, cơm mềm.
Trường Đại Học Nông Nghiệp Khoa Nông Học
21