các trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại lý luận, pháp luật và thực tiễn tài phán - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN
TÊN ĐỀ TÀI:
CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ HIỆU
CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI: LÝ LUẬN, PHÁP
LUẬT
VÀ THỰC TIỄN TÀI PHÁN
Giáo viên hướng
dẫn:
Nguyễn Mai Hân
Sinh viên :Nguyễn Như Dạ Ngọc
MSSV : 5044052
Lớp:Luật thương mại_ K30
Năm học: 2008- 2009
MỤC LỤC
Trang
CHƯ
ƠNG
1: LÝ
LUẬN
VỀ
HỢP
ĐỒN
G
THƯ
ƠNG
MẠI
1.1

lược

2
1.1.2 Hình thành hợp đồng 3
1.1.3 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại 5
1.1.3.1 Năng lực chủ thể 5
1.1.3.2 Sự tự nguyện,tự do của các bên giao kết hợp đồng 7
1.1.3.3 Nội dung và mục đích của hợp đồng 8
1.1.3.4 Hình thức của hợp đồng 11
1.2 Sơ lược hợp đồng vô hiệu và phân loại hợp đồng vô hiệu 13
CHƯƠNG
2:
CÁC TRƯỜNG HỢP VÔ HIỆU
CỦA HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
2.1 Khái quát những qui định của pháp luật về các
trường hợp vô hiệu của hợp đồng thương mại 15
 Định nghĩa
2.2 Các trường hợp vô hiệu cụ thể của hợp đồng thương mại 16
2.2.1 Hợp đồng thương mại vô hiệu do vi phạm
điều cấm pháp luật, trái đạo đức xã hội 16
2.2.2 Hợp đồng thương mại vô hiệu do giả tạo 17
2.2.3 Hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ hình thức 19
2.2.4 Hợp đồng vô hiệu do người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực
hành vi dân sự xác lập, thực hiện 21
2.2.5 Hợp đồng vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa 22
2.2.5.1 Hợp đồng lừa dối 22
2.2.5.2 Hợp đồng vô hiệu do đe dọa 25
2.2.6 Hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn 27

LỜI MỞ ĐẦU
 Hiện nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật, nền kinh tế thế
nước ta phải phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc
lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa , bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc
văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường để tạo thêm uy tín và sức mạnh cho nước ta trên
trường thế giới.
 Tham gia sân chơi, khi Việt Nam là thành viên của tổ chức kinh tế thế giới
(WTO) và là thành viên không thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc; nền
kinh tế nước nhà cần phải vững mạnh, hệ thống pháp luật liên quan phải thông thoáng
nhưng chặt chẽ để các nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm, thu hút đầu tư. Hơn hết
các cá nhân, tổ chức, pháp nhân hoạt động thương mại cần thiết phải bản lĩnh, thông
minh và không chỉ dừng lại ở biết luật mà còn hiểu đúng, hiểu sâu và nắm bắt kịp thời,
chính xác các qui định pháp luật hiện hành để thu lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho chính
bản thân.
 Công cụ để xác lập quyền, nghĩa vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là hợp

N
G
T
H
Ư
Ơ
N
G
M

I
1.1 Sơ lược
về hợp đồng
và hợp đồng
thương mại
1.1.1 Khái
niệm
• Mối quan
hệ giữa hợp
đồng dân sự
và hợp đồng
thương m ại
Trong một
nền kinh tế
thị trường
vai trò của
hợp đồng
vô cùng
quan trọng,
đó là

đồng dân sự được áp dụng cho hợp đồng thương mại ( Hoa
Kỳ, Thụy Sĩ, Ý, Pháp).
Tuy nhiên , tại Pháp một số hợp đồng do mục đích của nó
được xem là hành vi
thương mại bị chi phối bởi các qui tắc của Bộ luật thương
mại.
Tại Việt Nam hai pháp lệnh nói trên nay đã bị bãi bỏ và
Bộ luật dân sự 2005 chỉ
còn dự liệu một lọai hợp đồng là hợp đồng dân sự. Tuy nhiên
luật thương mại công
bố ngày 27/06/2005 quy định một số giao dịch được xem là
hoạt động thương mại,
Điều 3 Luật thương mại 2005: “Hoạt động thương mại là
hoạt động nhằm mục đích
sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại
và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Các hợp
đồng thực hiện các hoạt
động thương mại này do Luật thương mại chi phối; do đó
chúng ta có thể tạm gọi
các hợp đồng này là các hợp đồng thương mại. Nhưng lợi ích
của sự phân biệt giữa
hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại chẳng còn là bao
khi mà ngày nay Bộ luật
Tố tụng dân sự Việt Nam 2005 đã qui tụ mọi tranh tụng về
một mối: Tòa
án dân sự
xét xử mọi
tranh chấp về
dân sự, thương

giữa người bán
là công ty sản
xuất và người
mua là công ty
kinh doanh xe
là hợp đồng
thương mại
Luận văn
tốt
nghiệp
Đại học
1
SV: Nguyễn Như Dạ Ngọc
GVHD: Nguyễn Mai Hân
đối với cả hai
bên; nếu nhà
sản xuất bán
chiếc xe ấy cho
một tư nhân
mua để sử
dụng thì hợp
đồng có tính
cách thương
mại đối với
người bán, còn
dân sự đối với
người mua; sau
đó nếu người
mua này bán lại
cho một tư

một có bản chất
thương mại,
một có bản chất
dân sự, và
nghiên cứu
chúng trong hai
lĩnh vực riêng biệt, một trong luật dân sự, một trong luật
thương mại. Mọi hợp đồng
cần được xem xét theo nguyên tắc đại tổng được qui định
trong Bộ luật dân sự vốn
vẫn được coi là luật chung áp dụng cho mọi giao dịch trong
xã hội. Tuy nhiên, theo
qui định của Luật thương mại, các hợp đồng thương mại
cũng bị chi phối bởi một
vài qui tắc khác với qui tắc chung liên quan đến vấn đề
chứng cứ và trách nhiệm
trong trường hợp vi phạm hợp đồng. Nhưng khuynh hướng
chung hiện nay của các
nền pháp luật trên thế giới là phải xóa bỏ ngay các sự khác
biệt này bởi lẽ các qui
tắc đặc thù của Luật thương mại nhằm đảm bảo sự an toàn
mau lẹ và trong các giao
dịch tỏ ra thích hợp hơn và cần được áp dụng cho mọi giao
dịch thương mại và dân
sự.(1)
Hiện nay, pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam nằm rải rác
trong rất nhiều văn
bản pháp luật có giá trị pháp lý cao thấp khác nhau và cũng
chưa có bất kì thử
nghiệm nào nhằm thống nhất hóa hệ thống các văn bản pháp

(1): Các hợp đồng
thương mại thông
dụng – Ts.Luật sư
Nguyễn Mạnh Bách
– NXB Giao thông
vận tải 2007
– Tr 5-7
(2): Trích trong
“Giáo trình luật dân
sự Việt Nam (quyển
2-tập 1)” - Trường
ĐHCT – Khoa luật –
Ts.Nguyễn
Ngọc Điện
chủ biên – Tr 4-
5
Luận văn
tốt
nghiệp
Đại học
2
SV: Nguyễn Như Dạ Ngọc
GVHD: Nguyễn Mai Hân
 Khái niệm
hợp đồng
Hợp đồng là
công cụ chủ
yếu để xác
lập quan hệ
giữa người

hành trên cơ sở
nguyên tắc
tự do kết ước
và những
nguyên tắc cơ
bản khác mà
xoay quanh
những nguyên
tắc
đó, một hệ
thống các quy
tắc pháp lý
được xây dựng
và tạo thành
luật về quan hệ
kết ước hay còn gọi là luật chung về hợp đồng.
• Vậy,hợp đồng là sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên
nhằm làm phát sinh,
thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ.
Để quan hệ hợp đồng được xác lập một cách có hiệu lực,
cần tồn tại các điều
kiện theo Điều 388 Bộ luật dân sự 2005
 Tồn tại một sự thỏa thuận
 Giữa các bên có thẩm quyền giao kết hợp
đồng
 Dựa trên việc thống nhất ý chí giữa các bên
 Mục đích của giao dịch phải hợp pháp
 Thỏa thuận được xác lập theo một hình thức
do pháp luật xác định
Chỉ những giao dịch hợp pháp mới làm phát sinh quyền,

kết hợp đồng và xác định rõ bên được đề nghị.
Nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng cần mang tính
xác định, cần mô tả các
nội dung được coi là chủ yếu của một quan hệ hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng nếu thỏa mãn yêu cầu theo
luật định sẽ có hiệu lực
vào thời điểm được gửi tới người nhận.
Luận văn
tốt
nghiệp
Đại học
3
SV: Nguyễn Như Dạ Ngọc
GVHD: Nguyễn Mai Hân
• Đối với đề
nghị giao kết
hợp đồng có
xác định rõ
thời hạn trả
lời:
Trong thời
hạn đề nghị
giao kết hợp
đồng có
hiệu lực,
người được
đề nghị có
quyền chấp
nhận, sửa đổi
hoặc không

của bên nhận
có thể ràng
buột bên đề
nghị bởi các
nghĩa vụ hợp đồng
và bên đề nghị giao kết hợp đồng không được mời người thứ
ba giao kết trong thời
hạn chờ đợi bên được đề nghị trả lời và phải chịu trách nhiệm
về lời đề nghị của
mình (Khoản 2 Điều 390 Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 )
• Đối với đê nghị giao kết hợp đồng không có xác định rõ
thời hạn trả lời:
Có thể nói đây là một thiếu sót trong một đề nghị giao kết
hợp đồng. Và theo các
nhà làm luật người đề nghị giao kết hợp đồng cần được bảo
vệ khi bên được đề nghị
cố ý trì hoãn việc trả lời. Không có lý do gì để bảo vệ cho
hành vi cố ý gây thiệt hại
của bên được đề nghị đối với bên đề nghị.
Có quan điểm cho rằng trong mọi đề nghị đều có thời hạn
hợp lý để chấp nhận,
thời hạn này nếu không được ghi trong đề nghị thì sẽ do tập
quán nghề nghiệp ấn
định. Luật thương mại 1997 qui định thời gian hết hiệu lực
của một chào hàng là
không quá 30 nếu chào hàng không xác định thời gian cụ thể,
điều này sẽ gây
những tổn thất và tranh chấp nếu hàng hóa giao dịch là nông
sản ngắn ngày ( ví dụ:
cà chua, đu đủ…). Luật thương mại 2005 đã thay đổi thời

hàng được bắt đầu
từ khi chào hàng
được gửi đi đối với
thư, điện
tín và từ khi chào
hàng tới nơi người
được chào đối với
các phương tiện
truyền thông tức
thời;thời hạn hiệu
lực của chào hàng
được người chào ấn
định hoặc là một
khoảng thời gian
hợp lý; chấp nhận
chào hàng có
hiệu lực kể từ khi nó
tới nơi người chào
hàng trong thời hạn
hiệu lực của chào
hàng”
Luận văn
tốt
nghiệp
Đại học
4
SV: Nguyễn Như Dạ Ngọc
GVHD: Nguyễn Mai Hân
Hợp đồng
hình thành

ngay có chấp
nhận hay không
chấp nhận, trừ
khi hai bên có
thỏa thuận với
nhau về
thời gian trả lời
( Điều 397 Bộ
luật dân sự
2005 )
Khó có thể
xác định khi
nào có sự
chấp nhận
mặc nhiên,
ngoại trừ
hai bên đã

quan hệ giao dịch từ trước: một nhà buôn tiếp tục nhận hàng
hóa của nhà sản xuất
mặc dù hợp đồng mua bán đã hết hạn và cần được tái tục
theo đề nghị của nhà sản
xuất.
Sau hết, một sự chấp nhận trong thời hạn nhưng có sự sửa
đổi đề nghị ban đầu
được coi là một đề nghị mới chứ không phải chấp nhận, một
sự chấp nhận trễ hạn
cũng được coi là một đề nghị mới.( Điều 395-397 Bộ luật
dân sự 2005 )
Ngoài ra theo Khoản 2 Điều 404 Bộ luật dân sự 2005 thì

đích phục vụ con người,
vì con người . Trong các mối quan hệ tài sản và nhân thân mà
luật dân sự điều chỉnh
thì cá nhân là chủ thể nguyên sinh, đầu tiên và các chủ thể
khác tham gia vào các
quan hệ dân sự cũng thông qua hành vi của con người. Để
tham gia vào quan hệ xã
hội nói chung và quan hệ dân sự, thương mại nói riêng, cá
nhân phải có tư cách chủ
thể để tham gia vào các quan hệ đó. Đó là năng lực chủ thể
được tạo thành
bởi năng
lực pháp luật
và năng lực
hành vi.
Luận văn
tốt
nghiệp
Đại học
5
SV: Nguyễn Như Dạ Ngọc
GVHD: Nguyễn Mai Hân
“Năng lực
pháp luật
dân sự của
các nhân là
khả năng
của cá nhân
có quyền và
có nghĩa vụ

pháp nhân
phát
sinh. Khác với
tư cách pháp
luật của cá
nhân, năng lực
pháp luật của
pháp nhân do
luật xác định về
nội dung, phù
hợp với đặc
điểm của từng
loại pháp nhân, thậm chí
với từng cá nhân của pháp nhân. Mỗi pháp nhân có những
mục đích xác định để
theo đuổi và, do đó, có khả năng có những quyền và nghĩa vụ
giới hạn bởi chính các
mục đích đó.
Mục đích của các pháp nhân tư pháp và pháp nhân hỗn
hợp được xác định trong
điều lệ pháp nhân. Bởi vậy, khi giao dịch với pháp nhân loại
này, người thứ ba,
muốn tránh khả năng giao dịch bị tuyên bố vô hiệu do không
phù hợp với mục đích
của pháp nhân đối tác, nên tham khảo điều lệ của pháp nhân
trước khi quyết định
nên hay không nên tiến hành giao kết. Cần lưu ý rằng người
thứ ba luôn ở trong tình
trạng buộc phải biết nội dung điều lệ của pháp nhân tư pháp,
bởi trong mọi trường

Ts.Nguyễn Ngọc Điện chủ biên
Tr 51-52
(3): Trích trong “Giáo trình Luật dân sự Việt Nam” - Trường Đại học Luật Hà Nội
– NXB Công an nhân dân
2004 – Tr 74
Luận văn
tốt
nghiệp
Đại học
6
SV: Nguyễn Như Dạ Ngọc
GVHD: Nguyễn Mai Hân
Ý chí phát
sinh nghĩa
vụ khi nào
các bên
giao kết có
đầy đủ năng
lực cần thiết
để tạo lập hợp
đồng. Mặt khác
người kí kết
hợp đồng nhiều
khi không cam
kết cho
chính mình mà
chỉ đại diện cho
một người khác
chiếu theo một
sự ủy quyền.

trên nguyên tắc
không có năng
lực kí kết hợp
đồng. Ngoài ra, những người bị bệnh tâm thần hoặc mắc
bệnh khác mà không thể
nhận thức được hành vi của mình, và các người nghiện ma
túy hay chất kích thích
khác có thể bị Tòa án ra quyết định tước bỏ hay hạn chế năng
lực hành vi ( Điều 22-
23 Bộ luật dân sự 2005 ).Người kí kết hợp đồng mà không có
năng lực hành vi dân
sự thì hợp đồng bị tuyên vô hiệu.
Khoản 2 Điều 139 Bộ luật dân sự 2005: “ Cá nhân, pháp
nhân, chủ thể khác có
thể xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thông qua người đại
diện. Cá nhân không
được để người khác đại diện cho mình nếu pháp luật qui
định họ phải tự mình xác
lập, thực hiện giao dịch đó”. Có hai loại đại diện: đại diện
theo pháp luật và đại
diện theo ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của người
dưới 18 tuổi, của
người mất trí là cha mẹ hoặc người giám hộ. Đại diện theo
ủy quyền xuất phát từ
hợp đồng ủy quyền, theo đó một người ủy quyền cho một
người khác để nhân danh
mình kí kết hợp đồng. Hợp đồng phát sinh hiệu lực đối với
người ủy quyền, còn
người được ủy quyền chỉ chịu trách nhiệm về việc thực hiện
hợp đồng ủy quyền.

1.1.3.2 Sự
tự
nguyện,t
ự do của
các bên
giao kết
hợp đồng
Bản chất
của mọi
giao dịch là
sự thống
nhất giữa ý
chí và bày
tỏ ý chí, cho
nên
sự tự nguyện
bao gồm các
yếu tố cấu
thành là tự do ý
chí và bày tỏ ý
chí. Không có
(1) Trích trong “Giáo
trình Luật dân sự
Việt Nam (tập 1 -
quyển 1)” - Trường
Đại học Cần Thơ –
Khoa Luật
– Ts. Nguyễn Ngọc
Điện chủ biên –
Tr51. 52

luật dân sự
2005
: Nguyên tắc tự
do, tự nguyện
cam kết, thỏa
thuận. Vi phạm
sự tự nguyện
của chủ
thể là vi phạm
pháp luật. Vì
vậy giao dịch
không có sự tự
nguyện không
làm phát
sinh hậu quả
pháp lý.(1)
Quyền tự do
của các bên
trong việc
quyết định
có tham gia
vào một
giao dịch cụ
thể và đồng ý
về các điều
khoản của giao
dịch đó hay
không là nền
tảng pháp lý của
nền kinh tế thị trường. Từng cá nhân có thể tham gia vào các

điều khoản nào của Công ước này”, Còn ở Việt Nam, Khoản
1 Điều 423 Bộ luật
dân sự 2005 có qui định: “Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi
hợp đồng và giải quyết
hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có qui
định khác”.
Tất nhiên tự do hợp đồng cũng có những giới hạn của nó.
Một hợp đồng được
xác lập trên cơ sở tự nguyện, tự do nhưng cũng phải đảm bảo
tuân thủ theo qui định
của pháp luật.
1.1.3.3 Nội dung và mục đích của hợp đồng
“Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà
các bên mong muốn đạt
được khi xác lập giao dịch đó” ( Điều 123 Bộ luật dân sự
Việt Nam 2005 ). Nội
dung của mọi giao dịch là tổng hợp các điều khoản mà các
bên đã cam kết, thỏa
thuận trong giao dịch. Những điều khoản này xác định quyền
, nghĩa vụ của các bên
phát sinh từ giao dịch. Mục đích và nội dung của giao dịch
có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Con người xác lập, thực hiện giao dịch luôn nhằm đạt
được mục đích
nhất
định. Muốn dạt
được mục đích
đó họ phải cam
kết, thỏa thuận
về nội dung và

hợp đồng mua
bán bao gồm
các điều khoản
như: đối tượng
(vật bán),
giá cả , thời
hạn, địa điểm,
phương thức
thực hiện hợp
đồng. Sự thỏa
thuận về các
điều khoản đó
lại nhằm đạt
đựơc mục đích
là quyền sở hữu
tài sản.
Để các giao
dịch có hiệu
lực pháp
luật thì mục
đích và nội
dung của
giao dịch
không trái pháp
luật, đạo đức xã
hội, nói cách
khác, các giao
dịch này không
vi
phạm điều cấm

chung được suy đoán).
Cũng vì ý chí tạo ra nghĩa vụ mà hợp đồng phải được tự do
giao kết. Cá nhân có
quyền tự do quyết định giao kết hoặc không giao kết hợp
đồng; có quyền tự do
quyết định hình thức và nội dung của hợp đồng.(2)
Thực ra, không có hệ thống luật nào thừa nhận giá trị
tuyệt đối của học thuyết về
tính độc lập của ý chí. Sự tự do trong xã hội có tổ chức luôn
mang tính tất yếu.
Trong luật Việt Nam hiện hành, tính độc lập của ý chí được
chấp nhận trong chừng
mực tôn trọng những giới hạn do luật thiết lập
Một hợp đồng bao giờ cũng bao gồm chủ thể và khách
thể. Chủ thể của hợp
đồng là các bên tham gia thực hiện cam kết, khách thể là nội
dung mà các bên cam
kết thực hiện, còn được gọi là mục tiêu hay mục đích của hợp
đồng. Khách thể của
hợp đồng phải có tính hợp pháp, có thể thực hiện được và có
hạn định rõ ràng.
Nội dung và mục đích của hợp đồng phải tuân thủ các qui
định của pháp luật,
đồng thời pháp luật cũng cho chủ thể có quyền tự do thể hiện
ý chí của mình trong
nội dung và hình thức của hợp đồng.
Tính độc lập của ý chí thể hiện trong nội dung của hợp
đồng (3) Chủ thể của
quan hệ pháp luật có quyền tự do giao kết hoặc không giao
kết hợp đồng. Quy tắc

SV: Nguyễn Như Dạ Ngọc
GVHD: Nguyễn Mai Hân
thì không chỉ
dựa vào ngôn
từ của hợp
đồng mà còn
phải căn cứ vào
ý chí chung
của các bên để
giải thích điều
khoản đó
( Ðiều 409
khoản 1 Bộ luật
dân sự 2005 :
“khi hợp đồng
có điều khoản
không rõ ràng
thì không chỉ
dựa vào ngôn
từ của hợp
đồng mà còn
phải căn cứ
vào ý chí
chung của các
bên để giải
thích điều
khoản đó”
). Nói chung,
không có quan
hệ kết ước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status